Feb 7, 2010

Ông Tường

Viet-Studies đăng lại bài báo liên quan tới Nguyễn Mạnh Tường trên The Christian Science Monitor năm 1995, rồi ngay sau đó đăng một bản dịch nhiều khả năng là của chính Trần Hữu Dũng.

Tôi không hiểu sao ông Trần Hữu Dũng lại có thể gọi đây là một bài phỏng vấn. Có lẽ quan niệm của ông khác người.

Nhưng điều tôi không hiểu nhất là tại sao ông đánh giá bài báo "cực kỳ quý hiếm". Nghe nói như vậy, bài báo hẳn là phải rất có giá trị. Đọc xong thì tôi thấy bài báo này có giá trị rất thấp, vì nó viết sai.

Chỉ một chi tiết "Năm 1946, ông Tường trở về Hà Nội hành nghề luật và dạy học" đã cho thấy nhà báo của tờ CSM có hiểu biết hết sức hạn chế về tiểu sử Nguyễn Mạnh Tường, mặc dù trong bài khẳng định là đã gặp ông. Những bài báo kiểu này thường do mấy người muốn tìm đề tài "độc đáo" bằng mọi giá viết ra.

Chi tiết này có thể là sai về lỗi typo, nhưng đọc đến câu ngay tiếp sau thì có thể khẳng định người viết bài thực sự tin vào mốc thời gian ấy: "Đó là lúc ông được gọi vào văn phòng của ông Hồ". Chi tiết thứ hai, tức là NMT gặp Hồ Chí Minh vào năm 1946, có thể kiểm chứng trong các tài liệu, nhưng chi tiết NMT về Hà Nội vào năm 1946 thì hoàn toàn sai. Việc người viết liên kết hai sự kiện vào nhau làm lộ cái sai một cách không thể chối cãi.

Thực tế Nguyễn Mạnh Tường đã trở về Hà Nội sau khi học bên Pháp vào năm nào? Ít nhất là trên dưới mười năm trước đó. Học trò cũ của NMT ở trường Bưởi giờ vẫn còn sống.

Thật là kỳ cục, chẳng lẽ ông Trần Hữu Dũng không hề kiểm tra chi tiết? Mà chính ông là người lập "hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường" trên trang của mình. Chắc là ông Trần Hữu Dũng cũng chẳng hề đọc.

Feb 6, 2010

Phụ chú

Bác TQ hỏi về cái gạch nối. Trước hết tôi cung cấp cho các bác một tài liệu mới khai quật được, trích từ quyển sách mang tên 100 năm phát triển của tiếng Việt của Phụng Nghi, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, từ tr. 49 đến tr. 51. Chẳng biết tác giả là ai, có lẽ là một người nghiệp dư về ngôn ngữ học.

6. Cái gạch nối

1. Trong chữ Việt, cái gạch nối [ct: Dịch từ tiếng Pháp trait d'union. Cũng gọi là cái ngang nối, cái vạch nối, dấu ngang nối, dấu gạch nối, dấu nối] dùng để kết hợp những thành tố viết rời của một từ có nhiều âm tiết. Nếu được viết rời ra thì những âm tiết nói trên sẽ có một nghĩa khác, tức là nghĩa riêng biệt của từng âm tiết.

Thí dụ, từ độc lập có nghĩa tự mình sống, không dựa vào người khác, trái lại, 2 từ độclập đứng riêng sẽ không còn nghĩa như trên nữa.

Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 nầy, những người làm văn học đã sử dụng cái gạch nối trong những trường hợp sau đây:

1.1 Những từ ghép Hán-Việt: tự-do, thuận-thinh-âm, tiềm-thủy-đình, hàng-không-mẫu-hạm

1.2 Những từ thuần Việt:
- từ láy (tiếng đôi - mot double): vững-vàng, đầy-đặn, sắc-sảo, chậm-chậm
- từ ghép (tiếng hiệp - mot composé): biển-dâu

1.3 Nhân danh (tên tục, tên hiệu): Nguyễn-Du, Tố-Như

1.4. Địa danh: Việt-Nam, Trung-Quốc

1.5 Những từ có quan hệ qua lại với nhau: từ điển Hán-Việt, bang giao Việt-Pháp, luật hỏi-ngã, phát triển khoa học-kỹ thuật.

