Showing posts with label emile-zola. Show all posts
Showing posts with label emile-zola. Show all posts

Jun 24, 2026

Trong nhà: Bösendorfer và Les Rougon-Macquart


Quyển sách này bỗng rơi vào tay tôi

(trường hợp hơi giống: nhưng ở đây, sự tình cờ lớn hơn nhiều; chính sự tình cờ ấy là thứ tạo ra một cái gì đó giống như sức ép, và nó không hề yếu)


(từ nhà kia đến nhà này: đều là nhà "vide")

cho nên tôi đọc nó:

Feb 7, 2015

Houellebecq và Huysmans

Kể cả khi tác phẩm không còn sắc bén như trước đây, Michel Houellebecq vẫn đủ sức làm một số điều không ai làm được: lần này là xuất hiện đúng lúc, giữa tâm điểm cuộc lộn xộn xung quanh Charlie Hebdo. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của Houellebecq, Soumission, cho thấy một nhà văn nhất quyết đứng về phía xì căng đan có thể giỏi chọn thời điểm như thế nào.

Jan 29, 2010

Sách (VII): Bad Scott & Napônêông


+ Sau Hội hè miên man, lại có thêm một tác phẩm nói không hay ho gì về Scott Fitzgerald, là cuốn tiểu thuyết Alabama Song của Gilles Leroy. Ở đây tác giả lấy giọng của Zelda Fitzgerald để miêu tả một Scott Fitzgerald bất tài, ăn cắp văn của vợ, đồng tính, xấu xa etc. Chuyện chồng ăn cắp văn của vợ, tức là vợ viết rồi chồng ký tên, đã từng xảy ra chẳng hạn như ở cặp Willy-Colette hồi đầu thế kỷ XX. Alabama Song mới là quyển được giải Goncourt 2007, chứ không phải quyển này. Chuyện tôi đã nói một lần rồi, chẳng muốn nói lại nữa. Gilles Leroy cũng cẩn thận, viết ở trong sách rằng đây là một truyện hư cấu, nhưng ai mà biết.

+ Để tưởng nhớ mùi hương.

+ Còn Napônêông? Chắc các bác cũng đoán ra rồi, đó là một loại đèn nêông hiệu Napô :) Giống như là khi người ta nói Ê-min Dô-na viết quyển Lala ấy. Thật ra thì tôi tìm được từ “Napônêông” này trong quyển sách được nhắc tới ở đây, quyển sách được đặc tuyển, quyển sách của năm tại Việt Nam. Thực sự là phải há mồm không ngậm lại được khi đọc cái tin ấy. HNV đúng là……….(kiểm duyệt đục bỏ)……….. Một quyển sách lèo tèo dăm ba bài, không bài nào dài nổi quá 5 trang sách, tức là tất tật chỉ trên dưới một trang A4 (kiểu như mục “Tiếng nói nhà văn”, ai hay đọc báo Văn Nghệ thì biết), không nói được một cái gì đặc biệt, ý tưởng vô cùng nhạt nhẽo, từ ngữ còn không phải là chuẩn hết, ví dụ như không hiểu đúng nghĩa từ “chính kiến”… thế mà là quyển sách của năm. Một trò hề thật là tợn.

+ Đặc biệt cảm ơn hai bạn đã gửi và mang hai quyển sách ở trong ảnh cho tôi. Quyển bên tay phải là Bao người chờ đợi, Đỗ Tử Trình dịch, NXB Thuận Hóa, 1988. Đây chính là tác phẩm đầu tay của Romain Gary, Éducation européenne (Giáo dục châu Âu), in năm 1945 ở bên Anh, khi chiến tranh còn chưa kết thúc. Bản dịch có lời giới thiệu cẩn thận. Quyển bên trái là Chó trắng, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, 1996, xuất bản trong khuôn khổ quỹ tài trợ của Đại sứ quán Pháp. Nguyên gốc quyển này là Chien blanc (1970), đã có phim.

