Jul 16, 2010

Mông, à, mông



Mông là bộ phận cao quý trên con người ta. Vội quá không gọi điện được cho bác Nguyễn Việt Hà xin cái định nghĩa về mông trong từ điển tiếng Việt và 103 câu trích dẫn có liên quan đến mông, phí quá :d

Jul 14, 2010

Sách (XV) Rồi, đã ra rồi

Trời mưa các bác ạ. Ehem, tôi biết thừa các bác lại đang chờ món sperm nhưng thôi nhá, tôi cũng biết thừa các bác lại đang chờ món cà phê một mình nhưng thôi nhá, mà có bác nào chờ cùng một lúc cả đôi thì... ờ... khó nghĩ quá :)

Tôi vào đề chẳng ăn nhập gì, chỉ định nói là trời bắt đầu mát ở Hà Nội thì cũng bắt đầu có sách mới zồi. Đã hết hạn hán chúng ta đã có thể ăn xôi.

Mấy quyển sách mới cho các bác đọc này:

1. Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật, Cynthia Freeland, Như Huy dịch, giới thiệu và chú thích, NXB Tri Thức, tủ sách "Tri thức phổ thông". Quyển này có thể coi là quyển tiếp sau của Thế mà cũng gọi là nghệ thuật ư? cũng Cynthia Freeland và cũng Như Huy. Bác Như Huy bây giờ có biệt danh mới rồi, oách cực: triết gia bộ đội há há, hoặc một ca rất khó trong lịch sử nhân loại :d Nghiêm túc thì tôi thấy An Introduction to Art Theory không phải "dẫn về" mà là "dẫn vào".

2. Du khách bất đắc dĩ của Anne Tyler, oách đấy.

Jul 12, 2010

Niên biểu Foucault

Niên biểu và tác phẩm của Foucault mà tôi soạn ra, nhiều thuật ngữ vẫn ở tình trạng tạm bợ. Bộ sách Dits et Écrits (Nói và viết) gồm 4 tập, khoảng 3.000 trang, Gallimard ấn hành năm 1994, tập hợp các bài viết lẻ và trả lời phỏng vấn của Foucault. Di chúc của Foucault viết rõ: Pas de publication posthume, không được in những gì còn ở dạng bản thảo, nên sau này ngoài bộ Dits et Écrits này sẽ chỉ có 13 quyển bài giảng của Foucault tại Collège de France (1971-1984) cùng một số bài giảng khác in bên Mỹ, được coi là các phát ngôn chính thức của Foucault.

Niên biểu Michel Foucault
(các sự kiện chính; nguồn: bộ sách Dits et Écrits)

1926. 15/10: Foucault sinh ra tại Poitiers, trong một gia đình cả nội ngoại đều là bác sĩ; ông nội Foucault từng là bác sĩ chữa bệnh cho người nghèo tại Nanterre, tại đây có một phố mang tên Foucault.

1942. Nhận bằng tú tài cổ điển (baccalauréat classique) mặc dù chưa đủ tuổi.

1943. Vào học lớp dự bị dành cho học sinh muốn thi các trường lớn (grande école) tại Poitiers (trường Henri-IV).

Jul 10, 2010

Thư viện. Cơ thể. Cái chết

Tôi có khuynh hướng thích đọc nhiều của những ai từng viết hay về thư viện. Trong số những người viết đặc biệt hay về thư viện, có hai người thuộc vào hàng cao nhất trong bảng xếp hạng của cá nhân tôi.

Thứ nhất là Walter Benjamin, cái câu mà tôi cũng đã nhiều lần nhắc tới (thì phải), câu Benjamin nói Paris giống như một thư viện có dòng sông chảy cắt ngang. Cầu (passerelle) Simone de Beauvoir mà tôi nói tới hôm trước chính là cây cầu nối thẳng vào Thư viện Quốc gia (mới), François Mitterand (chứ không phải Richelieu như trước kia), và phòng đọc ở dưới hầm dành cho dân nghiên cứu, nơi tôi chôn thân suốt mấy mùa mưa (hehe) còn ở dưới mực nước sông Seine. Mỗi lần lên khỏi đó lúc chập choạng tối là lại thấy như mình đội mồ sống dậy, con vampire khát máu đang bay đi tìm nạn nhân mới cho bữa đêm :p

Người còn lại là Michel Foucault, người từng nói về thư viện ở New York, đại ý đây là nơi có tất tật mọi người đã chết trên đời, và cái chốn này lại nằm ở giữa nơi có tất tật người còn đang sống trên đời.

Nhu cầu lớn nhất của tôi hiện nay (thật ra mình nhiều nhu cầu lắm nhưng thôi cứ nói thế cho nó khiêm tốn :d) là tìm lại được những gì đã viết về các thư viện từng lê chân qua, í lộn, lê mông qua.