1.6 Danh từ chung phiên âm: cát-xết
Đối với một số tên chung phiên âm đã hoàn toàn Việt hóa, ta bỏ luôn cái gạch nối: cà phê, cà vạt, đô la, ra gu, ti vi, xích lô

1.7 Danh từ riêng phiên âm: Lê-nin, Ca-na-đa

1.8 Một số từ ngữ "kiểu cách" mà các âm tiết không thể tách rời: tại-vì-bởi (thay cho bởi vì), khô-cá-chỉ-vàng [ct: Ta thường nói khô lóc, khô tra, khô sặt... để chỉ khô cá lóc, khô cá tra, khô cá sặt... Khô-cá-chỉ-vàng là 1 loại mới, nếu không có cái gạch nối, e rằng sẽ khó hiểu], chợ-nhà-lồng

1.9 Giữa các con số chỉ "ngày-tháng-năm" [ct: Có nên chăng dùng từ đát (phiên âm date của tiếng Pháp) để thay thế cho "ngày-tháng-năm". Dân gian thường dùng từ quá đát để nói date d'expiration]: ngày 1-1-1993 [ct: Có một số người viết: 1.1.1993 hoặc 1/1/1993]

2. Khoảng từ năm 1975 cho đến nay:

- Trong 4 trường hợp 1.1 đến 1.4, ta đã xóa bỏ hẳn cái gạch nối. Tuy nhiên, ta phải hiểu ngầm là những từ nằm trong 4 trường hợp nầy vẫn luôn luôn được nối với nhau bằng 1 cái "gạch nối vô hình".
- Trong 5 trường hợp 1.5 đến 1.9 ta vẫn còn duy trì các gạch nối.

3. Có một số người đề nghị viết dính các âm tiết ở hai trường hợp 1.1 và 1.2: tựdo, vữngvàng [ct: Nguyên tắc hỏi-ngã, Trần Văn Khải, Thanh Trung thư xã xuất bản, Saigon, 1950]. Việc cải cách nầy không ổn và không được hưởng ứng, lý do là những từ sẽ bị đọc và hiểu sai lệch.

3.1 Những từ ghép viết dính nhau có thể được đọc một cách khác:

bình an viết bìnhan có thể đọc là bì nhan hoặc bìn han
giáo án viết giáoán có thể đọc là giá oán hoặc gi áo án
phát hành viết pháthành có thể đọc là phá thành

3.2 Những từ vốn chỉ có 1 âm nay có thể được đọc tách rời thành 2 âm:

thúy có thể đọc là thú y
khoái có thể đọc là kho ái hoặc khó ai

4. Hiện nay (năm 1993) một số người không làm văn học vẫn còn thói quen dùng cái gạch nối khi viết tên người.

Cũng có tác giả vẫn còn dùng cái gạch nối trong những trường hợp 1.1, 1.2, 1.3: Anh-văn, văn-phạm, đại-danh-từ, tiếp-đầu-ngữ, bất-quy-tắc... [ct: Giúp trí nhớ văn phạm Anh văn, Duy Ân, Nguyễn Hữu Vinh, NXB TP Hồ Chí Minh, 1992]

------------------------

Về cái gạch nối thì tôi cũng có một vài suy nghĩ:

+ Tại sao lại có gạch nối? Cái món nầy (hoc tập bác Phụng Nghi, viết nầy chứ không viết này :) là một thứ tuyệt đối mới trong tiếng Việt. Trước đây các cụ ta viết thậm chí dấu phẩy dấu chấm còn chẳng có, báo hại con cháu sau này xơi món củ đậu đến mệt (hì hì các bác Hán-Nôm biết rõ tôi đang định nói gì).

Theo tôi, gạch nối xuất hiện như một biểu hiện của tâm lý phân vân: khi dùng một bảng chữ cái lạ hoắc để ký âm, hẳn người ta cũng lờ mờ cảm thấy không ổn, vì từ trong các ngôn ngữ phương Tây là đa âm tiết, còn tiếng Việt thì lại đơn âm tiết (tất nhiên không đơn âm tiết một cách tuyệt đối, nếu nhìn lại lịch sử ngữ âm, nhưng thôi tạm bỏ qua). Tôi không biết người khác lý giải cái gạch nối như thế nào, còn với tôi đó là một cách để giả dạng đa âm tiết trong một sự sao phỏng muốn hướng tới mức độ tuyệt đối.

Cái gạch nối chắc chắn gây ra nhiều khó khăn cho in ấn. Thời trước, hẳn các nhà in ở Việt Nam phải mua về hoặc đặt sản xuất vô cùng nhiều dấu gạch nối. Tôi rất không hiểu tại sao lại có sự lãng phí vô lý như vậy. Bác nào rành lịch sử và kỹ thuật in ấn Việt Nam trả lời hộ thì tốt quá, vì ta biết rằng đã từng có lúc Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm viết báo phàn nàn bị thiếu dấu ngoặc đơn ở nhà in nên câu cú cứ lung tung hết cả.