Tra trên trang web Thư viện Quốc gia Việt Nam theo tên Gary không ra kết quả nào, theo tên sách thì ra được Chó trắng nhưng không thấy ra Bao người chờ đợi. Kỳ quặc thật.

Cảm ơn hai bạn vì đã cho tôi sách, và nhất là vì đã giữ sách rất cẩn thận.

Jan 27, 2010

Émile Zola ở Việt Nam

Để cái title như thế cho nó giống tên luận án tiến sĩ :)

Nhân hôm trước nói chuyện với một bác về Émile Zola, tôi chợt nảy ra ý định xem xem chính xác thì ở Việt Nam đã có những gì của Zola rồi.

Trước tiên, để định vị Zola: Trong đây có tổng danh mục bộ tiểu thuyết lớn của Zola, bộ Les Rougon-Macquart (Gia đình Rougon-Macquart); trong đó cũng có luôn bảng phả hệ, cái hết sức quan trọng trong các saga. Sở dĩ có cái họ kép như vậy là vì bà tổ nhà này lấy hai chồng, ông Rougon thì căn cơ, chăm chỉ làm lụng, con cháu sau này có người làm tới chức bộ trưởng, khôn ngoan ranh ma, đầu cơ chính trị nhìn chung là đủ cả. Ông chồng thứ hai, Macquart thì du thủ du thực, con cháu sau này nhìn chung là tệ hại. Riêng bà tổ thì có chứng điên, sau này hậu duệ cũng có nhiều người điên. Đại khái ý tưởng chung của Zola là xây dựng một bộ tiểu thuyết nhằm chứng minh di truyền có vai trò lớn thế nào trong đời người (nhưng kết thúc khá tươi sáng, với nhân vật nhà khoa học Pascal bỏ thành thị về nông thôn sống với cây cỏ - tập 20 tức tập cuối). Giai đoạn của Zola cũng chính là giai đoạn “khoa học” đang thắng thế, ước vọng về tính chất khoa học đi cả vào trong sáng tác và phê bình văn học, thể hiện rõ nhất ở hai nhân vật rất được Việt Nam ưa chuộng: Taine và Brunetière.

Bộ sách này gồm 20 tập, viết trong vòng khoảng 20 năm, nghĩa là cứ khoảng một năm thì có một tập. Đề cương chi tiết được Zola lên ngay từ đầu, sau đó cứ thế mà thực hiện. Bối cảnh truyện trải rộng, nhưng tập trung ở Plassans, một biến thể của Aix-en-Provence, giống như Balzac luôn đưa thành phố quê hương Tours vào tác phẩm của mình.

Tất nhiên khi đi tìm danh mục sách của một tác giả nào đó thì, một cách tự nhiên, ta sẽ tra trong thư viện quốc gia. Sau đây là tất cả những gì tôi tìm thấy (đã sắp xếp lại theo trình tự xuất hiện trong bộ Les Rougon-Macquart).

+ Mồi ngon cho bầy sói : Tiểu thuyết / Emile Zola; Đinh Mạnh Thoại dịch theo bản tiếng Pháp. - Hải Phòng : Nxb. Hải Phòng, 1989. - 215tr ; 19cm
[La Curée]

+ Chinh phục Platxăng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Nguyễn Thái Đông dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. - Lâm Đồng : Sở Văn hoá thông tin Lâm Đồng, 1988. - 462tr ; 19cm
[La Conquête de Plassans]

+ Lỗi lầm của vị tu sĩ / Emile, Zola; Người dịch: Anh Trần. - Đồng Nai : Nxb. Đồng Nai, 1988. - 323 ; 19cm
[La Faute de l’abbé Mouret]

+ Quán rượu : Tiểu thuyết / Êmin Zôla; Hoàng Lâm dịch. - H. : Văn học, 1987. - 572tr. ; 19cm. - (Văn học hiện đại nước ngoài. Văn học Pháp)
[L’Assommoir]

