Showing posts with label thơ. Show all posts
Showing posts with label thơ. Show all posts

Oct 23, 2015

Vũ Hoàng Chương: Vân Muội (2)

Đoạn sau đây bắt đầu cho thấy tính chất Liêu Trai của Vũ Hoàng Chương thuở ấy.

Tập Vân Muội 1960 này, cũng như rất nhiều tập thơ khác của Vũ Hoàng Chương, có sự tham gia rất lớn của Đinh Hùng về mặt hình ảnh (trình bày, vẽ bìa vân vân và vân vân). Sự gần gũi giữa Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng không chỉ nằm ở tiểu sử, ở sự đồng điệu thơ ca, mà còn sâu thẳm hơn nhiều. Ta cũng thấy nhà văn Việt Nam một thuở vẽ rất đẹp. Không chỉ Nhất Linh từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà cả Khái Hưng lẫn Thế Lữ đều thế. Dường như đây là truyền thống, giờ vẫn được tiếp nối, nhưng chỉ là tiếp nối ở vẻ bên ngoài mà thôi. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều vẽ tranh rất xấu, tệ hại, thế mà cứ vẽ suốt, mà lại còn trưng ra nữa.

Nhưng người đọc tinh tế sẽ còn nhận thấy một điều nữa ở Vân Muội, bên ngoài Liêu Trai chí dị và Đinh Hùng: Vũ Hoàng Chương thuở ấy lậm rất sâu vào Kiều. Nhà văn Việt Nam chân chính luôn luôn đi ra từ Kiều. Đời mưa gió là câu chuyện của Thúy Kiều kể lại theo cách khác; Nửa chừng xuân là ba phần tám một câu Kiều, đến cả Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan cũng lại là một nửa câu Kiều khác ("Sự đời đã tắt lửa lòng/Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi").

Quên mất còn chưa nói, Vân Muội là vở kịch có ba hồi. Dưới đây là kết thúc hồi thứ nhất.


Oct 21, 2015

Rất nhiều thơ, quá nhiều thơ

Có thể có một thái độ nào đối với thơ, ở trong hoàn cảnh Việt Nam?

Kể từ ngày nhận ra là cần phải khinh bỉ thơ, cần phải nuôi dưỡng một niềm khinh bỉ đích thực về phía thơ, tuyệt giao với niềm hứng khởi ca hát nhảy múa của thơ, tôi mới bắt đầu thấy rõ thơ hơn. Ví dụ, Xuân Diệu không thể so nổi với Huy Cận. Có một cuốn sách rất nổi tiếng về Thơ Mới, nói đến các đỉnh cao của Thơ Mới, trong đó Xuân Diệu đứng đầu. Nhưng không thể coi Xuân Diệu là một nhà thơ rất lớn được.

May 10, 2014

Hoàng Cầm và Kiều Loan

Từ nay, 5/5 sẽ là một ngày đáng nhớ, nhưng 6/5 cũng là một ngày rất đáng nhớ, tôi còn rất nhớ ngày 6/5 cách đây bốn năm, vì nhiều sự kiện chỉ liên quan đến tôi, và cả vì ngày hôm đó, Hoàng Cầm qua đời.

Về cơ bản, cách nhìn nhận của tôi đối với các nhân vật của Nhân Văn-Giai Phẩm là: chỉ Trần Dần và Hoàng Cầm không cần Nhân Văn-Giai Phẩm vẫn là nhà thơ lớn, và hai con người ấy, một cứng một mềm, một sừng sững im lặng một linh hoạt ảo diệu, là hai cực, hai cực đó bao trùm tất cả, quãng giữa có cũng được không có cũng được.


Oct 4, 2013

Bùi Giáng dịch thơ

Nhân vừa đọc bài này, hốt nhiên tôi nghĩ ra chuyện này: hình như trước nay chưa bao giờ có ai bàn luận thực sự nghiêm túc về Bùi Giáng ở tư cách dịch giả.