Jul 8, 2010

Sách (XIV) Đọc gì khi không có gì để đọc

Để tôi tiết lộ với các bác một bí mật cực kỳ bí mật nhé: trời nóng như thế này ở Việt Nam người ta không in sách mới đâu, từ cả tháng nay chẳng có gì mới cả. Bí mật này cũng tương tự bí mật về bọn gấu suốt mùa đông chỉ có ngủ là ngủ :)

Thế thì làm gì? Hỏi làm gì là hỏi làm gì thật, chứ không phải để nhại cái bác gì đầu hói hay có ảnh trên mấy cái huy hiệu. Làm gì bây giờ?

Không có gì mới, thì ta nên đọc cổ điển.

Thật ra tôi muốn nói là ngay cả ở hoàn cảnh bình thường, tức là không nóng đến như thế này, các bác cũng nên đọc cổ điển.

Jul 4, 2010

(7) Phong Hóa chửi

Thật ra thì Phong hóa đã làm gì để có được danh tiếng và tiếng tăm như vậy trong lịch sử báo chí Việt Nam? Ở đây tôi trích lục lại một số bông hoa tươi thắm nhất :d trong kho tàng chửi của Phong hóa, trích lục từ phần trích lục của Thanh Lãng trong Phê bình văn học thế hệ 1932, làm thế cho nhanh vì ngồi lục lại Phong hóa để chép thì ngại lắm.

Nước Nam có hai người tài
Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai sừ Uỳnh
Một sừ béo núng rung rinh
Một sừ lểu đểu như hình cò hương
Không vốn liếng chẳng ruộng nương
Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu
Bây giờ đang sỉa sói nhau:
Người câu “lập hiến”, kẻ câu “trực quyền”
- “Thưa các ngài, thực vi tiên
Muốn xem chiến đấu quẳng tiền vào đây”

“Báo Phong-Hóa ra buổi sớm, buổi chiều đi chơi rong phố, nghe thấy trẻ con hát:

Nước Nam có hai người tài
Thứ nhất sừ Ĩnh, thứ hai sừ Uỳnh

Hai câu phong dao có lọt vào tai hai ông lãnh tụ hai đảng lập hiến và trực trị, chắc hai ông tài cũng… mát dạ.

Ông Quỳnh có lẽ chưa vừa lòng. Ông có giận, xin đừng giận người làm thơ, nên giận cái người đặt ra điệu thơ sáu tám. Chả nhẽ lại viết, thứ nhất sừ Uỳnh, thứ hai sừ Ĩnh.”

“Mừng cụ Hoàng Tăng-Bí tăng phúc, tăng lộc, tăng thọ, tăng… bí.

Mừng cụ Huỳnh-Thúc-Kháng dùng chữ nho nhiều bằng năm bằng mười năm ngoái.

Mừng ông Nguyễn-Khắc-Hiếu say bằng năm bằng mười năm ngoái.

Mừng ông Nguyễn-Trọng-Thuật sinh thêm được năm bảy người An-Nam mới.

Mừng ông Dương-bá-Trạc đầu năm học xong tiếng Ăng-Lê, giữa năm học xong tiếng Quảng-Đông, cuối năm nói truyện ông Đinh-bộ-Lĩnh.

Mừng búi tó ông Nguyễn-văn-Tố năm nay được vào viện Bác-cổ Hà-Nội.”

“Trứng vịt khó tiêu, không biết còn cái gì khó tiêu hơn nữa không? Hỏi thế tất ai cũng buồn sắc mặt mà đáp lại rằng: Có văn của cụ Hoàng-tăng-Bí.

Nhưng văn cụ bảng tuy có bí, nhưng chưa đến nỗi bí như văn ông cử Dương-bá-Trạc, tự là Tuyết-Huy, văn cụ Hoàng bí vì thể văn cụ dài lướt thướt như cái áo thụng nhưng cụ còn có tư tưởng. Đến như ông Dương-Bá-Trạc, văn ông giống như cái thùng sắt tây, ngoài bóng trong rỗng không có tư tưởng gì. Vì thế văn ông lại bí hơn một bực mà bí lại bí “rỗng”.

Ngày xưa, Chu Du 3 lần hộc máu, ngẩng cổ lên giời mà than rằng:

“Giời đã sinh Du sao còn sinh Lượng?”

Độc giả báo chí nước Nam mấy lần ngủ gật cũng nên ngáp mà than rằng:

Giời đã sinh ra cụ bảng Hoàng, sao còn sinh ra ông cử Dương?”

“Bà Tương Phố xưa làm bài thơ “giọt lệ thu” đăng trong Nam-phong, ai cũng khen là lâm ly, sầu thảm, thảm thiết, ảo não, và buồn rầu.