+ Nên sử dụng gạch nối như thế nào? Tôi chia làm hai trường hợp, và chỉ có hai:

Một là gạch nối phân chia mệnh đề, hai là gạch nối trong phạm vi một cụm từ. Khác biệt về hình thức của hai loại này là ở chỗ loại một đòi hỏi dấu cách ở trước và sau dấu gạch, còn loại hai nhất thiết không được có khoảng cách.

Viết nghiêng nhấn mạnh từ "nhất thiết" là vì tôi thấy rất nhiều người không hiểu điều này. Cuộc chiến Bắc-Nam hay tiến bộ khoa học-kỹ thuật thuộc loại thứ hai, nhưng báo chí và sách hiện nay thường xuyên nhét thêm dấu cách vào, thành Bắc - Namkhoa học - kỹ thuật. Đã vô số lần tôi viết báo bị sửa những chỗ như thế, nên kết luận của tôi là các bạn chả hiểu cái gì cả :))

+ Quan điểm của tôi là triệt để bỏ gạch nối, vừa phức tạp hóa vấn đề không cần thiết, vừa không có ích về mặt thẩm mỹ, lại còn tốn thao tác, hao phí biểu bì đầu ngón tay dẫn tới giảm cường lực nhất dương chỉ... tác hại thật là khôn lường.

Trước đây với các từ phiên âm tôi thiên về viết liền, không bỏ dấu tiếng Việt, như là thùng cactông, Matxcơva, toalet... Tôi thấy rất vô lý nếu đã viết liền để giả dạng tiếng nước ngoài mà vẫn bỏ dấu, như là cáctông, Mátxcơva.

Càng ngày tôi càng thấy làm như vậy không hợp lý bằng viết thùng các tông, toa lét, bê tông, còn những gì viết nguyên thì nguyên luôn: sofa chẳng hạn. Nhưng tôi vẫn viết Matxcơva mà không bao giờ viết Moscou hoặc Moscow hoặc Mát-xcơ-va.

+ Tin (vẫn buồn) là phần III vẫn tiếp tục treo lơ lửng, các bác không thoát được đâu mà vội mừng hehe.

Feb 3, 2010

Phiên âm (II)

Phiên âm, tức là mọi chuyện chỉ liên quan đến âm.

Theo tôi, vấn đề này trong tiếng Việt tuy vô cùng phức tạp nhưng tựu trung từ trước đến nay chỉ có hai cách phiên âm: phiên âm trực tiếp và phiên âm gián tiếp.

Phiên âm trực tiếp tôi đã trình bày một cách tổng quát. Để miêu tả một cách đơn giản, đây là cách dùng các âm sẵn có hoặc âm tạo thêm để phiên từ nước ngoài, và đi trực tiếp từ âm nguyên gốc. Đặc điểm nổi bật của cách này là giảm bớt tính chất lạ về tự vị và âm của từ vay mượn. "Xà phòng" trông tự vị không giống "savon" mấy nhưng vẫn là trực tiếp, các âm “xà” và “phòng” đều tồn tại sẵn trong tiếng Việt.

Gián tiếp thì phải thông qua một ngôn ngữ khác. Hiện tượng này ở các ngôn ngữ khác cũng xảy ra, như ai quan tâm tới Marco Polo hẳn đã biết nguồn gốc và con đường phát triển của từ "Cathay". Trong tiếng Việt hiện tượng này vô cùng phong phú, và gần như hoàn toàn thông qua trung gian là tiếng Hán.

Phiên âm trực tiếp và phiên âm gián tiếp trước đây tồn tại song song, thậm chí ở ngay một người. Phạm Quỳnh kể chuyện các quan Nam triều khi nghe tin có ông toàn quyền mới sắp sang thì hỏi tên ông ấy, khi biết ông tên là Doumer thì sợ quá, cho là không thể chấp nhận được, nên nghĩ ngay ra tên Đô-Mỹ để đặt cho ông. Phạm Quỳnh cũng gọi Paris là "Pha lê thành" (ref.:, Tiểu luận tiếng Pháp 1922-1932). Nhưng xu hướng chính của Phạm Quỳnh theo tôi là viết đúng tên như tự vị tiếng Pháp, và cũng thường xuyên dùng phiên âm trực tiếp.

Phiên âm trực tiếp có thể làm nảy sinh nhiều vấn đề, như một vấn đề từng được Đào Duy Anh ghi lại: "Chúng ta cứ xem trong thời Pháp thuộc gần đây, chữ Pháp được dạy ở các trường tiểu học đã do thầy giáo Việt-nam đổi cách phát âm không ít so với cách phát âm của chính người Pháp. Ví dụ chữ cahier người Pháp nói ca-i-ê thì thầy trò người Việt đều nói là cai-dê, chữ travailler, người Pháp nói tra-va-i-ê thì thầy trò người Việt đều nói tra-vay-dê." (Chữ Nôm nguồn gốc cấu tạo diễn biến).