Tác giả của bài viết ở đường link dường như là một đại biểu Quốc hội Việt Nam; tác giả đã sai lầm một cách căn bản khi viết "Lại có thêm một nhân vật nữa của Miền Nam trước 1975 được dựng dậy một cách đột nhiên", vì trong hơn cả chục năm qua tác phẩm của Bùi Giáng đã tái bản rất nhiều, không có gì là "đột nhiên" cả.

Nhưng Bùi Giáng dịch thuật như thế nào? 

Bùi Giáng từng dịch 1) thơ trong đó có a) thơ ra thơ b) thơ ra văn xuôi 2) tác phẩm văn xuôi 3) tác phẩm phi-hư cấu (ví dụ các tiểu luận triết học).

Tôi có một ví dụ về 1a ở dưới đây.


Jul 31, 2013

xác định chừng mực


Tập thơ “Chấm” của Nguyễn Ngọc Tư, khó khăn nhất là lúc đặt tên. Đặt một cái tên nào vừa miêu tả đúng tinh thần các bài thơ vừa thoát khỏi mọi quy chiếu thông thường về Nguyễn Ngọc Tư, và với tôi còn phải đạt một tiêu chí nữa: cái tên nào để không đọc lên là thấy lồ lộ chất miền Nam miền Tây sông nước dời dợi mênh mang. Không phải vì tôi ghét bỏ phân biệt vùng miền, nhưng thơ là thứ hướng tới chỗ phổ quát chứ không như văn xuôi, nơi “đậm đặc chất miền Tây” là một phẩm tính đặc biệt.

Thoạt tiên, Nguyễn Ngọc Tư đề nghị một cái nhan đề có từ “lẻ”.

sông lẻ một đời giữa đá, buồn không?
(khúc hát rời Nho Quế)

căn phòng lẻ
thênh thang thân xác lẻ
(vẽ giấc trưa)

Nhưng tôi không muốn “lại” có một “lẻ” nữa trong tập hợp nhan đề sách của Nguyễn Ngọc Tư. Nếu mà “Chẵn” thì có khi lại hay. Tất nhiên đó là tôi nói đùa.

Jul 16, 2013

Trưng bày sách (8) Một ít Chinh phụ ngâm

Cảm tình, ấy nó cứ là cảm tình, có thể phai tàn nhưng chẳng thể nào mai một đi hoàn toàn. Càng ngày tôi càng thấy Kiều xuất chúng, nhưng cảm tình thời xưa vẫn bắt tôi ưa Chinh phụ ngâm, giờ thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến một vài câu rất ất ơ trong đó, như lúc này là câu "Mai Hồ vào Thanh Hải dòm sang".

Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai

Thơ mà như thế mới dã man.

Jul 13, 2013

Lịch sử của một cảm tình

Lỡ 19, 20 tuổi ở Việt Nam vào cuối thập niên 1990 mà lại thêm lỡ dính chân vào vòng văn chương thì sẽ không chỉ ở vào cái trạng thái mà Paul Nizan từng nói một cách rất đầu gấu, "Hồi ấy tôi hai mươi tuổi. Tôi sẽ không để ai nói đó là tuổi đẹp nhất của đời người", mà còn đồng nghĩa với chuyện thuộc về một "thế hệ không có đàn anh". Người ta có thể đặt tên cho thế hệ ấy là đặc biệt, vứt đi, hoang mang gì gì đi nữa, thì tôi vẫn nghĩ nó rất giản dị, nó là một thế hệ không trông chờ được vào đâu, không có điểm tựa mà bấu víu, không có những Nhất Linh, Vũ Hoàng Chương ở bên cạnh để mà tôn sùng rồi tìm cách lật đổ.

