Showing posts with label ngoc-giao. Show all posts
Showing posts with label ngoc-giao. Show all posts

Jan 18, 2020

Hà Nội từ 1947 đến 1954 (6) Năm 1952

Tiếp tục câu chuyện "Hà Nội 47-54":

Cuộc 4754, như vậy, tôi đã nối được gần như liền mạch, qua hết các năm:

1947
1948
1949
1950 (nhớ xem phần comment, hết sức quan trọng)

(à vậy là vẫn còn thiếu 1951, nhưng 51 thì quá dễ, sẽ sớm bổ sung)

May 5, 2018

Hai truyện của Ngọc Giao

Trước tiên, xem ở kia.

Trong các tập truyện ngắn Ngọc Giao in trong mấy năm trở lại đây, tôi không thấy có hai truyện ở dưới, đăng trên một tờ tạp chí in tại Hà Nội đầu thập niên 50 của thế kỷ 20. Tôi nghĩ vẫn còn nữa, các truyện của Ngọc Giao còn chưa được tìm ra. Câu chuyện Ngọc Giao vẫn còn dài, mà càng lúc tôi càng thấy đặt ra thêm nhiều vấn đề.

Mar 18, 2018

Hà Nội từ 1947 đến 1954: Thế còn năm 1949?

Trước tiên: xem ở kia. Và trước tiên, phải khẳng định một điều: tất tật sử gia, từ người Việt Nam cho đến người nước ngoài, đã hoàn toàn thất bại với giai đoạn "Hà nội 47-54".

Xác định được một người ở đâu vào thời điểm nào là một chuyện, nhưng biết người đó làm những gì vào thời điểm ấy lại là một chuyện khác hẳn. Sau 1948, Nhượng Tống làm gì vào năm tiếp theo, 1949? Về cuối năm 49, Nhượng Tống sẽ bị ám sát, nhưng còn trước đó thì sao?

Jan 28, 2017

Hà Nội từ 1947 đến 1954 (3) Sách trong thành phố

Đâu là quyển sách đầu tiên in ở Hà Nội sau ngày 19 tháng Chạp năm 1946?

Thật ra, cả đời tôi gần như chẳng hề làm gì (bỏ luôn hai chữ "gần như" cũng vẫn được :p) ngoài tự đặt ra vài câu hỏi, những câu hỏi thật ra chẳng có gì đáng nói, rồi sau đó tìm cách đi trả lời. Nếu trả lời được thì tốt, còn như nếu không trả lời được, theo tôi nhiều lúc lại còn tốt hơn nữa. Vậy thì, tại Hà Nội đổ nát sau khi chiến tranh bùng nổ, quyển sách nào nên được tính là quyển sách đầu tiên được in?

Oct 25, 2012

Một kiểu khác, một dạng khác

(bài thứ năm trong loạt, bài thứ ba là bài này, viết như một phản ứng lại hiện tượng bỗng đâu xuất hiện một lúc lắm chuyên gia về Nabokov thế; giờ thì hiểu ra thêm: không phải bỗng dưng Nabokov xuất hiện, vì ngoài Nabokov thời Thanh Tâm Tuyền, thời này cần phải đọc Nabokov mới mong hiểu được một số nhà văn, ví dụ Nguyễn Huy Thiệp (đặt cục gạch :p))




Họ quá nghịch ngợm và ngỗ nghịch, họ viết quá nhiều và luôn luôn tạo cảm giác thật dễ dàng, thậm chí dễ dãi trong viết văn, họ lại lặn ngụp quá sâu và theo một lối quá sức tự nhiên vào cuộc đời; những điều ấy dường như đi ngược lại quan niệm thông thường vẫn coi nhà văn là những con người hoặc sống trên tháp ngà hoặc vô cùng chắt bóp, dè sẻn thiên tài sẵn có, người đời lại hay đồng lòng miêu tả những con người đó như những kẻ nhiều mộng tưởng, lắm sầu muộn, đau đớn cho cõi người, nếu không thì ít ra cũng phải hết sức tập trung vào bản thân mình, vân vân và vân vân.