Ở đây Đào Duy Anh đang nói tới hiện tượng tiếng bồi, một biến thể rất thú vị của phiên âm.

Quay trở lại với phiên âm gián tiếp. Cái này thật ra chúng ta đã rất quen, với nước Đức, nước Pháp, nước Anh, nước Tây Ban Nha, Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu... nhưng chắc ít ai còn nhớ những khi cách này được sử dụng một cách triệt để đến mức... như dưới đây.

Đây là trích một vài đoạn trong Thầy trò trong khám, Phan Khôi dịch tiểu thuyết Le Comte Monte Cristo (Bá tước Monte Cristo) của Dumas, đăng phơi-ơ-tông trên Đông Pháp thời báo suốt 31 kỳ, 1928 (chưa dịch hết cả tác phẩm). Nhiều phần Phan Khôi dịch quyển này từ một bản rút gọn, tóm lược của Trung Quốc. Lấy từ Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn, Đông Tây & NXB Đà Nẵng, 2003.

Mở đầu tiểu thuyết trong nguyên bản:

“Le 24 février 1815, la vigie de Notre-Dame de la Garde signala le trois-mâts le Pharaon, venant de Smyrne, Trieste et Naples.”

Phan Khôi dịch:

"Vào khoảng năm 1815, tại cửa biển Mạc-xây nước Pháp có chiếc tàu buồm tên là Phan-long, vững chãi, đẹp đẽ và chạy mau có tiếng trong thời đó."

Các tên riêng được phiên như sau:

Thuyền trưởng Leclère: Lý-khắc-lai
Danglars: Đặng-cách-luân (người mại bản, một trong những kẻ âm mưu hại Edmond Dantès)
Morrel chủ tàu: Mã-lạc-nhi
Edmond Dantès: Đàm-đức-tư

Một đoạn rất hay:

"Lúc Lý-khắc-lai chết giữa đường, chính là lúc hoàng đế của nước Pháp là Nã-phá-luân âm mưu trở về nước mình. Số là, vua Nã-phá-luân hay đánh đông dẹp bắc, làm cho dân nước Pháp đồ khổ, về sau thất bại, bị đày qua cù lao Ên-ba, và bị cầm cố tại đó không được về. Song sự ấy chẳng qua là những người thuộc đảng nhà vua về dòng vua Bua-bông chủ trương mà thôi, còn những người về phe vua Nã-phá-luân, gọi là Nã đảng, thì lại phản đối với đảng kia mà hằng tìm cách cho Nã-phá-luân trở về. Lúc đó, bên Nã đảng đương bí mật vận động cho Nã-phá-luân đi lén về nước, chỉ còn đợi bàn định điều ước với Huê-linh-tôn, ấy là xong việc, Huê-linh-tôn tức là ông tướng đại tài ở nước Anh về sau đánh phá quân Nã-phá-luân tại Hoát-tét-lô."

Và cuối cùng là đoạn Dantès gặp người yêu Mercédès (được phiên thành Mai-tây-đương):

"Edmond et Mercédès étaient dans les bras l'un de l'autre. Le soleil ardent de Marseille, qui pénétrait à travers l'ouverture de la porte,les inondait d'un flot de lumière. D'abord ils ne virent rien de ce qui les entourait. Un immense bonheur les isolait du monde, et ils ne parlaient que par ces mots entrecoupés qui sont les élans d'une joie si vive qu'ils semblent l'expression de la douleur.Tout à coup Edmond aperçut la figure sombre de Fernand, qui se dessinait dans l'ombre, pâle et menaçante; par un mouvement dont il ne se rendit pas compte lui-même, le jeune Catalan tenait la main sur le couteau passé à sa ceinture.«Ah! pardon, dit Dantès en fronçant le sourcil à son tour, je n'avais pas remarqué que nous étions trois.»"

"Đàm thấy Mai nương người đằm thắm ưa nhìn, đầu tóc như mây nước da tợ ngọc, mặc áo ngắn tay từ cùi tay đến cổ tay lòi ra trắng nõn trắng nà, ngón tay mụt măng cầm nhành bông, chân bước đi cách yểu điệu thì anh ta mê mẩn tâm thần. Hai người cầm tay nhau kể lể khúc nôi, rồi lại choàng tay nhau mà cười cợt. Khi ấy Đàm chỉ để tâm giắt mắt vào một mình Mai nương mà thôi, ngoài ra không biết có gì cả, thình lình xây lại thấy một người ra dáng sững sờ ngồi trên ghế dựa, một tay thò vào túi áo núm con dao nhỏ. Đàm vội vàng vừa chào vừa nói rằng: Xin tha lỗi cho tôi, tôi vào nhà mà mắt măng mắt vược không thấy người quý khách."