Quãng thời gian ấy, Đại hội nhà văn rôm rả đã qua đi và mọi sự đã lắng, ai có chút đầu óc đều hiểu ngay rằng không thể học được gì từ những Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc. Nói gì đến Ma Văn Kháng, Bằng Việt, Hồ Anh Thái. Mọi thứ đều hoang vu, phẳng lặng, xập xí xập ngầu trong sự chán phè và lãng đãng tầm thường. Những người có chút đầu óc sẽ hướng ngoại và hướng hải ngoại. Tôi cũng có một giai đoạn hướng hải ngoại nhưng nó nhanh chóng kết thúc trong vòng khoảng hai năm, khi tôi nhận ra cả ở họ cũng chẳng có nhiều điều để học, hoặc giả họ có một cuộc chiến khác, hoặc giả họ chẳng có cuộc chiến nào, vì với tôi, nỗ lực vươn lên để có được một vị trí trong "giới phê bình biên khảo" chẳng có lấy một tiêu chí rõ rệt hay một vị trí giảng dạy tại một cơ sở giáo dục phương Tây đơn giản không phải một cuộc chiến.

Jul 10, 2013

Văn học miền Nam: Thi sĩ Quách Thoại

Quách Thoại, thi sĩ tài hoa yểu mệnh, tác giả "Như băng trường tình" nổi tiếng một thuở, cũng đã kịp bước vào đoàn nhân vật bị lịch sử lãng quên.

Em có biết một cõi lòng đang xao xuyến
Nhớ thương em đứng trước nhà chung
Ta yêu em yêu mến cả vô cùng
Thềm tôn giáo ta đặt hồn mơ ngủ

(Như băng trường tình)

Jul 8, 2013

Nhã Thuyên bàn về thơ Nguyễn Bình Phương

Bài viết dưới đây của Nhã Thuyên, tôi đọc trên tạp chí Tia Sáng, rồi xin tác giả bản gốc, có đôi chút khác biệt so với bản đăng báo (đó là hồi tháng Hai 2012).

Với tôi, Nhã Thuyên (hiện nay hay được báo chí gọi dưới tên thật, Đỗ Thị Thoan) là một trong những nhà phê bình văn học nổi bật nhất của một thế hệ. Nổi bật hơn cả ở một vị thế độc lập, một giọng riêng và một bản lĩnh phê bình. Ngày nay có rất nhiều tình trạng éo le còn không đủ kiến thức nền tảng mà cũng phê bình văn học, phê bình điện ảnh, phê bình dịch thuật, những nhà phê bình kiểu Nhã Thuyên thật ra bị chìm khuất, được biết đến ít hơn nhiều so với giá trị thực.

Bài viết này (cũng như nhiều bài khác của Nhã Thuyên) thu hút tôi chính ở điểm tôi chẳng đồng ý gì với nó, tôi nhìn nhận thơ Nguyễn Bình Phương và văn chương Nguyễn Bình Phương khác hẳn, nhưng bài viết này (cũng như nhiều bài viết khác) kéo tôi để ý đến những điều tôi đã không để ý, bắt tôi tự đo mình với người khác, gây bực bội cho tôi vì chỗ diễn giải này hay chỗ diễn giải kia... Bởi nhà phê bình văn học là như thế nào? Tôi không biết chính xác câu trả lời, nhưng tôi biết nhà phê bình không phải người cố hích cố đẩy chen lấy một chỗ trong dàn đồng ca.

Jul 5, 2013

Văn học miền Nam: Nguyên Sa Trần Bích Lan

theo yêu cầu của độc giả

Nguyên Sa Trần Bích Lan có tác phẩm hết sức đa dạng. Ông từng học bên Pháp, trung học Provins (trước đây có lần tôi ở mấy ngày gần đó, có ghé qua trường này chơi), sau lên Paris học Sorbonne rồi về Sài Gòn khi còn rất trẻ.

Nguyên Sa trong mảng triết học:


Jun 26, 2013

Từ điển và Thế giới

Borges từng viết rất nhiều về thư viện-mê cung, thư viện như một cách hình dung về thế giới. Ông còn viết không ít, lấy cảm hứng rất nhiều từ những quyển từ điển.

