Sep 22, 2011

(ghi chép biên tập) Dịch giả Nguyễn Khánh Long

Tôi giở lại các email cũ với anh Nguyễn Khánh Long. Tôi chưa bao giờ gặp (thật ra không phải gặp, vì tôi chưa gặp Nguyễn Khánh Long bao giờ, mọi việc đều qua email, tổng cộng chưa đến 50 cái, gần như thuần các chi tiết kỹ thuật) một ai khó tính và tỉ mỉ như anh Nguyễn Khánh Long nhưng cùng lúc lại rất dễ chịu trong trao đổi, bàn luận như vậy.

Có lẽ điều duy nhất ngoài phạm vi công việc cụ thể (việc biên tập bản dịch tiểu thuyết Vu khống và tập truyện ngắn Lại chơi với lửa) là lần tôi hỏi trước đây anh Nguyễn Khánh Long đã bao giờ in gì trong nước chưa. Câu trả lời là chưa bao giờ.

Đọc lại email cũ mới nhớ ra, hồi in Vu khống đã xảy ra vấn đề, kết quả là phải chuyển từ nhà xuất bản này sang nhà xuất bản khác để xin giấy phép. Những việc như thế không phải ngày nào cũng gặp, nhưng cũng không phải quá hiếm ở đây. Trong suốt khoảng thời gian kéo dài ấy anh Nguyễn Khánh Long cũng cực kỳ kiên nhẫn, sự kiên nhẫn giống hệt khi anh tỉ mẩn xem từng chỗ tôi đề nghị sửa chữa trong mấy bản dịch.

Sự cẩn thận của anh Nguyễn Khánh Long lớn đến mức nó tạo ra một áp lực mơ hồ, đến mức tôi đã thở phào khi đọc thấy câu cuối cùng trong email anh gửi cho tôi để trao đổi về công việc biên tập Vu khống: "Các trường hợp khác thì tôi thuận theo ý anh".

Sep 19, 2011

Trong vòng một cuộc đời

Năm năm gần đây, Philip Roth, một trong những nhà văn lớn nhất của nước Mỹ, thích viết tiểu thuyết ngắn. Trong số bốn tiểu thuyết ngắn viết trong giai đoạn này, Người phàm (Everyman) (2006) đã ra mắt bạn đọc Việt Nam (Thùy Vũ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2011).

Tài năng của Philip Roth không chỉ được thể hiện bằng danh sách giải thưởng dài đến khó tin (chỉ còn thiếu Nobel Văn chương) mà còn bằng một điều tiên quyết để một nhà văn thực sự trở thành vĩ đại: tài nắm bắt cuộc sống ở những điểm cốt yếu nhất. Philip Roth làm việc này với sự chuẩn xác và bình thản của một con người nhiều trải nghiệm, biết bỏ qua những nhao nhác thông thường của cuộc đời, bỏ cả hình thức tiểu thuyết đồ sộ trước đây từng giúp ông thu hoạch danh tiếng (nhất là loạt sách về nhân vật Zuckerman) để đến với một hình thức tiểu thuyết vô cùng gọn nhẹ và bình dị, nhưng làm người đọc hiểu rằng sự hiểu đời của ông sâu sắc đến khó ngờ.

Sep 17, 2011

đầy đủ cho một sự mưng mủ tuyệt vọng

Đến bài thứ mười rồi: mười ăn tám, mình mà oánh chứng khoán giờ phải giàu như anh Vượng anh Vũ rồi :p Các bác có đề tài nào hay không gà cho tôi đi, sắp hết zồi :((

-----------

Đọc báo, thấy một chuyên gia ngôn ngữ nói rằng tiếng Việt ngày càng dở. Mùa thu, mưa lạnh đã đủ khó thở, lại còn bao nhiêu vụ án rùng rợn xảy ra ở đây, ở kia, chưa biết chừng ở ngay bên cạnh nhà, rồi thật lắm điều khổ sở khác, giờ lại còn hở ra thêm thế này nữa: thứ ngôn ngữ ngày nào cũng phải dùng để nói năng hóa ra vô cùng dở. Mới trước đây không lâu thôi, một nhà ngôn ngữ học khác bảo tiếng Việt ngày càng dài, nôm na là không nén, mà rất “bở”, rất “xổi”. Không khoan nhượng nữa, mặt trận đã mở, và ta thấy nở tứ tung trên mặt báo từng xấp bản án nghiệt ngã hướng thẳng vào cái thứ đã trở nên rất khả nghi: tiếng Việt của ngày hôm nay, của một hiện tại vô cùng dở.

