Showing posts with label nguyen-vy. Show all posts
Showing posts with label nguyen-vy. Show all posts

Apr 20, 2021

vài Nguyễn Tuân


"Bên bàn đèn, tôi nằm còng queo như con tôm rang"

(Nguyễn Tuân)


Vậy, là trở lại với Nguyễn Tuân; nhưng cũng là trở lại với Nghiêm Xuân Huyến, chỉ mới hơi nhắc đến ởkia.

(cũng như vài nhân vật khác nữa)


Feb 4, 2017

Hà Nội từ 1947 đến 1954: Ông Thủ hiến nói

Nguyễn Vỹ, ngay khi người Nhật đảo chính Pháp, vội vã rời Hà Nội. Như vậy là khôn ngoan, vì Nguyễn Vỹ thuộc vào các nhân vật Việt Nam hiếm hoi rất sáng suốt, nghi ngờ dã tâm của người Nhật tại Đông Dương từ rất sớm. Tôi không hiểu tại sao trí thức Việt Nam bao nhiêu đời cứ sùng bái Nhật Bản như vậy - điều này, cái sự sùng bái này, có lẽ mới chính là một trong những nguyên nhân không nhỏ cho tình hình be bét của chúng ta, chứ chẳng phải cái gì khác đâu.

Ta biết chi tiết nêu trên nhờ Tuấn chàng trai nước Việt. Một điều rất đáng tiếc: bộ sách đã dừng lại ở thời điểm 1945, ta không có được lời chứng thêm nữa về những năm Nguyễn Vỹ làm báo tại Đà Lạt, một giai đoạn rất quan trọng. Năm 1952, như ta đã biết, tờ Phổ thông ra số 1, sau mới chuyển về Sài Gòn; cũng tại Sài Gòn: tờ Thằng Bờm. Nhưng trước đó, Nguyễn Vỹ còn làm một số tờ báo khác, trong đó đặc biệt quan trọng là tờ Dân chủ. Dưới đây, ở thời điểm cuối năm 1949, là bài Nguyễn Vỹ phỏng vấn Nguyễn Hữu Trí, Thủ hiến mới nhận chức của Bắc Việt, thế chỗ Tổng trấn Nghiêm Xuân Thiện (đăng Dân chủ).

Jan 27, 2016

Văn chương miền Nam: Thằng Bờm và Tuổi Hoa

Vốn dĩ, những thứ như thế này, tôi không mấy khi muốn trưng bày, vì nhiều người khi nhìn thấy sẽ nhận ra rất nhiều thứ trong lòng mình bị khuấy động rất mạnh (ví dụ xem thêm ở đây, ở đâyở đây):


Dec 12, 2015

Nguyễn Vỹ

Lịch sử Việt Nam có một điều, là dành rất ít vị trí cho những nhân vật phản kháng. Nguyễn Vỹ là người gây khó chịu khủng khiếp, kiểu người không hay thấy ở Việt Nam; thời nào, dưới chế độ nào, Nguyễn Vỹ cũng gây khó chịu, và những điều khó chịu ấy đã gây cho bản thân Nguyễn Vỹ không ít hệ lụy.

Ta có một cái nhìn xách mé của Hoài Thanh, và dường như về sau, người ta toàn đánh giá văn nghiệp Nguyễn Vỹ dựa trên đánh giá của Hoài Thanh. Nhưng, lại thêm một lần nữa, Hoài Thanh đâu có tài năng bằng Nguyễn Vỹ, và thêm một lần nữa đánh giá của Hoài Thanh hoàn toàn không đáng tin. Thế Lữ là một người khác chê thơ Nguyễn Vỹ dữ dội, nhưng giờ đây đọc lại, tôi thấy thơ Nguyễn Vỹ không hề kém thơ Thế Lữ, thậm chí còn hơn nhiều.

Một quyển rất hiếm và rất sớm của Nguyễn Vỹ, giờ đây gần như không ai còn biết, viết vào thời điểm người Nhật mới bắt đầu xuất hiện ở Đông Dương:


Oct 21, 2015

Rất nhiều thơ, quá nhiều thơ

Có thể có một thái độ nào đối với thơ, ở trong hoàn cảnh Việt Nam?