Từ điển mô phỏng thế giới, nhưng đã xếp thành trật tự.

Từ điển là một dạng thế giới song song: một bộ từ điển lý tưởng có thể hình dung là quyển có chứa từ tương ứng với bất kỳ cái gì có ở trên đời.


Jun 8, 2013

Thơ Nguyễn Ngọc Tư


lời cảm ơn:

- anh Phạm Đam Ca, người đã chăm chút đến từng chữ (theo đúng nghĩa đen) trong phần trình bày đặc biệt
- anh Jason Gibbs
- Nguyễn Ngọc Tư, tức Tư Cà Mâu, vì đã viết những bài thơ đủ sức để làm mình bớt thù ghét thơ thẩn, thế cho nên mình tha lỗi cho cái thói nhí nhoáy gửi thư rồi cứ ba phút lại í éo đòi đổi chữ này thay chữ kia xóa chữ nọ :pp

thêm cái này

Jun 6, 2013

Quán biên thùy

KINH KHA

Quán biên thùy nơi chia đôi cương giới
Triệu một bên Yên hờ hững một bên
Nâng chén rượu chiều chiều nghe gió thổi
Sương mờ mờ bao phủ hận vô biên

Hận vô biên vì tài không chỗ dụng
Kiếm thần đeo hoen rỉ tháng ngày qua
Tề Ngô Vệ dặm ngàn không chỗ đứng
Đất Yên nhìn... hôm sớm... núi mờ xa

Rượu đầy vơi... âm thầm nghe điệu trúc
Trúc ngân buồn, rừng núi trĩu lệ sương
Vỗ kiếm ca... lưng trời lờ lờ đục
Lời buồn than vương vấn ủ biên cương


Apr 16, 2013

Trưng bày sách (7) Thơ thời tao loạn

Thời loạn thì nhiều nhân tài, lại nhiều thơ hay. Thơ lại hay giống bằng chứng cho thời loạn, và thời loạn qua rồi, khó tồn tại nhất là các tập thơ. Nhiều tả tơi lắm. Nhìn lại một chút, khéo mà cảm động lắm đó :p

Hai nhà thơ không thể bỏ qua của cả một thời:


Rồi:



Apr 15, 2013

thơ đi ở trong thơ

hai mươi nghìn năm rồi mới đi làm thơ


chấm

bước chân đi
về phía những chân trời lỗi
ủ ê gì
những củi lửa thành tàn tro nuối
đoạn đường chưa qua

tóc khói ngực lạnh những tàn phai dứt
ngã nắng
ngả hẳn vào hiu quạnh
trên sườn núi Hiệu Oanh

-----------

Rất là muốn lén lút tự tiện in luôn cái bài thơ hai mươi nghìn năm lên bìa sau tập thơ này:


rồi coi như sự đã rồi, phủi tay cười khoái trá.

Nhưng thôi :p


Tập thơ này thật đáng ngưỡng mộ.

Feb 21, 2013

Trưng bày sách (1) Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Mở một mục mới trưng bày sách, cho nó có chủ đề chủ điểm tập trung, chứ không như loạt "Sách" trước đây nữa. Vả lại, loạt kia đánh số La Mã, đến những số lớn thì giỏi toán như tôi cũng bắt đầu thấy loạn :p

Mục đích chính của mục này là soi lại những khoảng nhất định trong văn học sử, bổ khuyết vài chỗ trống, hoặc nếu lực bất tòng tâm thì coi như là bày ra một chỗ trống.

Trước tiên là Vũ Hoàng Chương, mà tôi coi là nhà thơ lớn của dân tộc, nhưng sau này, gần đây, ngoài Mây và Say người ta đâu có biết gì nữa. Thêm chút Ta đã làm chi đời ta, hồi ký không mấy cặn kẽ. Thế nhưng Vũ Hoàng Chương có sự nghiệp đồ sộ khủng khiếp, có một thi giới bát ngát tuyệt mỹ, những ngôn từ xiển dương cho cả một lịch sử tiếng Việt.