+ Tin buồn là vẫn còn có một phần III về phiên âm nữa :)

Jan 29, 2010

Sách (VII): Bad Scott & Napônêông


+ Sau Hội hè miên man, lại có thêm một tác phẩm nói không hay ho gì về Scott Fitzgerald, là cuốn tiểu thuyết Alabama Song của Gilles Leroy. Ở đây tác giả lấy giọng của Zelda Fitzgerald để miêu tả một Scott Fitzgerald bất tài, ăn cắp văn của vợ, đồng tính, xấu xa etc. Chuyện chồng ăn cắp văn của vợ, tức là vợ viết rồi chồng ký tên, đã từng xảy ra chẳng hạn như ở cặp Willy-Colette hồi đầu thế kỷ XX. Alabama Song mới là quyển được giải Goncourt 2007, chứ không phải quyển này. Chuyện tôi đã nói một lần rồi, chẳng muốn nói lại nữa. Gilles Leroy cũng cẩn thận, viết ở trong sách rằng đây là một truyện hư cấu, nhưng ai mà biết.

+ Để tưởng nhớ mùi hương.

+ Còn Napônêông? Chắc các bác cũng đoán ra rồi, đó là một loại đèn nêông hiệu Napô :) Giống như là khi người ta nói Ê-min Dô-na viết quyển Lala ấy. Thật ra thì tôi tìm được từ “Napônêông” này trong quyển sách được nhắc tới ở đây, quyển sách được đặc tuyển, quyển sách của năm tại Việt Nam. Thực sự là phải há mồm không ngậm lại được khi đọc cái tin ấy. HNV đúng là……….(kiểm duyệt đục bỏ)……….. Một quyển sách lèo tèo dăm ba bài, không bài nào dài nổi quá 5 trang sách, tức là tất tật chỉ trên dưới một trang A4 (kiểu như mục “Tiếng nói nhà văn”, ai hay đọc báo Văn Nghệ thì biết), không nói được một cái gì đặc biệt, ý tưởng vô cùng nhạt nhẽo, từ ngữ còn không phải là chuẩn hết, ví dụ như không hiểu đúng nghĩa từ “chính kiến”… thế mà là quyển sách của năm. Một trò hề thật là tợn.

+ Đặc biệt cảm ơn hai bạn đã gửi và mang hai quyển sách ở trong ảnh cho tôi. Quyển bên tay phải là Bao người chờ đợi, Đỗ Tử Trình dịch, NXB Thuận Hóa, 1988. Đây chính là tác phẩm đầu tay của Romain Gary, Éducation européenne (Giáo dục châu Âu), in năm 1945 ở bên Anh, khi chiến tranh còn chưa kết thúc. Bản dịch có lời giới thiệu cẩn thận. Quyển bên trái là Chó trắng, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, 1996, xuất bản trong khuôn khổ quỹ tài trợ của Đại sứ quán Pháp. Nguyên gốc quyển này là Chien blanc (1970), đã có phim.

Tra trên trang web Thư viện Quốc gia Việt Nam theo tên Gary không ra kết quả nào, theo tên sách thì ra được Chó trắng nhưng không thấy ra Bao người chờ đợi. Kỳ quặc thật.

Cảm ơn hai bạn vì đã cho tôi sách, và nhất là vì đã giữ sách rất cẩn thận.

Jan 28, 2010

Còn Simone de Beauvoir?


Một hôm ở một hội thảo (tôi ít đi hội thảo hội nghị nhưng không phải là tuyệt đối không :) có người hỏi Simone de Beauvoir ở Việt Nam thì thế nào.

Không chắc lắm về khoản này nhưng tôi cũng có thể kể ra một số cái chính yếu đã có ở Việt Nam:

Le Deuxième Sexe đã dịch, thành Giới nữ. In cách đây khoảng 10 năm. Dịch "giới thứ hai" thành "giới nữ" dĩ nhiên là đã làm khác biệt đi rất nhiều ý tưởng của Beauvoir.

Một quyển non-fiction nữa đã dịch là Tuổi già. Khá kỳ quặc, nhưng đúng là quyển đó. Chắc chắn là Nguyễn Trọng Định có tham gia dịch, chắc cùng vài người nữa.

Tiểu thuyết của Beauvoir cũng có vài quyển (cần nhớ Beauvoir tuy được coi là triết gia nhưng lại từng đoạt giải Goncourt), Nỗi niềm kẻ bất tửNgười đàn bà bị hủy diệt.

