Ấy đấy, cái ông Balzac có thể gây ra bao nhiêu điều và đồng thời có thể làm tắc nghẽn khối chuyện khác. Kể từ khi bắt đầu "tổng phổ" Balzac, vụ "Hà Nội từ 1947 đến 1954" ắc tắch quá :p
Giờ lại tiếp tục. Vả lại, nó sẽ là một "vệt" rất dài, rất rất dài. Thậm chí, nó sẽ không là "vệt" đâu. Và nó sẽ thực sự là "Hà Nội từ 1947 đến 1954".
Showing posts with label nguyen-cong-hoan. Show all posts
Showing posts with label nguyen-cong-hoan. Show all posts
Mar 30, 2017
Jan 14, 2016
Trọng Lang
Ô, một khi bắt tay vào việc, tôi không bỏ qua bất kỳ một góc khuất nào đâu. Kể từ khi biết là mình phải vẽ ra hình ảnh văn chương Việt Nam, không một cái gì mà tôi không từng chạm đến.
Kể cả Trọng Lang, tác giả của một thứ văn chương phải nói là cực kém. Nhưng thật ra, Vũ Đình Chí tức Tam Lang, rồi Vũ Bằng và Vũ Trọng Phụng, ở trong mảng "phóng sự", có hơn gì không? Không, tôi không nghĩ là có hơn gì cả. Cùng một loại.
Kể cả Trọng Lang, tác giả của một thứ văn chương phải nói là cực kém. Nhưng thật ra, Vũ Đình Chí tức Tam Lang, rồi Vũ Bằng và Vũ Trọng Phụng, ở trong mảng "phóng sự", có hơn gì không? Không, tôi không nghĩ là có hơn gì cả. Cùng một loại.
May 12, 2013
Ngô Đình Nhu và Thư viện, Thư tịch
Quyển sách này:
in năm 1972, chứa đựng một ít thông tin về vai trò của Ngô Đình Nhu đối với ngành Thư viện, Thư tịch Việt Nam.
in năm 1972, chứa đựng một ít thông tin về vai trò của Ngô Đình Nhu đối với ngành Thư viện, Thư tịch Việt Nam.
Aug 19, 2012
Hồi ký Phạm Cao Củng
đến bài này là vừa tròn bốn năm, đủ 48 bài, trong bốn năm ấy chưa lần nào bị đổ trang :p
từ số tới bắt đầu đổi format
Phạm Cao Củng: một cuộc đời
Chỉ là một cuộc đời, nhưng một cuộc đời mới đáng nói làm sao. Chỉ riêng
việc Phạm Cao Củng năm nay tròn 100 tuổi đã khiến người đọc bị rơi ngay
vào một chấn động nhẹ trong cảm thức về thời gian: những đàn anh của
ông, như Phùng Bảo Thạch, như Lê Văn Siêu, những bạn bè của ông, như Lê
Tràng Kiều, rồi cả những “đàn em” của ông, như Đặng Thế Phong, như Hoàng
Quý, tất thảy đều tưởng như xa lắc xa lơ, sống ở một thời đã rất cách
quãng với chúng ta; không những thế nhiều người trong số họ đã kịp trở
thành mục từ trong từ điển hay đốm sáng trong kho tàng huyền thoại lịch
sử. Vậy mà trên bìa sau cuốn “Hồi ký Phạm Cao Củng” (Nhã Nam & NXB
Hội Nhà văn) ta đọc thấy dòng chữ ông mới viết cách đây chưa lâu:
“Florida, ngày 21 tháng 4, 2011. Cám ơn tất cả độc giả đã ái mộ thám tử
Kỳ Phát từ nhiều năm qua”.
Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.
Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.
Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.
Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.
Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.
Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.
Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.
Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.
Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.
Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.
Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.
Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.
Nhị Linh
Mar 10, 2010
02. Có mấy loại phê bình?
Phàm đã viết phê bình văn học, người ta không tránh được xu hướng, thậm chí là ham muốn, xếp loại các tác phẩm. Phê bình văn học gần như đồng nghĩa với sắp xếp, định giá, nhưng cũng có người nói rằng xét về từ nguyên, từ “phê bình” (critique) có chung gốc Latinh với từ “tội ác” (crime).
Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).
Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).
Mar 9, 2010
01. Họ gọi nhau là bạn
Mở thêm một mục mới, để cho thấy một cách cụ thể báo chí Việt Nam ngày nay đã phỉ nhổ như thế nào vào lịch sử báo chí từng có.
-------------------
Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.
-------------------
Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.
Feb 23, 2010
Dùng hồi ký làm tài liệu
Có dùng hồi ký làm tài liệu nghiên cứu được không? Câu trả lời là: Không dùng thì biết dùng cái gì :)
Thế nhưng đọc hồi ký thì phải đối chiếu chéo rất ác liệt, nếu không thì sai kinh lắm. Nhân đọc bài của Lại Nguyên Ân kể lại chuyện Nguyễn Công Hoan từng nghi ngờ vụ "cây đào Tô Hiệu" nên thử quay sang chính Nguyễn Công Hoan xem sao. Cây đào này thì xưa nay bị đàm tiếu nhiều lắm rồi.
Hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Văn học, 1971) viết về Vũ Ngọc Phan (học cùng lớp Sơ đẳng A, Bưởi): "Ở trong lớp bấy giờ, tôi phục nhất anh Vũ ngọc Phan về quốc văn. Anh ít tuổi hơn tôi."
Ngay đầu sách, Nguyễn Công Hoan "khai" mình sinh năm 1903. Mọi tiểu sử đều viết Vũ Ngọc Phan sinh 1902. Như vậy Vũ Ngọc Phan nhiều hơn Nguyễn Công Hoan một tuổi là ít nhất.
Nhưng đó chỉ là một chuyện rất nhỏ. Đoạn sau đây mới hay:
"Hôm có tiết này, thầy vào lớp, đố ngay học trò Concierge nghĩa là gì. Trong lớp có một trò tên là Nguyễn Phan Long, người Nam bộ, theo cha, là ông phán gì đó, ra Bắc. Nguyễn Phan Long rồi sau này là một tay giỏi tiếng pháp, mở báo viết bằng tiếng pháp ở Sài gòn. Hắn cũng là một đại địa chủ tối phản động. Thấy thầy đố chữ khó quá, cả lớp chịu. Thầy mới giảng là ông dượng. Lúc này Long mới xin nói, và giảng là người canh cổng. Chắc ở Sài gòn, Long đã trông thấy người làm công việc này. Hai thầy trò cãi nhau về chữ nghĩa, rồi thầy mở tự vị ra tra. Thầy nghĩ một lát, rồi khen là Long nói đúng.
Tan học, ở lớp về nhà, Nguyễn Phan Long nói với bạn: "Đù mẹ thằng X, hôm nay tao chẳng được gì, còn lỗ vốn mất một chữ!"
Hôm sau, người bạn mách thầy giáo là thằng Long nó chửi thầy. Thầy tức lắm, đem việc ấy lên trình ông đốc. Tên hiệu trưởng gọi Long lên bàn giấy, bắt mang theo sách vở. Nó phân xử thế nào? Nó cho Long lên học lớp trên! Tây cần người giỏi tiếng pháp hơn là cần người biết tôn kính thầy giáo" (tr. 32-33) [sự việc khoảng năm 1916].
Chi tiết này cực kỳ đắt giá, chưa thấy ai nêu ra cả :)
Nguyễn Công Hoan đang nói đến Nguyễn Phan Long nào? Theo các nét tiểu sử mà Nguyễn Công Hoan miêu tả, nhà địa chủ, lại còn "đại địa chủ tối phản động", người Nam Kỳ, ra Bắc học, giỏi tiếng Pháp, mở tờ báo tiếng Pháp ở Sài Gòn... thì ta hiểu đó là Nguyễn Phan Long giỏi tiếng Pháp huyền thoại, con nhà cực giàu, đồng chí của Bùi Quang Chiêu ở Đảng Lập hiến, thời điểm đám tang Phan Chu Trinh cùng Bùi Quang Chiêu rất dũng cảm tỏ rõ thái độ ủng hộ, nhưng sau này theo đánh giá của Thiếu Sơn là đã không dám chịu khổ, từ bỏ con đường, nhận chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên thời Quốc gia Việt Nam. Nguyễn Phan Long mở mấy tờ báo tiếng Pháp, nổi tiếng là L'Écho du Vietnam, và cũng có tờ tiếng Việt là Đuốc nhà Nam.
Nhưng lại không phải, thế mới thú. Nguyễn Phan Long nhân vật lịch sử sinh năm 1889, ra Bắc học Albert Sarraut rồi sang Pháp du học, năm 1921 đã in tiểu thuyết Le Roman de Mademoiselle Lys (Chuyện đời cô Huệ, nhà in Bắc Kỳ xuất bản). Tức là Nguyễn Phan Long này không thể học cùng Nguyễn Công Hoan sinh mãi tận năm 1903 tức là kém 14 tuổi được.
Thế tức là Nguyễn Công Hoan đã nhầm lẫn, nhớ mang máng một anh bạn rồi ghép luôn vào với Nguyễn Phan Long kia, để tha hồ mà chửi :) Năm 1971 khi xuất bản quyển hồi ký, thì chắc các biên tập viên NXB Văn học cũng không rành các nhân vật kiểu như Nguyễn Phan Long.
Tất nhiên có khả năng còn tồn tại một Nguyễn Phan Long khác cũng oách không kém, nhưng tôi không tin.
Đợt trước có một người tặng tôi đúng quyển Mademoiselle Lys này mới ly kỳ chứ hihi. Hay là bây giờ tôi gom các chi tiết kiểu này lại để viết một quyển Mảnh vụn văn học sử theo chân Bằng Giang Nguyễn Văn Hòa nhỉ :))
Thế nhưng đọc hồi ký thì phải đối chiếu chéo rất ác liệt, nếu không thì sai kinh lắm. Nhân đọc bài của Lại Nguyên Ân kể lại chuyện Nguyễn Công Hoan từng nghi ngờ vụ "cây đào Tô Hiệu" nên thử quay sang chính Nguyễn Công Hoan xem sao. Cây đào này thì xưa nay bị đàm tiếu nhiều lắm rồi.
Hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Văn học, 1971) viết về Vũ Ngọc Phan (học cùng lớp Sơ đẳng A, Bưởi): "Ở trong lớp bấy giờ, tôi phục nhất anh Vũ ngọc Phan về quốc văn. Anh ít tuổi hơn tôi."
Ngay đầu sách, Nguyễn Công Hoan "khai" mình sinh năm 1903. Mọi tiểu sử đều viết Vũ Ngọc Phan sinh 1902. Như vậy Vũ Ngọc Phan nhiều hơn Nguyễn Công Hoan một tuổi là ít nhất.
Nhưng đó chỉ là một chuyện rất nhỏ. Đoạn sau đây mới hay:
"Hôm có tiết này, thầy vào lớp, đố ngay học trò Concierge nghĩa là gì. Trong lớp có một trò tên là Nguyễn Phan Long, người Nam bộ, theo cha, là ông phán gì đó, ra Bắc. Nguyễn Phan Long rồi sau này là một tay giỏi tiếng pháp, mở báo viết bằng tiếng pháp ở Sài gòn. Hắn cũng là một đại địa chủ tối phản động. Thấy thầy đố chữ khó quá, cả lớp chịu. Thầy mới giảng là ông dượng. Lúc này Long mới xin nói, và giảng là người canh cổng. Chắc ở Sài gòn, Long đã trông thấy người làm công việc này. Hai thầy trò cãi nhau về chữ nghĩa, rồi thầy mở tự vị ra tra. Thầy nghĩ một lát, rồi khen là Long nói đúng.
Tan học, ở lớp về nhà, Nguyễn Phan Long nói với bạn: "Đù mẹ thằng X, hôm nay tao chẳng được gì, còn lỗ vốn mất một chữ!"
Hôm sau, người bạn mách thầy giáo là thằng Long nó chửi thầy. Thầy tức lắm, đem việc ấy lên trình ông đốc. Tên hiệu trưởng gọi Long lên bàn giấy, bắt mang theo sách vở. Nó phân xử thế nào? Nó cho Long lên học lớp trên! Tây cần người giỏi tiếng pháp hơn là cần người biết tôn kính thầy giáo" (tr. 32-33) [sự việc khoảng năm 1916].
Chi tiết này cực kỳ đắt giá, chưa thấy ai nêu ra cả :)
Nguyễn Công Hoan đang nói đến Nguyễn Phan Long nào? Theo các nét tiểu sử mà Nguyễn Công Hoan miêu tả, nhà địa chủ, lại còn "đại địa chủ tối phản động", người Nam Kỳ, ra Bắc học, giỏi tiếng Pháp, mở tờ báo tiếng Pháp ở Sài Gòn... thì ta hiểu đó là Nguyễn Phan Long giỏi tiếng Pháp huyền thoại, con nhà cực giàu, đồng chí của Bùi Quang Chiêu ở Đảng Lập hiến, thời điểm đám tang Phan Chu Trinh cùng Bùi Quang Chiêu rất dũng cảm tỏ rõ thái độ ủng hộ, nhưng sau này theo đánh giá của Thiếu Sơn là đã không dám chịu khổ, từ bỏ con đường, nhận chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên thời Quốc gia Việt Nam. Nguyễn Phan Long mở mấy tờ báo tiếng Pháp, nổi tiếng là L'Écho du Vietnam, và cũng có tờ tiếng Việt là Đuốc nhà Nam.
Nhưng lại không phải, thế mới thú. Nguyễn Phan Long nhân vật lịch sử sinh năm 1889, ra Bắc học Albert Sarraut rồi sang Pháp du học, năm 1921 đã in tiểu thuyết Le Roman de Mademoiselle Lys (Chuyện đời cô Huệ, nhà in Bắc Kỳ xuất bản). Tức là Nguyễn Phan Long này không thể học cùng Nguyễn Công Hoan sinh mãi tận năm 1903 tức là kém 14 tuổi được.
Thế tức là Nguyễn Công Hoan đã nhầm lẫn, nhớ mang máng một anh bạn rồi ghép luôn vào với Nguyễn Phan Long kia, để tha hồ mà chửi :) Năm 1971 khi xuất bản quyển hồi ký, thì chắc các biên tập viên NXB Văn học cũng không rành các nhân vật kiểu như Nguyễn Phan Long.
Tất nhiên có khả năng còn tồn tại một Nguyễn Phan Long khác cũng oách không kém, nhưng tôi không tin.
Đợt trước có một người tặng tôi đúng quyển Mademoiselle Lys này mới ly kỳ chứ hihi. Hay là bây giờ tôi gom các chi tiết kiểu này lại để viết một quyển Mảnh vụn văn học sử theo chân Bằng Giang Nguyễn Văn Hòa nhỉ :))
Subscribe to:
Posts (Atom)