Năm 2006, tôi đi tra ở kho tư liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam, không thấy có cái gì về Vũ Hoàng Chương hết. Chưa yên tâm, tôi hỏi vài người trong giới nghiên cứu, họ cũng khẳng định là chẳng có gì đâu.

Nov 24, 2012

bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ


nó thiêng quá, vừa nghĩ đến xong, vừa nghĩ đến cái "bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ" xong thì nó nhắn tin

nó bảo đã cầm sách rồi, lại còn cười hí hí, chột hết cả dạ, hỏi lại thật rõ ràng xem nó có hài lòng với quyển sách không, nó bảo là có mới thở phào một cái :p

nhan đề "bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ" bạn Nguyễn Thúy Hằng gửi tin nhắn cho mình vào lúc ba giờ sáng đã xa lắc xa lơ, kèm với ba cái tên nữa, bắt mình chọn hộ; cái mình chọn bạn đã không lấy làm tên chính thức, nhưng mình còn nhớ nó rất rõ :)

sau "thời hôm nay khoái cảm và điên rồ hợp lý", sau "bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ", giờ bạn Nguyễn Thúy Hằng đã có thêm một tập, tên là "họ. bột hư ảo", công lao chúng ta lắc lư suốt hai năm ròng mới in ra được

nói thật là in được sách cho bạn mình vui lắm, bao nhà thơ thuở ấy mọc lên như nấm rồi xẹp như bong bóng xì hơi, nhiều người quãng ấy giờ mình chỉ còn đọc để xem còn có thể viết tệ đến mức nào nữa, còn bạn đúng là thi sĩ đích thực của cái thời cấm khẩu này, bạn cũng đã đi qua bao nhiêu thứ, cả cái thứ phê bình mà bạn từng gọi rất chính xác là "đê tiện", giờ kệ bố chúng nó, nhỉ :p

mình khá là kinh ngạc vì thấy trong "họ. bột hư ảo" có một bài có hình bóng của mình hí hí, một thời đã qua cũng có thể để lại dấu ấn như vậy, nhỉ, thời của Hà Nội mùa đông của cà phê của rượu, và sách và tranh, không phải lúc nào trở thành nhân vật của ai đó cũng dễ chịu đâu, ví dụ như mình từng bị Trần Nhã Thụy đưa vào cái gì đó, đọc muốn ói

chính vì thế nên chúng ta mới không thể ngủ, nhỉ :p

Nov 23, 2012

Sách (LVII) Thơ

Có những ngày buồn bã, những buổi chiều không biết cất vào đâu:


Còn đây, đã đầy đủ sạch bách chưa người ơi :d


:p

Niềm vui của chúng ta thì đây:




(ngủ dậy mồm miệng hôi rình/lao ngay vào mạng uống bình thông tin)

Aug 13, 2012

Lê Huy Oanh vs Thanh Tâm Tuyền

Trong lịch sử bình luận thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà phê bình Lê Huy Oanh tạo ra mấy điểm mốc đáng nhớ. Trên số Văn đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (năm 1973), Lê Huy Oanh nhắc lại mình từng chê bôi, thậm chí mạt sát tập Tôi không còn cô độc đến như thế nào. Bài viết ấy giờ không dễ tìm, nó nằm trên tạp chí Sinh Lực, ấn phẩm nằm dưới sự điều hành của Võ Văn Trưng (chủ nhiệm) và Tôn Nhật Huy (chủ bút). Nên nhớ bài viết dưới đây (toàn văn) đăng không lâu sau khi Tôi không còn cô độc được ấn hành.