+ Một trang tình sử : Tiểu thuyết / Emile Zola; Người dịch: Nguyễn Minh Nghiệm, Nguyễn Văn Sách. - Tp. Hồ Chí Minh : Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1989. - 375tr ; 19cm
[Une page d’amour]

+ Hiệu hạnh phúc các bà : Tiểu thuyết / Emile Zola ; Người dịch: Đỗ Đức Dục. - Tp. Hồ Chí Minh : Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001. - 618tr ; 19cm
[Au Bonheur des dames]

+ Nẩy mầm : Tiểu thuyết: hai tập / Êmilơ Zôla ; Huy Phương, Phạm Thuỷ Ba dịch. - H. : Văn học. - 19cm. - (Văn học cổ điển nước ngoài. Văn học Pháp). - 15000d. - 3000b, T.1. - 1995. - 495tr , T.2. - 1995. - 371tr
[Germinal]

+ Giấc mộng vàng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Người dịch: Kim Thoa. - H : Pháp lý, 1989. - 187tr ; 19cm
Giấc mộng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Mai Hương dịch từ nguyên bản tiếng Pháp; Huỳnh Lý hiệu đính. - Tp. Hồ Chí Minh : Nxb. Trẻ, 1989. - 205tr ; 19cm
[Le Rêve]

Nhận xét thứ nhất: Chưa bao giờ vấn đề dịch nguyên vẹn bộ sách Zola được đặt ra. Tập đầu, tập giải thích nguồn gốc gia đình Rougon-Macquart, chưa được dịch. Toàn bộ những gì đã dịch nằm lẻ tẻ trong bộ Les Rougon-Macquart, tất cả đều thuộc giai đoạn sau 1986. Có vẻ như Sài Gòn trước 1975 không hề dịch Zola, cũng như không dịch Flaubert. Điều này không tự nhiên lắm, vì trước 1945 nhiều người đã nhắc tới Zola (nhưng hình như cũng chưa có nguyên vẹn cuốn tiểu thuyết nào được dịch) và ngay đầu những năm 1940 Kiều Thanh Quế đã phân tích tính chất “tả thiệt xã hội” của Zola và xếp Vũ Trọng Phụng vào cùng dòng này.

Nhận xét thứ hai (và rất gay cấn :): Thư viện Quốc gia Việt Nam không đáng tin cậy. Danh mục sách của thư viện so với đống sách tôi thu thập được đã thiếu mất một quyển, là Nana, Hoàng Hữu Đản dịch, NXB Văn học, 1995. Nếu tôi nhớ không nhầm thì cả Tiền (L’Argent) lẫn Đất (La Terre) cũng đều đã được dịch, nhưng thông tin này chưa được kiểm chứng. Điều này (thư viện quốc gia thiếu tài liệu) thật ra ai làm nghiên cứu cũng đã biết từ lâu; tình trạng trầm trọng nhất có lẽ nằm ở lĩnh vực văn học, vì đây là lĩnh vực phức tạp hơn cả, nhiều sách vở hơn cả, và cũng gắn chặt với chính trị hơn cả.

Hệ quả của điều này là các nhà nghiên cứu Việt Nam phần lớn bị buộc phải trở thành nhà sưu tầm bất đắc dĩ. Nếu không thì coi như là không nghiên cứu. Công việc sưu tầm sách tuy có nhiều hứng thú nhưng cũng là một công việc mệt mỏi và tốn thời gian.

Nhận xét thứ ba (liên quan tới vấn đề phiên âm :): Vì có chút kinh nghiệm nên khi tra sách của Zola, tôi đã không chỉ tìm kiếm theo từ “Zola” (từ đây mà biết chắc Gianfranco Zola không viết quyển sách nào hehe) mà còn tra theo “Zôla” và “Dôla”; có tra như vậy thì mới ra được toàn bộ danh sách ở trên.

