Showing posts with label kieu-thanh-que. Show all posts
Showing posts with label kieu-thanh-que. Show all posts

Sep 1, 2014

Những câu chuyện rất là khác


Không chỉ văn chương thường xuyên phải nằm ở những đoạn khác, đến cả lịch sử, cái thứ tưởng chừng đâu "khách quan" và "công bằng", lại cũng như vậy luôn.

Lịch sử nên là một chốn "thanh hoa" (xem thêm ở đây và ở đây :p), nhưng tôi thấy lịch sử giống một cái bể phốt hơn

.

Jul 3, 2014

Phê bình văn học Việt Nam trước 1945: lãng quên và tàn dư

Thời "tiền chiến" của văn chương Việt Nam, người ta thường cho đó là một giai đoạn rực rỡ, là cách mạng, là đỉnh cao. Nhưng với tôi, thời tiền chiến ấy là ngọn nguồn cho rất nhiều lãng quên, hiểu nhầm, và người ta luôn luôn có xu hướng nhìn nó rất méo mó.

Như trong lĩnh vực phê bình văn học: ngày nay Hoài Thanh cứ trở thành một khuôn mặt độc tôn một cách hết sức đáng ngờ. Rồi người hiểu biết hơn sẽ nói còn có Vũ Ngọc Phan, rồi Thiếu Sơn, vân vân.

Nhưng đâu phải là như vậy.

Ví dụ, Hoàng Ngọc Phách có thể như thế này, những thứ sau này rất ít người còn nhớ:


Thế cho nên, trong bài này, tôi sẽ "kể lại câu chuyện phê bình văn học Việt Nam trước 1945" thông qua một số nhân vật. Chỉ cần xem qua một cách thực sự nghiêm túc là biết, Hoài Thanh không thể là khuôn mặt độc tôn. Thậm chí, Hoài Thanh còn là một nhà phê bình thuộc "chiếu dưới", nếu như trong văn chương nói chung và phê bình văn học nói riêng có chiếu cói hay chiếu tatami.

May 29, 2010

Say sưa đạo văn





Đạo văn thời nào ở Việt Nam cũng là một vấn đề rôm rả. Mỗi thời kỳ lại có một người nổi bật lên như là champion về phát hiện, tố cáo, buộc tội đạo văn. Trước 1945 là Kiều Thanh Quế, Sài Gòn trước 1975 là Thế Phong, còn ngày nay là, chẳng nói các bác cũng biết, Nguyễn Hòa.

Đạo văn đủ mọi kiểu dạng đã được/bị nói quá nhiều rồi. Những cái tên trong lịch sử dính dáng tới mấy cái án đạo văn cũng không ít: Lưu Trọng Lư, Lan Khai etc. Thời Sài Gòn trước 1975 có mấy vụ cũng đình đám. Ở đây tôi nhắc tới hai vụ, vụ thứ nhất có thể gọi là đạo văn xuyên Nam-Bắc, vụ thứ hai thì chỉ có phạm vi trong miền Nam.

Hoàng Trọng Miên in bộ Việt Nam văn học toàn thư tổng cộng hai tập (mặc dù dự định ban đầu rất to tát) khoảng cuối những năm 1950, bộ sách được giải thưởng của nhà nước, có lời tựa của Tam Ích, nghe nói còn có sự "bảo kê" của Nguyễn Đức Quỳnh nữa. Kể từ đó đến nay, rất nhiều người đã nói bộ sách này (tập I, phần về thần thoại) đã đạo văn quyển sách Lược khảo về thần thoại Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi in tại miền Bắc năm 1956, bằng một cách nào đó đã "vượt tuyến" vào Nam.

Mar 10, 2010

02. Có mấy loại phê bình?

Phàm đã viết phê bình văn học, người ta không tránh được xu hướng, thậm chí là ham muốn, xếp loại các tác phẩm. Phê bình văn học gần như đồng nghĩa với sắp xếp, định giá, nhưng cũng có người nói rằng xét về từ nguyên, từ “phê bình” (critique) có chung gốc Latinh với từ “tội ác” (crime).

Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).

Jan 22, 2010

Cuộc tiến hóa của dịch sách tại Việt Nam


Việt Nam là đất nước của dịch sách, từ khi bắt đầu Quốc Ngữ đã như vậy. Tại sao và như thế nào thì chưa bàn đến, tôi chỉ thấy là những người gần đây cứ kêu ca về việc sách dịch lấn át sách trong nước trên thị trường xuất bản ắt hẳn đã quá coi thường việc xem xét lịch sử.

Cái ảnh trên (mượn từ trên Internet) chụp lại bìa một cuốn sách dịch, lần đầu tiên do Đời Nay in tại Hà Nội năm 1944, bản này là Đời Nay tái bản tại Sài Gòn năm 1970.

Trong sách là tác phẩm của các nhà văn như Alphonse Daudet, Eugène Dabit, Luigi Pirandello, Stefan Zweig, Somerset Maugham..., người dịch là Thạch Lam, Khái Hưng, Thế Lữ, Huyền Hà, Vũ Minh Thiều.

Từ những tờ như Nam Phong dấu ấn dịch thuật đã rõ ràng lắm rồi, rất nhiều tờ báo và tạp chí khác trước 1945 cũng liên tục đăng tải các bản dịch, phần lớn là đăng nhiều kỳ, từ tiểu thuyết Tàu tới tiểu thuyết Pháp.

Nhà văn Việt Nam suốt một thời gian dài trước đây ngoài kích thước nhà văn còn có kích thước của nhà dịch thuật. Đến giờ thì tình hình đã đổi khác rất nhiều. Người lạc quan sẽ nói việc dịch thuật được chuyên nghiệp hóa, người bi quan sẽ nói nhà văn bây giờ dốt, người trung dung sẽ nói nhà văn Việt Nam tự loại trừ kích thước dịch thuật đi để được tự là mình :))

Jan 7, 2010

Sách (IV) Nếu lỗi không là tại sách? Thì lỗi tại đâu?

Đợt hiu hiu lạnh này ối người ở cái đất Hà Nội máu lửa đổ đi tìm mua bộ sách Tam Quốc diễn nghĩa 13 tập, một bộ sách đặc biệt tái bản nhân dịp kỷ niệm 50 năm NXB Phổ Thông ở Hà Nội cho in, tức là dịp Bùi Kỷ đã hiệu đính bản dịch của Phan Kế Bính có từ trước đó. Theo Kiều Thanh Quế khi tổng kết về tình hình dịch thuật Việt Nam vào khoảng đầu những năm 1940, Phan Kế Bính trong văn tiểu thuyết Tàu có cỡ như là Trần Trọng Kim trong thơ Tàu (tập Đường thi của Trần Trọng Kim đã ra đời hồi đó, NXB Tân Việt, đẹp lung linh, bìa trông không khác gì tủ sách NRF của Gallimard, chắc cũng có chút ăn cắp ý tưởng).

Hồi này tình thân Việt Nam-Trung Quốc rất đậm đà, thành thử bộ sách ghi rõ đã hiệu đính theo bản tiếng Trung mới nhất tính tới thời điểm ấy, thậm chí còn thân tình hơn, các bạn Trung Hoa đã gửi trước cho Phổ Thông lời giới thiệu rất tỉ mỉ còn đang lên khuôn chưa kịp in vào sách Tàu.