Đọc “TÔI KHÔNG CÒN CÔ-ĐỘC” của Thanh-tâm-Tuyền

Lê-Huy-Oanh

Giữa lúc này, người ta khao khát một tập thơ hay, như những kẻ lạc lõng trên sa-mạc thèm muốn một gốc dừa xanh bên hồ nước. Thơ Thanh-Tâm-Tuyền ra đời trong khi bao người đang chờ đợi một thi nhân có tài. Chúng ta vui-vẻ đón con người đó, hy-vọng sẽ thấy trong thơ chàng một nguồn rung cảm mới, một nghệ-thuật cao đẹp.

Tôi không muốn đọc cuốn “Tôi không còn cô độc” quá trơ trẽn. Tôi thắp lên hai cây nến trắng. Chuông đồng-hồ thong thả điểm 2 tiếng. Ngoài cửa sổ, con đường vắng trải nhựa đen im lìm dưới ánh đèn đêm thấp-thoáng. Trời hơi lành lạnh.

Tôi ưa chọn giờ để đọc thơ - nhất là đọc một tác phẩm mà tôi trót gửi vào đấy biết bao nhiêu hy vọng. - Kể ra như thế cũng hơi cầu kỳ, cái cầu kỳ của những người yêu thơ.

Tôi bắt đầu lần giở những trang giấy thơm tho một cách thành kính. Một trang, hai trang, rồi chín, mười trang… Tội nghiệp chưa, đầu tôi nóng bừng; có lúc tôi bàng hoàng như vừa ngã từ mấy từng lầu cao xuống hố bùn đen: thật khó mà tìm thấy cái hay của thơ Tự-do - một thứ tự-do kiểu Thanh Tâm-Tuyền!

Lật về trang giấy sau bức chân dung tác giả, tôi đọc đi đọc lại mấy hàng chữ đầu tiên mà tôi bắt đầu e ngại rằng đây chỉ là những lời ngạo mạn:

………
Để cai trị tôi có những luật lệ tinh-thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ
Người hoàn toàn tự do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ

Tôi định ném cuốn sách ra cửa sổ thật, vì lúc đó, tôi có cảm-tưởng đã gặp phải một người khùng. Kể cũng lạ. Độc giả, yêu thơ đi tìm thơ, nghệ-thuật không thấy, thấy một chiếc ngai lạ kiểu, trên đó sừng sững một quái thai: Ông Hoàng Thanh-Tâm-Tuyền. Ông kêu lên những câu nghe rất chối tai, có lúc lại hoàn toàn vô nghĩa và ông bảo đó là thơ: một thứ thơ không cần vần, không cần âm điệu và cũng chẳng cần để ai hiểu!

Có một lúc tôi không dám phán đoán thêm nữa. Tôi lặng-lẽ nhìn ngọn lửa nến đang leo lét cháy không sao thoát khỏi cái lưới thắc-mắc, tôi cho rằng chỉ đọc một lần thì chưa thể nhận thức nổi những tinh-hoa của lối thơ này. Tôi hơi hối-hận vì đã không kìm nổi giận-dữ. Lòng dịu lại đôi chút, tôi ép má vào song cửa sổ, mặc cho gió lạnh ùa vào mặt. Cuốn thơ mầu trắng oái oăm kia nằm lệch trên bàn. Tôi trân-trối nhìn nó và tự hỏi: “nó đã lừa cảm giác tôi hay chính tôi đã lừa cảm giác tôi?

*

Suốt một tuần lễ sau tôi đọc lại cuốn thơ này. Một tuần lễ có bẩy ngày, tôi đọc lại nó tới hơn ba lần. Nghĩ mà thương cho tôi, có những đêm quá khuya, tôi vẫn còn cặm cụi trước những dòng chữ quái đản:

Tại sao em thích gọi tên hoa
Nào ngày mai của chúng ta buông từng cánh
Xuống vai trần
Viền cỏ
Bông tóc nâu
Em sẽ gọi tên anh
Mùa hoa hôm nay
Nhưng thời gian đã ngả vào lòng vô định
Chút sữa huệ ấm đời thiếu tiếng chim
Cánh hồng ngọt không gian tàn phá
Những thời gtan [sic] không rời nhau mang đến bao nhiêu mùa
Dạy em yêu phía sau cửa sổ
Thiếp điên trong chuỗi dài giấc ngủ
Rất vui
………
(Trang 32, HOA)

Tôi lật xuống những trang dưới, đọc tiếp.