Tính ra bài văn đó có 61 chữ vừa “than ôi”, “ôi”, và “lệ”, chia ra như sau này:

29 chữ “than ôi”
18 chữ “ôi”
14 chữ “lệ”

Một bài độ bốn trang, mà có những 61 những ấy chữ, thì than ôi! Làm gì mà chẳng bi thương!”

“Báo “Annam” của ông Vĩnh đã là báo “Annam mới” thì báo “Annam” của ông Hiếu hẳn là báo “Annam cũ”. Ông Vĩnh mới ít, mà ông Hiếu cũ nhiều. Nên báo ông Vĩnh phải đặt là “Annam mới và cũ” mà báo ông Hiếu là “Annam cũ cũ” hay “cũ cũ” không cho xong chuyện.”

Làm thơ chửi Tản Đà (họa nguyên vận một bài thơ của Tản Đà chửi trước):

Anh lên giọng rượu khuyên Phong-hóa
Sặc sụa hơi men khó ngửi quá
Đã dạy bao lần tai chẳng nghe
Hẳn còn nhiều phen mồm bị khóa
Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu
Lưỡi ngắn thì nên co lại nhé
Phong-hóa mà không hóa nổi anh
Túy nhân quả thực là nan hóa

“Trong nước Nam tưởng chỉ có một tờ báo cổ là báo Nam-Phong. Dè đâu lại có báo Đông-Thanh. Báo Nam-Phong không định cổ mà thành ra cổ, báo Đông-Thanh định tâm cổ mà cổ thật.”

---------------

Cuộc đối đầu thế hệ bao giờ cũng diễn ra ở bất kỳ nền văn hóa nào có một chút độc lập tính, có lúc nó cũng âm thầm, nhưng vài lúc nó bùng phát. Cuộc tranh luận (đúng hơn là cãi cọ) mang tên La Querelle des Anciens et des Modernes trong văn học Pháp cuối thế kỷ XVII là một ví dụ: thủ lĩnh bên “cựu” là Boileau, thủ lĩnh bên “tân” là Perrault.

Việt Nam đến đầu những năm 1930 có một cuộc như vậy. Ngay Nhân văn-Giai phẩm giai đoạn sau theo tôi cũng có nhiều phần là như vậy. Lúc nào cũng có đối đầu giữa thế hệ này và thế hệ kia, sẽ có lúc nó trở thành một cuộc chiến thực thụ. Sở dĩ các nhân vật Nhân văn bị đàn áp như vậy, theo tôi, cũng một phần là vì họ đã thắng thế.

Điều hay là trong những cuộc chống chọi, khi có độ lùi thời gian để nhìn lại, thì ta sẽ thấy rằng không hẳn phe nào thắng hẳn như trận Waterloo. Cuộc tranh cãi giữa Picard và Barthes xung quanh Racine đầu những năm 1960 cho thấy rằng khi viết Critique et Vérité để trả lời pamphlet của Picard, nhiều lần Barthes đã cố cãi chứ không thực sự có lý. Phe cựu cũng có lý, phe tân cũng có lý, nhưng điều quan trọng hơn hết là trong những cuộc tranh cãi ấy, phe già có lý ít.

Jul 1, 2010

Tàu hỏa đối chiếu

Một ai đó, hình như Ngô Phan Lưu, từng ví tiếng còi tàu với tiếng kèn saxophone. Của đáng tội, nhìn một đoàn tàu bò đi ở xa xa tôi thường xuyên nghĩ tới một con giun đất. Con giun đất mãi mà không đào hết đất, các đoàn tàu thì mãi mãi không dừng lại.

Tàu Shinkansen của Nhật Bản có một sự thuận tiện kinh hoàng: khách đi tàu không bao giờ phải ngồi quay lưng về hướng đi của đoàn tàu, vì băng ghế ngồi có thể dễ dàng xoay ngược lại. Dĩ nhiên, bạn cũng có thể nhất định lúc nào cũng ngồi ngược, nếu thuyết phục được những người bên cạnh. Tàu hỏa Việt Nam còn thuận tiện hơn: những chuyến tàu tôi đi hồi bé, người ta mắc võng nằm ngay phía trên những cái ghế, mỗi lần tàu lắc là như có thể bắn ra khỏi cửa sổ (hồi đó mới thế, sau này tài ném đá của mấy chú bé nông thôn làm nhà tàu phải may lưới sắt bịt hết cửa sổ lại). Người ta còn trải áo mưa nằm trên sàn tàu, dưới gầm ghế. Ký ức của tôi hẳn là có biệt tài thiên vị những điều tốt đẹp, nên tôi chỉ còn nhớ đã từng nằm trên bao nhiêu là người chứ không nhớ có lần nào nằm dưới ai.