Nhưng các nhà văn “thuộc một kiểu khác, một dạng khác” vẫn tồn tại, thường là một cách phong lưu vượt xa các hạng nhà văn khác, và giờ đây nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, với sự tái xuất hiện của một số tác giả kiểu ấy (trong những năm vừa rồi là Lê Văn Trương, Lan Khai, Ngọc Giao, Phạm Cao Củng, Sơn Vương…), đã hiện ra chân dung một số nhân vật vừa lạ lùng vừa “bình dân”, lạ lùng cả trong sự bình dân của họ, như một sự tồn tại lẽ ra phải dễ hiểu nhưng lại tương đối khó chấp nhận trong một môi trường tương đối nhiều ý tưởng chung lệch theo hướng khác và được chấp nhận rộng rãi.

Mấy nhà văn tương đối cùng thế hệ: Lê Văn Trương, Phạm Cao Củng và Ngọc Giao là những người như vậy. Về sự ngỗ nghịch của mình, bản thân Ngọc Giao từng viết trong một bản tự miêu tả: “một thằng như tôi, ham chơi, nghịch ngợm, hiếu để tâm, lễ độ tùy lúc, lại hay làm đỏm, hay vòi tiền đi xem chiếu bóng” (Đốt lò hương cũ, Phương Nam & NXB Văn học, 2012, tr. 31). Phạm Cao Củng thì khi còn rất trẻ ký tên “Phạm Thị Cả Mốc” trêu chọc Tú Mỡ lừng danh của báo Phong Hóa và Lê Văn Trương thì lưu lạc bất tận trước khi “vào làng văn, báo”.

Cả Lê Văn Trương lẫn Phạm Cao Củng đều thích “giỡn chơi” với cả cuộc đời lẫn văn chương đến nỗi từng sai “đồ đệ” và “đàn em” cùng tham gia công cuộc sáng tạo với mình, nói nôm na là thay vì tự viết sách thì họ “nhờ” người khác viết giùm cho những đoạn mà họ đánh giá là dễ viết, để có đủ số trang sách, kịp giao cho báo chí hay nhà xuất bản. Đã có thời Lê Văn Trương bị các nhà xuất bản từ chối bản thảo, phải nhờ đến Ngọc Giao do nhìn thấy tên bạn mà tuy biết trong đó có khối thứ viết cho xong, thậm chí còn là người khác viết nhưng vẫn ký duyệt để đưa Tân Dân Vũ Đình Long in. Sau này vào Sài Gòn rồi, Lê Văn Trương cũng bị tẩy chay, có lẽ một phần cũng bắt nguồn từ chuyện này. Nhưng từ một khía cạnh nhìn nhận khác, cũng nhờ có cách suy nghĩ đơn giản với văn chương như vậy mà Phạm Cao Củng lại giúp được báo chí và sách vở bán chạy, còn Lê Văn Trương suốt một thời gian dài có tiền “tụ họp Lương Sơn Bạc văn chương” tại nhà mình.

Điều thể hiện rõ nhất ở những nhà văn kiểu “giỡn chơi” như Lê Văn Trương và Phạm Cao Củng là họ rất hiểu độc giả muốn đọc gì. Họ thực sự hiểu, đến mức có thể bán được sách thông qua “hệ thống hàng xén”, điều mà chắc không một nhà văn nào thuộc “một kiểu khác, một dạng khác” với họ có thể làm được. Sự “hiểu cuộc đời” này, chẳng hạn ở Phạm Cao Củng, hoàn toàn khác xa và vượt trội hơn hẳn so với những cuộc đi thực tế, một cách thực hành sáng tác văn học rất thịnh hành sau này mà vô số nhà văn đã trải qua nhưng hầu như không để lại được nổi tác phẩm sáng giá nào thực sự bám vào cuộc đời.

Đọc những gì Ngọc Giao viết về Hà Nội, có thể dễ dàng thấy ông biết từng ngóc ngách của cuộc sống, quan tâm đến cả sân khấu, võ thuật, in ấn, cùng trăm nghìn thứ rất hay bị coi là vớ vẩn trong mắt không ít người. Phạm Cao Củng thì “như không” mà lập đoàn kịch diễn ở quê, tham gia hoạt động phản gián, tình báo, mở nhà in… Lê Văn Trương thì nổi tiếng là một cao thủ “gồng trà kha”. Đây là những con người biết cách xoay xở hoạt náo trong cả cuộc đời lẫn văn chương. Và những tác phẩm của họ, giờ đây để lại, rất nhiều đã được thời gian minh chứng giá trị, như loạt truyện trinh thám Kỳ Phát của Phạm Cao Củng, những tiểu thuyết Trường đời, Lòng mẹ, Người anh cả của Lê Văn Trương, những Đất, Cầu sương, Cô gái làng Sơn Hạ của Ngọc Giao.