………
Tôi ru chim ngủ trong cổ họng
Mặt trời kêu xuống thái dương những màu ánh sáng thơm
Tim kinh ngạc
Đời tạo câu cười thiên nhiên mãi
Hy vọng đứng ra ngoài ô ngục, ngực bâng khuâng
Lần gặp gỡ thứ nhất
Rồi kỷ niệm kim khí thủy tinh hành hạ
Đau xé trời đêm không sao bánh máy quay vũ khí
Tôi chối từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc
Dù tiếng hót đã chạm mấy hàm răng
Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường
Về quá khứ
Chim bay vào trận mưa sao
(Trang 46 - CHIM)

Trời ơi! đã trót yêu thơ thì tôi đành gian-díu [sic] với thơ chứ cứ đọc mãi cái điệu thơ này rồi cũng đến loạn óc mất thôi. Thi ca lập dĩ đến thế là cùng. Người ta bỏ hết dấu, người ta vứt vần xuống gót chân thô bạo, người ta cố tình ép uổng cho ý tứ thành bí hiểm: không phải người ta làm thơ mà định giết chết thơ. Hành hạ Nàng thơ đến như vậy thật dã man hết chỗ nói. Ấy thế mà Thanh Tâm Tuyền còn kêu là thơ anh bắt nguồn từ ca dao; ở trang 42 anh viết:

Không đa đa siêu thực
Thẳng thắn
Khởi từ ca dao sang tự do

Tôi ngờ rằng Thanh-Tâm-Tuyền nói dối. Âu cũng là một mánh-khóe lòe đời của những người cuồng chữ. Bảo rằng thơ anh chuyển từ ca-dao sang thì quả là định làm hại cái hay mộc mạc nhưng đầy vẻ quyến dũ [sic] của ca-dao. Ca-dao là một thứ văn chương bình-dân, đơn giản, phóng khoáng, sáng-sủa biết bao nhiêu, sao lại có thể chuyển nó sang một lối thơ “hũ nút” như vậy được.

*

Thật ra, tôi vẫn mến Thanh-Tâm-Tuyền vì anh là một thanh-niên tha-thiết với cách-mạng và anh đã muốn dùng thơ để ca-ngợi cách-mạng.

Nhưng nếu định dùng một lối thơ lập-dị để phát huy và truyền-bá tinh-thần cách-mạng, tôi e rằng khó mà thành-công. Tinh-thần cách-mạng cần được phát huy bằng những lời thơ sáng-sủa, nhịp-nhàng, giầu âm-điệu hơn.

Hình-thức của thơ càng linh-động, càng hấp dẫn, càng có năng lực làm người ta rung động; hình thức bí hiểm, tư tưởng cũng thành tối om, làm sao nó gây được ảnh-hưởng trong lòng người đọc.

Tôi không phủ nhận vai trò cần thiết của sự tự-do trong thơ, nhưng tôi chủ trương sự tự-do đó không tuyệt đối, nó phải được giới hạn trúng mức truyền cảm. Giới hạn đó không bắt buộc đứng yên một chỗ; nó có thể biến đổi, di-động tùy theo không gian và thời gian, tùy theo vài sáng-tạo của mỗi thi sĩ. Sự thực, chúng ta chẳng cần bàn nhiều về nó, ở đây, ta chỉ cần nêu ra một kết luận hết sức đơn giản:

Thi sĩ có toàn quyền định giới hạn cho sự tự do trong thơ ca của mình miễn làm sao thơ của họ phải đạt được mục đích chính yếu là truyền cảm. Thiếu tính chất truyền cảm nó hết là thơ”.