Kể từ ngày nhận ra là cần phải khinh bỉ thơ, cần phải nuôi dưỡng một niềm khinh bỉ đích thực về phía thơ, tuyệt giao với niềm hứng khởi ca hát nhảy múa của thơ, tôi mới bắt đầu thấy rõ thơ hơn. Ví dụ, Xuân Diệu không thể so nổi với Huy Cận. Có một cuốn sách rất nổi tiếng về Thơ Mới, nói đến các đỉnh cao của Thơ Mới, trong đó Xuân Diệu đứng đầu. Nhưng không thể coi Xuân Diệu là một nhà thơ rất lớn được.

Jun 21, 2015

Văn học miền Nam: Mặc Đỗ

Càng ngày, văn chương miền Nam với tôi càng là văn chương của những nhà văn sau này ít được nhắc tới. Phần lớn chọn thái độ im lặng, một sự im lặng rất dễ làm người ta tưởng rằng sự nghiệp trước đây của họ không đồ sộ.

Mặc Đỗ là một trong số những nhà văn ấy. Có lẽ lần đầu tiên tôi nhìn thấy tên Mặc Đỗ là ở một bài điểm sách đăng trên tờ Sáng tạo, Mặc Đỗ đã chê cuốn Nam et Sylvie của Phạm Duy Khiêm một cách rất kỹ càng.

Mặc Đỗ cuối thập niên 50 là như thế này:

Feb 23, 2015

Thế Lữ

1934-1935 là khoảng thời gian làm nên tên tuổi một người sẽ còn nổi tiếng rất lâu dài trong nền văn chương Việt Nam: Thế Lữ.


Tập Mấy vần thơ này vẫn được coi là điểm mốc đầu tiên mạnh mẽ nhất của Thơ Mới (bản 1935 hiếm quá nên ở đây chỉ dùng tạm bản 1941 hehe). Còn Vàng và Máu xuất bản năm 1934 ở "Annam xuất bản cục" với lời tựa của Khái Hưng sau này không mấy danh giá.

Oct 11, 2013

Bonjour tristesse ở Việt Nam

Trong lịch sử đã có bao nhiêu bản dịch Bonjour Tristesse của Françoise Sagan ra tiếng Việt?

Nhiều người trước nay vẫn nói là cuối những năm 50 Nguyễn Vỹ đã dịch đăng quyển này trên tờ Phổ Thông của ông, và quả thật, khi tôi tìm được vài số Phổ Thông giai đoạn đầu thì tình hình như sau:

Bonjour Tristesse đã khởi đăng trên Phổ Thông từ số 1 và liên tục kéo trong vòng trên dưới 10 số đầu tiên, người dịch ký "Diệu Huyền" (tôi chưa có đầy đủ các số đăng bản dịch này).

Nhiều nguồn thông tin đáng tin cậy đã xác nhận Diệu Huyền hay Cô Diệu Huyền chính là bút danh của Nguyễn Vỹ, như vậy quả thật Nguyễn Vỹ đã dịch Bonjour Tristesse. Đây là bản dịch đầu tiên tác phẩm này ở Việt Nam và gần như chắc chắn bản dịch này chỉ tồn tại trên tạp chí chứ không in thành sách.


Aug 19, 2012

Hồi ký Phạm Cao Củng

đến bài này là vừa tròn bốn năm, đủ 48 bài, trong bốn năm ấy chưa lần nào bị đổ trang :p

từ số tới bắt đầu đổi format


Phạm Cao Củng: một cuộc đời

Chỉ là một cuộc đời, nhưng một cuộc đời mới đáng nói làm sao. Chỉ riêng việc Phạm Cao Củng năm nay tròn 100 tuổi đã khiến người đọc bị rơi ngay vào một chấn động nhẹ trong cảm thức về thời gian: những đàn anh của ông, như Phùng Bảo Thạch, như Lê Văn Siêu, những bạn bè của ông, như Lê Tràng Kiều, rồi cả những “đàn em” của ông, như Đặng Thế Phong, như Hoàng Quý, tất thảy đều tưởng như xa lắc xa lơ, sống ở một thời đã rất cách quãng với chúng ta; không những thế nhiều người trong số họ đã kịp trở thành mục từ trong từ điển hay đốm sáng trong kho tàng huyền thoại lịch sử. Vậy mà trên bìa sau cuốn “Hồi ký Phạm Cao Củng” (Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn) ta đọc thấy dòng chữ ông mới viết cách đây chưa lâu: “Florida, ngày 21 tháng 4, 2011. Cám ơn tất cả độc giả đã ái mộ thám tử Kỳ Phát từ nhiều năm qua”.

Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.

Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.

Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.

Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.

Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.

Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.

Nhị Linh