Bản thân Ngọc Giao cũng có ý thức rõ rệt về “kiểu” của mình, trong Đốt lò hương cũ, ông nói đến “cái kiểu người Hà Nội”, mà ông mô tả: “Tôi tự cho mình có cái thói quen lẩm cẩm là cứ thích ra đường dưới những cơn mưa, cơn gió” (tr. 72). Những hứng mưa, hứng gió cuộc đời ấy phản ánh thái độ sống của những con người như vậy.

Họ không được nói đến nhiều, nhưng sự đồng thanh tương khí giữa họ hé lộ một cái tình rất đáng nói đến. Đây là Ngọc Giao viết về Lê Văn Trương: “Số lượng tác phẩm khổng lồ của Lê Văn Trương, trước khi in, tôi đều đọc bản thảo, thật tình, chưa hề bắt gặp một truyện nào thiếu đạo đức, vắng cái hào khí của con người đất Việt”. Điều này rất khác với nhiều đánh giá ta vẫn thấy không ít ở trong chuyên ngành văn học sử Việt Nam sau này. Mặc kệ người ta có thể nghĩ gì, những người thuộc “cùng một lứa bên trời lận đận” đó hiểu nhau và thực tình yêu quý nhau.

Vì nhiều lý do, suốt một thời những con người như thế này phải gánh chịu rất nhiều nghi kỵ. Những liên lụy do bút mực, những tai hại của đời văn chương chữ nghĩa, những hậu quả của “trường văn trận bút” nơi “tối hạ thị văn chương” thì được nhắc tới nhiều, nhưng là chủ yếu trên bình diện một số “án văn tự” được lựa chọn, những lừng danh kiểu “Nhân Văn-Giai Phẩm” hay “xét lại”, nhưng vẫn còn đó nhiều “vụ án” thuộc kiểu khác, thuộc dạng khác. Ngọc Giao từng “dính” những sự việc nhìn lại thì nhỏ bé nhưng phương hại không nhỏ đến cuộc đời ông, như vụ việc “Nam Cao trộm gà”. Cũng một thời, Lê Văn Trương gần như bị giới nghiên cứu, phê bình lờ đi, thảng hoặc có nhắc đến trong một chuyên luận về một đề tài rộng thì người ta cũng hay gài vào vài lời cảnh báo đến thứ văn chương nguy hại và mỉa mai “triết lý sức mạnh” (nhan đề một cuốn sách của Lê Văn Trương in ở nhà Hương Sơn vào năm 1941) của ông. Phạm Cao Củng thì mắc “tai nạn” theo một kiểu khác: đơn giản là ông gần như hoàn toàn bị lờ đi trong suốt một thời gian dài.

Nhưng mọi thứ qua đi rồi, ít nhất những con người ấy, bằng cách thức khiêm tốn của mình (họ có những hành động rất bất thường nhưng càng đọc càng thấy họ khiêm tốn, chừng mực), cho ta thấy rằng văn chương rộng lớn đến mức bao chứa được rất nhiều “kiểu khác” và “dạng khác” như vậy. Tuy thế, có cảm giác văn chương Việt Nam bề ngoài có vẻ mở rộng ra nhưng thực chất lại thu hẹp lại không ít, và thời nào qua là đã qua hẳn, đúng như một ngậm ngùi của Ngọc Giao: “nhưng thời ấy qua rồi” (Đốt lò hương cũ, tr. 148).