Buồn thay, đọc thơ Thanh-tâm-Tuyền ta hầu như không thấy tính-chất truyền cảm có nghĩa là ít khi ta thấy rung động mà phần nhiều chỉ thấy bực mình vì thơ.

*

Tuy nhiên, nếu cố giữ bình thản để đọc thơ anh, ta cũng tìm thấy đôi chỗ tạm gọi là nghe được. Những giòng hiếm hoi đó nằm trong vài bài thơ tương đối đỡ kỳ-quặc hơn. Bài TRƯỜNG-THÀNH (trang 18) đã khiến ta súc cảm [sic] nhờ ý tưởng nồng nàn của tác giả:

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Khái-Hưng.
Mỗi lần hoàng hôn tôi bước cùng đám đông
Lòng khẫn cầu [sic] cách mạng

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Phan-văn-Hùm

Mỗi lần hoàng hôn chạm mặt từng người
Có phải chúng ta đang sửa soạn

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Tạ-thu-Thâu

Mỗi lần hoàng hôn tôi cố thở cho nhiều
Các anh nhớ tôi còn sống
Quờ quạng tay dan díu
Cách-mạng nổi trong sự nín thinh.

………
Mỗi lần hoàng hôn tôi chỉ là người văn-nghệ bé nhỏ.
Hoặc tôi câm mồm hoặc tôi thét la.
Mặc chúng dụ-dỗ mặc chúng dọa-nạt
Chúng sợ cách mạng vô cùng.

………

Bài “MƯA NGỦ” (trang 48) gợi cho ta tính chất quyến dũ [sic] của một thứ “poème en prose” của Baudelaire (1).

Mấy bài thơ này khiến tôi nghĩ hoài về Thanh-tâm-Tuyền tuy tôi đã cất cuốn “TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC” vào ngăn tủ. Tôi tin rằng, nếu anh chịu rời bỏ lối thơ kỳ-quái hiện nay của anh để nhận lấy một lối thơ hợp lý hơn, thơ anh sẽ có nhiều triển vọng. Anh là người giầu tình cảm, giầu lòng yêu nước, thèm khát TỰ-DO và có óc tưởng-tượng thật phong-phú. Tiếc thay, cái tính ưa lập-dị của anh đã phản anh đã bóp nghẹt mất cả một hồn thơ rộng mở trong anh.

Tháng giêng 1957

(1) Ngoài ra, trong tờ sáng tạo số 4 [sic], ra hồi đầu tháng giêng 1957, ta còn được thưởng thức một bài nhan đề:
HÃY CHO TA KHÓC BẰNG MẮT EM,
NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN BUDAPEST.
Với ý tưởng tân kỳ, bài này cũng được một số người thích,

(trích nguyệt san Sinh Lực, số 9, 1/3/1957, tr. 78-82)

-----------

Sau này, năm 1973, trên số Văn đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền, Lê Huy Oanh đã viết khác hẳn, chẳng hạn: “Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố như vậy [tức đoạn đề từ] ở đầu tập Tôi không còn cô độc. Trong cơn giận dữ rất chân thật, tôi đã mạt sát đả kích anh ta thậm tệ để rồi chỉ ít ngày sau tôi dần dần thấy tất cả sự nông nổi bất công của những lời mạt sát đó, những cử chỉ đả kích đó. Tôi đã không ngần ngại “ném cuốn sách ra cửa sổ” để rồi tôi lại len lén bước ra nhặt nó lên, ấp nó vào ngực, mang nó vào nhà. Vậy thì, vậy thì tôi chỉ còn có cách phải chịu thần phục những luật lệ tinh thần của “vị hoàng đế” ấy bởi tôi rất muốn tiếp tục chuyến đi vào lãnh thổ của ông ta” (bài “Ký sự về một chuyến đi kỳ thú vào vùng rung cảm”, tr. 11).


Tập thơ Tôi không còn cô độc:

Phần 1

Phần 2