Như vậy, nếu thống nhất ngay từ đầu là chỉ viết tên Zola thành “Zola” thì tôi đã không phải mất công search đến ba lần. Đây chính là một trong các lý do khiến tôi luôn nghiêng về ủng hộ viết đúng tên gốc (hoặc ít ra là theo một cách thống nhất). Michel Houellebecq, chuyên gia đưa ra những chân lý kỳ quặc, từng viết đại ý sự cao quý thì nằm trong cái tivi, còn ở đây ta nên nói tính hợp lý nằm trong các search engin :)

Nhận xét thứ tư (đi liền với câu châm ngôn “có tìm có hơn”): Nhờ đi tìm nên tôi mới biết thêm hai điều: thứ nhất, quả thực Hiệu hạnh phúc các bà có hai tập, và tôi chỉ có tập một huhu. Quyển này tôi có và đọc từ hồi còn bé, đọc xong quyển mình có thì cứ tưởng là đã hết truyện rồi :) thứ hai, ở Việt Nam còn có dịch bài báo nổi tiếng “Tôi tố cáo” (J’accuse) in trên tờ L’Aurore mở màn cho một cuộc tranh đấu xung quanh vụ Dreyfus, khiến Zola phải đi đày (đúng hơn là đi trốn) sang Anh một thời gian và cũng là khởi sự tồn tại của từ “trí thức” (intellectuel) trong đời sống tinh thần của Pháp (từ này, cũng như những từ “dada”, “chủ nghĩa ấn tượng - impressionnisme” thoạt tiên được dùng với hàm nghĩa khá là miệt thị). Về lịch sử trí thức Pháp thế kỷ XX, ref. Michel Winock.

Nguyên văn phiếu tra của Thư viện Quốc gia:

“Tôi tố cáo / Êmin Dôla ; Lời bạt: Misenpolắc ; Người dịch: Lê Thu Thuỷ. - H. : Giáo dục, 1999. - 71tr : tranh vẽ ; 21cm”

Chỗ này thì phiên âm quá đáng, Misenpôlắc hẳn là Michel Polac.

Nhận xét cuối cùng: So sánh Émile Zola với Balzac chẳng hạn, có thể thấy rõ rằng xét về mặt tiếp nhận, ở Việt Nam Zola không có được vị thế lớn như Balzac, thậm chí có thể nói rằng công việc dịch Zola không được nghiêm túc cho lắm. Nhìn bìa những quyển sách đã in ở Việt Nam thì có cảm giác người ta coi Zola là một nhà văn tầm tầm, chuyên câu khách rẻ tiền.

Điều này thật là bất công, vì Zola chính là một trong vài nhà văn thành công nhất trong lịch sử văn học Pháp. Xếp ngang hàng với Zola về mặt danh tiếng và cả độc giả có lẽ chỉ có Guy de Maupassant. Cả hai ban đầu đều được xếp vào danh mục “tự nhiên chủ nghĩa”, nhưng nói vậy không đồng nghĩa với nhà văn tự nhiên chủ nghĩa nào cũng thành công dữ dội như Zola và Maupassant: chẳng hạn Henry Céard, và ngay cả Gustave Flaubert (yes, hồi đầu tiên cũng được xếp là nhà văn tự nhiên chủ nghĩa) cũng còn rất xa mới được vậy. Những quyển thành công nhất của bộ Les Rougon-Macquart (nhất là Nảy mầm và Quán rượu, rồi Nana) in được tới quãng 200.000-300.000 bản, ước lượng ra bây giờ có lẽ phải tương đương với ngót hai triệu bản. Zola cực kỳ giàu có, còn Flaubert cả đời nghèo, làm “con gấu vùng Croisset”.

Zola chính là một trong những hiện tượng đầu tiên trong lịch sử về “nhà văn thành công”, khi khái niệm “nhà văn chuyên nghiệp” mới bắt đầu hình thành (ref.: Alain Viala).