Sep 11, 2012

Sách (LVI) sách nhỏ

sách nhỏ là sách khổ nhỏ, có báo khổ nhỏ thì cũng có sách khổ nhỏ

Hà Nội những năm 50 của thế kỷ trước:



sau quyển sách này, Văn Tâm (ông con rể của Cao Xuân Huy) dính trường văn trận bút suốt vài chục năm, có lẽ nhờ thế mà trở thành một nhà sưu tầm sách và đồ cổ rất oách; Nguyễn Xuân Huy vẫn xuất hiện đây đó trong "cao trào hồi ký" hiện nay, quyển sách đã in lần đầu vào năm 1944

vẫn Hà Nội, nhà xuất bản Cây Thông:


sang đến Sài Gòn:






(đây là Du Tử Lê văn xuôi chứ không phải Du Tử Lê thơ)

Phan Lạc Tuyên (và Lê Tuyên): nhân vật đã bị quên lãng rất nhiều:


bộ sau đây thì khổ to (cảm ơn TS VVN)



thêm :pp

thêm nữa :)))


Vòng tay học trò ;)



Sep 9, 2012

Thêm sách

Mấy tháng hè trời thì nắng rực rỡ nhưng ấy lại chính là mùa chết của sách vở ở Việt Nam. Tại các nước khác sách vở mùa hè vẫn bán được vì anh em và nhất là chị em hay mua sách cầm đi du lịch, nằm trên bãi biển mà đọc. Người Việt Nam cũng đi du lịch nhiều, nhưng ra bãi biển tay bận ăn ghẹ nên hơi bẩn, không đọc sách được.

Nhìn chung cứ đến hè là sách vở ở Việt Nam rơi vào vận bĩ, năm nào cũng thế, nhưng hè năm vừa rồi (2012) thì là bĩ của bĩ :) Dẫu vậy, cũng đã đến lúc phải hết (phúc cho kẻ nhẫn nại), giờ là sách mới nhé:

- Nỗi buồn thời cắp sách, Daniel Pennac, Thi Hoa dịch, NXB Phụ nữ. Pennac xuất hiện ở Việt Nam đã khá nhiều, nhưng thời Bà tiên súng cạc binCô gái trên thị trường văn chương (đại khái loạt truyện gia đình Malaussène với nhân vật trung tâm Benjamin Malaussène) hình như rất ít người biết, giờ chỉ toàn thấy nhắc tới Cún bụi đời, Mắt sói, Như một cuốn tiểu thuyết và vài cuốn khác. Nỗi buồn thời cắp sách (Chagrin d'école) cho biết mẹ tác giả, đã gần trăm tuổi, lúc nào cũng lo ông con đã sáu mươi phải chịu một cuộc sống không ra gì vì học dốt quá.

- Đắm & Những truyện ngắn khác của Mai Sơn, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn. Tập truyện của anh Mai Sơn gồm "Đắm đuối" là một truyện vừa đặt ở đầu rồi thêm năm truyện ngắn nữa sau đó, có khung cảnh chủ yếu của một người trải nghiệm đoạn cuối một cuộc chiến tranh và sống sang một thời khác một cách chìm lấp, bình thản nhưng nhiều hoang vắng.

- Đi dọc Hà Nội, Nguyễn Ngọc Tiến, Chibooks & NXB Thời đại. Đùa chứ, không thể ngờ khi viết về Đi ngang Hà Nội lớ quớ thế nào tôi lại đoán trúng "ngang" sẽ phải đi kèm với "dọc". Đời đúng là nhiều khi cũng dễ đoán :p Trong tập này (vẫn có lời giới thiệu của Nguyễn Hòa) có bài viết về một vấn đề mà thanh niên thế hệ chúng ta hẳn rất quan tâm: những hàm răng "tê ta". Đọc quyển này cùng Đốt lò hương cũ của Ngọc Giao sẽ rất tuyệt.

- Phương Đông lướt ngoài cửa sổ, Paul Theroux, Trần Xuân Thủy dịch, Nhã Nam & NXB Thế giới. Nhìn chung ở một nền xuất bản như Việt Nam, sự xuất hiện của một người như Paul Theroux hơi giống với một phép màu, hơi tương tự trường hợp Kapuscinski trước đây (đọc Theroux và Kapuscinski cùng xử lý đề tài châu Phi sẽ thấy những khác biệt vô cùng lớn, nhưng những cách nhìn đơn lẻ ấy bổ sung cho nhau). Phương Đông lướt ngoài cửa sổ là khi Theroux đi khắp châu Á, đến cả Việt Nam, và quả thật nói đến tàu hỏa (xe lửa) là người ta nghĩ đến ngay Orient Express và Trans-siberia.