Đến là nhiều ý kiến của chuyên gia như vậy thì chắc là đúng rồi. Lòng đầy lo ngại, giải pháp khẩn cấp của tôi là đi ra quán bia ngồi uống hết cốc này đến cốc khác và không nói năng gì. Năng lực phòng chống sự xấu xí được tăng cường tối đa, tôi hài lòng oai vệ trong im lặng giữa láo nháo thực khách ẩm giả vung vít bao nhiêu ngôn từ là ngôn từ, dĩ nhiên toàn những ngôn từ rất dở.

Sep 16, 2011

Tâm sự của nước độc

khai quật đồ cổ :p

Những ngày cuối năm này bỗng nhiên thấy nhớ ông Nguyễn Tuân. Tôi bèn trang trọng kính mời tôi đi tìm ông ở trên giá sách. Nói nhớ ông Nguyễn Tuân là không chính xác, tôi chỉ nhớ Chùa Đàn, nơi có câu đề từ “Ai hát hay mà ai hay nghe hát” lấy lại từ một bài hát nói của Nguyễn Công Trứ.

Lay lắt một tập Chuyện nghề (NXB Tác phẩm mới, 1986; tôi vẫn thích nhìn vào trang xi nhê của sách in hồi đó, thường xuyên là các số có năm chữ số: lần này là “In 10.100 cuốn khổ 13×19”, rất không giống sách của bây giờ, nhiều khi chỉ có đìu hiu ba chữ số) nằm bên cạnh tập Mưa Thuận Thành. Tập thơ này tôi còn nhớ rất rõ mình đã mua nó (hay là cứu nó?) từ một gánh hàng đồng nát nào đó tình cờ gặp trên đường. Chắc là tôi cũng đã không mua nó, nếu như ở trang đầu tiên không có dòng chữ “Thân tặng” và chữ ký ở dưới đọc rất rõ là “Hoàng Cầm”, ghi thêm ngày tháng “1/91”. Giá của tập thơ này hình như chưa đến 500 đồng, nếu tính thị giá tương đương của bây giờ thì cũng rất rẻ mạt. Trong lịch sử văn học hiện đại, đã có chuyện Paul Theroux vì tình cờ phát hiện sách mình đem tặng Naipaul xuất hiện cả lố tại một hiệu sách mà đã trở thành một kẻ tử thù của “Sir”. Chắc là tôi cũng sẽ đỏ mặt một chút hoặc là cười một chút khi chính mình rơi vào cảnh tượng ấy. Rất may (hay không may) là tập Mưa Thuận Thành tôi tìm thấy trên vỉa hè lần ấy không ghi rõ tên người nhận của lời đề tặng.

Sep 14, 2011

Sách (XLIV) Thơm mãi

Hai quyển sách mới, rất là mới.

Thứ nhất là bản in lại cuốn sách rất ông cụ: Sử kí Thanh Hoa (Le Parfum des humanités). Bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, Đông Tây & NXB Lao động. Sách song ngữ, dĩ nhiên.

Nghĩa là in lại quyển này.

Bản 2011 này có "Lời giới thiệu" của GS Chương Thâu, dài hai trang.

Tôi thử giở cái trang mô phỏng bìa sách cũ, thấy ngay tên Xử lý Toàn vụ Toàn quyền Monguillot bị chép lại thành Mongullot. Điềm gở đây, mặc dù ngay trong trang bên cạnh có ghi rất rõ ràng đàng hoàng: "Tái bản theo đúng bản in lần thứ nhất".

Trang tiếp là tiếp tục lỗi: "A monsieur Maurice Monguillot [à chỗ này lại viết đúng tên Xử lý Toàn vụ Toàn quyền] Résident Supérieu [sic] au Tonkin Gouverneur Général P.I. de l'Indochine est dédié cet auvrage [sic] qui n'aurait pas été entrepris sans ses conseils et sans ses encouragements. E. V"

Mấy chữ mà hai lỗi.

Sep 12, 2011

CNHTXHCN [tiếp]

Sau Hội Nhà văn thì đến một cột chống khác của đời sống văn học nghệ thuật chúng ta trong suốt nhiều chục năm: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Các bác nên đọc bài dưới đây cùng bài đăng trên blog của bác Hoa Sơn luận kiếm.