Ngoài đó ra, còn cái này :)

Tức là cái ở trong ảnh, số 157, 1/7/1970, có các bài của Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân và mấy bài dịch.

Jan 27, 2010

Émile Zola ở Việt Nam

Để cái title như thế cho nó giống tên luận án tiến sĩ :)

Nhân hôm trước nói chuyện với một bác về Émile Zola, tôi chợt nảy ra ý định xem xem chính xác thì ở Việt Nam đã có những gì của Zola rồi.

Trước tiên, để định vị Zola: Trong đây có tổng danh mục bộ tiểu thuyết lớn của Zola, bộ Les Rougon-Macquart (Gia đình Rougon-Macquart); trong đó cũng có luôn bảng phả hệ, cái hết sức quan trọng trong các saga. Sở dĩ có cái họ kép như vậy là vì bà tổ nhà này lấy hai chồng, ông Rougon thì căn cơ, chăm chỉ làm lụng, con cháu sau này có người làm tới chức bộ trưởng, khôn ngoan ranh ma, đầu cơ chính trị nhìn chung là đủ cả. Ông chồng thứ hai, Macquart thì du thủ du thực, con cháu sau này nhìn chung là tệ hại. Riêng bà tổ thì có chứng điên, sau này hậu duệ cũng có nhiều người điên. Đại khái ý tưởng chung của Zola là xây dựng một bộ tiểu thuyết nhằm chứng minh di truyền có vai trò lớn thế nào trong đời người (nhưng kết thúc khá tươi sáng, với nhân vật nhà khoa học Pascal bỏ thành thị về nông thôn sống với cây cỏ - tập 20 tức tập cuối). Giai đoạn của Zola cũng chính là giai đoạn “khoa học” đang thắng thế, ước vọng về tính chất khoa học đi cả vào trong sáng tác và phê bình văn học, thể hiện rõ nhất ở hai nhân vật rất được Việt Nam ưa chuộng: Taine và Brunetière.

Bộ sách này gồm 20 tập, viết trong vòng khoảng 20 năm, nghĩa là cứ khoảng một năm thì có một tập. Đề cương chi tiết được Zola lên ngay từ đầu, sau đó cứ thế mà thực hiện. Bối cảnh truyện trải rộng, nhưng tập trung ở Plassans, một biến thể của Aix-en-Provence, giống như Balzac luôn đưa thành phố quê hương Tours vào tác phẩm của mình.

Tất nhiên khi đi tìm danh mục sách của một tác giả nào đó thì, một cách tự nhiên, ta sẽ tra trong thư viện quốc gia. Sau đây là tất cả những gì tôi tìm thấy (đã sắp xếp lại theo trình tự xuất hiện trong bộ Les Rougon-Macquart).

+ Mồi ngon cho bầy sói : Tiểu thuyết / Emile Zola; Đinh Mạnh Thoại dịch theo bản tiếng Pháp. - Hải Phòng : Nxb. Hải Phòng, 1989. - 215tr ; 19cm
[La Curée]

+ Chinh phục Platxăng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Nguyễn Thái Đông dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. - Lâm Đồng : Sở Văn hoá thông tin Lâm Đồng, 1988. - 462tr ; 19cm
[La Conquête de Plassans]

+ Lỗi lầm của vị tu sĩ / Emile, Zola; Người dịch: Anh Trần. - Đồng Nai : Nxb. Đồng Nai, 1988. - 323 ; 19cm
[La Faute de l’abbé Mouret]

+ Quán rượu : Tiểu thuyết / Êmin Zôla; Hoàng Lâm dịch. - H. : Văn học, 1987. - 572tr. ; 19cm. - (Văn học hiện đại nước ngoài. Văn học Pháp)
[L’Assommoir]

+ Một trang tình sử : Tiểu thuyết / Emile Zola; Người dịch: Nguyễn Minh Nghiệm, Nguyễn Văn Sách. - Tp. Hồ Chí Minh : Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1989. - 375tr ; 19cm
[Une page d’amour]

+ Hiệu hạnh phúc các bà : Tiểu thuyết / Emile Zola ; Người dịch: Đỗ Đức Dục. - Tp. Hồ Chí Minh : Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001. - 618tr ; 19cm
[Au Bonheur des dames]

+ Nẩy mầm : Tiểu thuyết: hai tập / Êmilơ Zôla ; Huy Phương, Phạm Thuỷ Ba dịch. - H. : Văn học. - 19cm. - (Văn học cổ điển nước ngoài. Văn học Pháp). - 15000d. - 3000b, T.1. - 1995. - 495tr , T.2. - 1995. - 371tr
[Germinal]