Nếu biết sâu hơn một chút, thì Zola cũng có một nghiên cứu bằng tiếng Việt. Thư viện Quốc gia cũng ghi lại rõ ràng, gồm hai phiếu (tất nhiên là tôi biết trước rồi nên mới tra một choách là ra ngay):

Những sáng tạo và nghệ thuật tiểu thuyết của Emile zola : Luận án PTS KH ngữ văn: 5.04.03 / Lê Ngọc Tân. - H., 1996. - 196tr ; 32cm

Chủ nghĩa tự nhiên Zola và tiểu thuyết : Chuyên luận / Lê Ngọc Tân. - H. : Nxb. Hội Nhà văn, 2002. - 321tr ; 21cm
Đây là một luận án phó tiến sĩ (tức tiến sĩ) sau in thành sách, hình như do Phùng Văn Tửu hướng dẫn.

Aug 17, 2009

Vũ Hoàng Chương vs Nguyễn Bắc Sơn

“Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng” - Vũ Hoàng Chương bắt đầu bài thơ mang tính “cương lĩnh tinh thần” của tuổi trẻ một thời như vậy. Bài thơ “Phương xa” mang âm hưởng trực tiếp từ “Con tàu say” của Rimbaud ngoài miêu tả tâm trạng hoang mang chán nản ở những con người độ tuổi đôi mươi còn phát biểu một mơ ước nơi đáy lòng của thanh niên: Đi.

Khi ở đây người ta luôn ngóng đến nơi khác, điều này rất thông thường và cũng không kém phần dễ hiểu. Số lượng đặc biệt lớn của tác phẩm văn chương hướng về xa xăm chứng nhận rằng người ta (và cả chúng ta) chung nhau cảm giác chán ghét cái chốn mình đang ở và mong muốn thoát khỏi, đi xa, thậm chí là rời bỏ. Một trong những tác phẩm đầu tiên làm nên tên tuổi cho Milan Kundera có nhan đề Cuộc sống không ở đây, trong đó có đoạn nhà thơ trẻ Jaromil (trạc độ tuổi của Rimbaud khi bắt đầu nổi tiếng trên văn đàn Pháp) bỏ chạy trên bãi biển, bởi vì mọi thứ có ý nghĩa đều không ở đây, đều ở đâu đó khác. Giai đoạn thuộc địa hóa, nhất là cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, làm phát sinh cả một dòng văn học xê dịch, trong đó cái tên cuốn sách của Blaise Cendrars có lẽ đã nói lên tất cả trạng thái tâm hồn con người thời ấy: Emmène-moi au bout du monde! (Hãy mang tôi đi tới tận cùng thế giới!)

May 6, 2009

thời gian như con côn trùng đang bò ngang qua một tảng đá phơi trần

* Bài này đã post ở blog cũ, nhưng do một trục trặc nên đã xóa đi. Chống chỉ định: những người hay hoang mang. Câu "thời gian như con côn trùng đang bò ngang qua một tảng đá phơi trần" trích từ Xứ Cát, đoạn Muad'Dib chờ đợi ngay trước trận đánh quyết định giải phóng Arrakis.

Truyện “Funes hay ký ức” nằm trong một tập truyện in năm 1944 của Jorge Luis Borges. Nhà văn vĩ đại nhất của Mỹ Latinh thế kỷ hai mươi dùng câu chuyện đặc biệt ám ảnh này (tất cả tác phẩm của Borges đều ám ảnh rất mạnh, nhưng “Funes hay ký ức” còn ám ảnh hơn nhiều so với Borges “thông thường”) để giải quyết vấn đề thời gian, quá khứ và ký ức. Ngay lập tức, dưới ngòi bút mang đầy tính chất giả kim thuật của Borges, thời gian liền biến thành mê cung, thêm một mê cung nữa mà Borges tạo ra trong đời sáng tạo của mình, sau mê cung của ngôn từ (“mở miệng nói nghĩa là rơi vào trùng ngôn”), của những cuốn sách (có lẽ trong lịch sử văn chương chưa có nhà văn nào say mê sách và đọc như Borges, dù cho về cuối đời khi trở thành giám đốc thư viện quốc gia Argentina thì định mệnh trớ trêu đã buộc Borges bị mù), và của những khu vườn (“Khu vườn các lối đi rẽ về hai ngả” – nhan đề một truyện khác).