Bài gốc: Jérôme Bazin, “Le réalisme socialiste et ses modèles internationaux”, Vingtième siècle. Revue d’histoire, 109, jan.-mar. 2011, p. 73-87.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và các mô hình quốc tế của nó

Jérôme Bazin

Một thứ nghệ thuật cộng sản quốc tế được xây dựng ở phạm vi như thế nào và đâu là các mô hình của nó? Tác giả tìm cách trả lời những câu hỏi đó bằng cách tập trung vào phân tích các môn nghệ thuật tạo hình của Đông Đức. Thông qua nghiên cứu các catalogue triển lãm, nhiều tài liệu lưu trữ đa dạng và các cuộc phỏng vấn, ông cho thấy vai trò cốt yếu của “các chủ nghĩa hiện thực ngoại vi” (hội họa Ý và Pháp và nghệ thuật tranh tường Mexico) trong việc xây dựng một thứ nghệ thuật cộng sản.


“Nghệ thuật thuộc về quần chúng. Phải bám rễ càng sâu càng tốt vào các khối quần chúng lao động. Phải được quần chúng lao động thấu hiểu và yêu mến[1]”. Những lời châu ngọc mà Clara Zetkin bảo là của Lênin đã được nhắc đi nhắc lại ở rất nhiều vùng trên thế giới trong thế kỷ XX. Vừa hống hách vừa thiếu chính xác, những lời này đặt ra các câu hỏi nhiều hơn là ấn định một thứ giáo điều. Chúng lại càng mơ hồ hơn vì phải được áp dụng vào mọi hình thức biểu hiện nghệ thuật (văn học, âm nhạc, nghệ thuật hội họa, v.v…) và không hề cung cấp một chỉ thị bắt buộc nào (ngay cả khi người ta biết rằng Lênin rất thích nghệ thuật hàn lâm thế kỷ XIX). Vậy là các phong trào nghệ thuật rất khác nhau tự khoác lên cho mình sứ mệnh hồi ứng những lời hiệu triệu của Lênin: từ chủ nghĩa xây dựng [constructivisme] của những năm 1920 cho tới một số tác phẩm trình diễn những năm 1960 và 1970, rồi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Như vậy đường hướng chính của nghệ thuật cộng sản là đòi hỏi đáp ứng “quần chúng”, mong muốn của nó trong việc xử lý các mối liên hệ xã hội. Ngoài nguyên lý này dần dà còn có thêm các đặc điểm khác nữa: một sự sùng bái biểu tượng [iconographie] (hình tượng con người tranh đấu và hình tượng công nhân, khung cảnh công nghiệp, lá cờ đỏ, v.v…), các thực hành nghệ thuật (lao động với những người không chuyên và với những người xa lạ với thế giới nghệ thuật), các thái độ chính trị (lòng trung thành với đảng và công khai bày tỏ thiện cảm với đảng) và cuối cùng là một hình thức tạo hình, chủ nghĩa hiện thực, cái kể từ những năm 1930 đã trở thành hình thức duy nhất được các đảng cộng sản bảo vệ. “Chủ nghĩa hiện thực” được ấn định như là thuật ngữ chứa đựng đòi hỏi tiên quyết là phải đi sâu vào quần chúng.

Sep 9, 2011

không biết làm gì thì


Khi không biết làm gì, có người rất ầm ĩ như là đi vào quán karaoke hoặc ra đường đua xe, có những người yên tĩnh như là đọc sách hoặc thậm chí rất yên tĩnh: im lặng không làm gì cả. Những điều đó tôi hiểu được, mặc dù khi không biết làm gì, thường thì tôi đi uống bia. Tôi cũng đã quen với cách xử lý của đạo diễn phim truyền hình Việt Nam, những lúc cô gái thôn quê trong phim không biết làm gì (tức là đạo diễn không biết phải làm gì - và điều này rất hay xảy ra), cầm chắc là ngón chân cái của cô di di trên mặt đất, cô sẽ cúi đầu mắt chớp chớp mân mê cái gấu áo hoa cổ cánh sen cài khuy giữa, rồi cô từ từ (cũng có lúc rất đột ngột - tùy tâm trạng của cô, hay nói đúng hơn là tùy ngẫu hứng của đạo diễn) ngẩng đầu lên nhìn xa xăm, rồi bỗng hiện lên một dòng sông thật là mênh mang, rồi mấy câu hò chèo đò thật là tha thiết.

Nhưng cũng trên truyền hình, còn có một cách khác rất phổ biến để xử lý những lúc “không biết làm gì”. Cũng là đồng nghiệp với nhau, nhưng cách thức giải quyết thời gian chết của những người dẫn chương trình trò chơi truyền hình khác hẳn kiểu cô thôn nữ nhiều e ấp và sôi nổi sóng ngầm trong lòng kia. Các trò chơi trên truyền hình Việt Nam (ôi nhiều vô kể) rộn ràng không chỉ vì có rất nhiều món hàng cần đoán cho đúng giá, rất nhiều ô chữ cần giải vừa nhanh vừa chính xác, mà còn vì một sáng kiến rất vĩ đại.