+ Giấc mộng vàng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Người dịch: Kim Thoa. - H : Pháp lý, 1989. - 187tr ; 19cm
Giấc mộng : Tiểu thuyết / Emile Zola; Mai Hương dịch từ nguyên bản tiếng Pháp; Huỳnh Lý hiệu đính. - Tp. Hồ Chí Minh : Nxb. Trẻ, 1989. - 205tr ; 19cm
[Le Rêve]

Nhận xét thứ nhất: Chưa bao giờ vấn đề dịch nguyên vẹn bộ sách Zola được đặt ra. Tập đầu, tập giải thích nguồn gốc gia đình Rougon-Macquart, chưa được dịch. Toàn bộ những gì đã dịch nằm lẻ tẻ trong bộ Les Rougon-Macquart, tất cả đều thuộc giai đoạn sau 1986. Có vẻ như Sài Gòn trước 1975 không hề dịch Zola, cũng như không dịch Flaubert. Điều này không tự nhiên lắm, vì trước 1945 nhiều người đã nhắc tới Zola (nhưng hình như cũng chưa có nguyên vẹn cuốn tiểu thuyết nào được dịch) và ngay đầu những năm 1940 Kiều Thanh Quế đã phân tích tính chất “tả thiệt xã hội” của Zola và xếp Vũ Trọng Phụng vào cùng dòng này.

Nhận xét thứ hai (và rất gay cấn :): Thư viện Quốc gia Việt Nam không đáng tin cậy. Danh mục sách của thư viện so với đống sách tôi thu thập được đã thiếu mất một quyển, là Nana, Hoàng Hữu Đản dịch, NXB Văn học, 1995. Nếu tôi nhớ không nhầm thì cả Tiền (L’Argent) lẫn Đất (La Terre) cũng đều đã được dịch, nhưng thông tin này chưa được kiểm chứng. Điều này (thư viện quốc gia thiếu tài liệu) thật ra ai làm nghiên cứu cũng đã biết từ lâu; tình trạng trầm trọng nhất có lẽ nằm ở lĩnh vực văn học, vì đây là lĩnh vực phức tạp hơn cả, nhiều sách vở hơn cả, và cũng gắn chặt với chính trị hơn cả.

Hệ quả của điều này là các nhà nghiên cứu Việt Nam phần lớn bị buộc phải trở thành nhà sưu tầm bất đắc dĩ. Nếu không thì coi như là không nghiên cứu. Công việc sưu tầm sách tuy có nhiều hứng thú nhưng cũng là một công việc mệt mỏi và tốn thời gian.

Nhận xét thứ ba (liên quan tới vấn đề phiên âm :): Vì có chút kinh nghiệm nên khi tra sách của Zola, tôi đã không chỉ tìm kiếm theo từ “Zola” (từ đây mà biết chắc Gianfranco Zola không viết quyển sách nào hehe) mà còn tra theo “Zôla” và “Dôla”; có tra như vậy thì mới ra được toàn bộ danh sách ở trên.

Như vậy, nếu thống nhất ngay từ đầu là chỉ viết tên Zola thành “Zola” thì tôi đã không phải mất công search đến ba lần. Đây chính là một trong các lý do khiến tôi luôn nghiêng về ủng hộ viết đúng tên gốc (hoặc ít ra là theo một cách thống nhất). Michel Houellebecq, chuyên gia đưa ra những chân lý kỳ quặc, từng viết đại ý sự cao quý thì nằm trong cái tivi, còn ở đây ta nên nói tính hợp lý nằm trong các search engin :)

Nhận xét thứ tư (đi liền với câu châm ngôn “có tìm có hơn”): Nhờ đi tìm nên tôi mới biết thêm hai điều: thứ nhất, quả thực Hiệu hạnh phúc các bà có hai tập, và tôi chỉ có tập một huhu. Quyển này tôi có và đọc từ hồi còn bé, đọc xong quyển mình có thì cứ tưởng là đã hết truyện rồi :) thứ hai, ở Việt Nam còn có dịch bài báo nổi tiếng “Tôi tố cáo” (J’accuse) in trên tờ L’Aurore mở màn cho một cuộc tranh đấu xung quanh vụ Dreyfus, khiến Zola phải đi đày (đúng hơn là đi trốn) sang Anh một thời gian và cũng là khởi sự tồn tại của từ “trí thức” (intellectuel) trong đời sống tinh thần của Pháp (từ này, cũng như những từ “dada”, “chủ nghĩa ấn tượng - impressionnisme” thoạt tiên được dùng với hàm nghĩa khá là miệt thị). Về lịch sử trí thức Pháp thế kỷ XX, ref. Michel Winock.

Nguyên văn phiếu tra của Thư viện Quốc gia:

“Tôi tố cáo / Êmin Dôla ; Lời bạt: Misenpolắc ; Người dịch: Lê Thu Thuỷ. - H. : Giáo dục, 1999. - 71tr : tranh vẽ ; 21cm”

Chỗ này thì phiên âm quá đáng, Misenpôlắc hẳn là Michel Polac.

Nhận xét cuối cùng: So sánh Émile Zola với Balzac chẳng hạn, có thể thấy rõ rằng xét về mặt tiếp nhận, ở Việt Nam Zola không có được vị thế lớn như Balzac, thậm chí có thể nói rằng công việc dịch Zola không được nghiêm túc cho lắm. Nhìn bìa những quyển sách đã in ở Việt Nam thì có cảm giác người ta coi Zola là một nhà văn tầm tầm, chuyên câu khách rẻ tiền.

Điều này thật là bất công, vì Zola chính là một trong vài nhà văn thành công nhất trong lịch sử văn học Pháp. Xếp ngang hàng với Zola về mặt danh tiếng và cả độc giả có lẽ chỉ có Guy de Maupassant. Cả hai ban đầu đều được xếp vào danh mục “tự nhiên chủ nghĩa”, nhưng nói vậy không đồng nghĩa với nhà văn tự nhiên chủ nghĩa nào cũng thành công dữ dội như Zola và Maupassant: chẳng hạn Henry Céard, và ngay cả Gustave Flaubert (yes, hồi đầu tiên cũng được xếp là nhà văn tự nhiên chủ nghĩa) cũng còn rất xa mới được vậy. Những quyển thành công nhất của bộ Les Rougon-Macquart (nhất là Nảy mầmQuán rượu, rồi Nana) in được tới quãng 200.000-300.000 bản, ước lượng ra bây giờ có lẽ phải tương đương với ngót hai triệu bản. Zola cực kỳ giàu có, còn Flaubert cả đời nghèo, làm “con gấu vùng Croisset”.

Zola chính là một trong những hiện tượng đầu tiên trong lịch sử về “nhà văn thành công”, khi khái niệm “nhà văn chuyên nghiệp” mới bắt đầu hình thành (ref.: Alain Viala).

Nếu biết sâu hơn một chút, thì Zola cũng có một nghiên cứu bằng tiếng Việt. Thư viện Quốc gia cũng ghi lại rõ ràng, gồm hai phiếu (tất nhiên là tôi biết trước rồi nên mới tra một choách là ra ngay):

Những sáng tạo và nghệ thuật tiểu thuyết của Emile zola : Luận án PTS KH ngữ văn: 5.04.03 / Lê Ngọc Tân. - H., 1996. - 196tr ; 32cm

Chủ nghĩa tự nhiên Zola và tiểu thuyết : Chuyên luận / Lê Ngọc Tân. - H. : Nxb. Hội Nhà văn, 2002. - 321tr ; 21cm
Đây là một luận án phó tiến sĩ (tức tiến sĩ) sau in thành sách, hình như do Phùng Văn Tửu hướng dẫn.

Jan 25, 2010

Mất bóng

Đánh mất đi cái bóng của mình là một việc rất nghiêm trọng. Lịch sử văn chương đã chứng kiến rất nhiều bận các nhà văn nhà thơ miêu tả cái bóng, thậm chí còn đi đến mức bàn luận, chơi đùa, uống rượu với bóng (Lý Bạch); Nhất Linh trong bài thơ mà ông gọi là đầu tay đã viết: “Con thuyền đè sóng tênh tênh vượt/Chiếc bóng sau người lướt thướt theo”. Cũng thỉnh thoảng có người chột dạ: nhỡ ra cái bóng bị mất đi thì sao? Haruki Murakami trong “Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới” (Lê Quang dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn) là một trong số ấy.

Còn trước Murakami, nếu muốn kể tên tác phẩm kinh điển về chủ đề này thì nhất thiết không thể bỏ qua cái tên Peter Schlemihl. Nhan đề đầy đủ của cuốn sách là “Câu chuyện huyền hoặc của Peter Schlemihl hay Người đã bán đi cái bóng của mình” của nhà văn người Đức gốc Pháp Adelbert von Chamisso. Viết năm 1814, cuốn truyện mỏng manh được coi như là một trong những thành tựu đặc sắc nhất của sơ kỳ chủ nghĩa lãng mạn châu Âu. Ở Việt Nam, tác phẩm này tồn tại dưới dạng một bản dịch ngày nay ít người biết đến, “Người mất bóng” (Cô Lữ dịch, Nguyệt Quế xuất bản, 1973).