- Tiểu thời đại của Quách Kính Minh.

Và cuối cùng, tuy không nói rõ ra như ở trường hợp Đi dọc, đi ngang Hà Nội nhưng xin thú nhận là cách đây hơn một năm ngửi một cái là tôi đã đoán được bạn Tư sẽ viết tiểu thuyết. Và quả nhiên là đúng. Chúc mừng.

(ngửi gì thì tôi sẽ không nói :p)

Sep 4, 2012

Ngọc Giao viết về xe lửa

với rất nhiều tác phẩm của Ngọc Giao in lại trong thời gian vừa qua, cộng một số di cảo, ta đã có thể thấy ông đích thực là một nhà văn đặc biệt, một nhà văn lớn


“Những ngày xa xưa, ai đã từng xuôi ngược trong những chuyến đi gần đi xa, trên các toa tàu hỏa được khó nhọc kéo đi bởi cái đầu tàu xấu xí phì phò nhả khói, tất nhiên còn lưu giữ trong trí nhớ những nhà ga nhỏ bé đứng chơ vơ đơn độc trên cánh đồng mênh mang hiu quạnh, ngày đêm ít có bóng người”.

“Ở lứa tuổi xanh rờn ấy, tôi tự đắc là khỏe mạnh, ít bỏ lỡ dịp trổ cái vốn võ thuật ít ỏi của mình, nhờ một núi truyện kiếm hiệp Tàu đăng câu khách trên hầu hết báo chí của thủ đô, hơn nữa, tuổi trai chưa vợ, tôi thích cái chuyện “ân oán giang hồ” vặt, mê lăn các tuyến đường đất nước, nhất là đường sắt. Mê đường sắt bởi lý do: trong toa tàu chạy xuyên đêm mịt mờ tối sáng, luôn ánh lên một đôi mắt biếc, một nụ cười duyên, tiếng nói ngọt ngào có hiệu lực ru mấy hành khách đang ngủ gật và làm tỉnh táo mấy gã đầu xanh, tim đập rộn ràng, mở to mắt đoán tìm ánh mắt ấy, nụ cười, giọng nói ấy tất phải của người đẹp hành hương. Thế rồi, tới lúc sáng trời, họ đã nhanh chóng trở thành đôi bạn chim xanh, say sưa viết trang tình sử. Tuổi xanh, ở thuở nào cũng vậy, con người sống với trời tình biển hận, nghĩa là phải có yêu đương, ngủ cũng mơ yêu, thức cũng mơ yêu, yêu đến già, đến chết”.

“Chao ôi, cái ga Lạc Đạo bé nhỏ này! Một đời người có muôn nghìn thương nhớ”.

“Bún riêu bà Bơ ăn với đậu nướng chợ Đường Cái, ăn vào hai bát thì cô vợ đoảng sắp bỏ chồng cuốn gói theo giai cũng phải ở lại ăn thêm dăm bát nữa mới chịu lìa chồng. Cái miệng bà Bơ bún riêu mà nở ra thì cụ sắp tới giờ viên mãn cũng nam mô xin ở lại cõi tạm này thêm một giáp”.

“Nhân viên ga xép có ba người: xếp ga, người bẻ ghi, người cắm cờ đỏ xách đèn xanh đỏ giơ lên đón những chuyến tàu vào ga, dừng bánh trước sân ga. Sau này, tổng giám đốc xe lửa hạ lệnh: Con số ba người phục vụ ga xép, rút xuống còn hai. Không cần người cầm đèn đỏ, việc này xếp ga đảm nhiệm, bớt một nhân công, com-pa-nhi Vân Nam đỡ tốn tiền chi phí”.

“Thôi rồi. Hết cả rồi. Trải hơn bán kỷ, thất thảy con người lẫn cảnh vật ở đây, ở đó, đều cuốn theo thiên luật “hữu hình hữu hoại”, trở về bụi cát.

Chao ôi, cái ga xép Lạc Đạo tôi yêu, tôi quý thời trai trẻ, như kẻ hành hương yêu thánh tích, ngày nay không còn dấu vết, chỉ là một bãi hoang tàn”.

(trích từ "Ga xép", Đốt lò hương cũ, Phương Nam & NXB Văn học, 2012)


Mar 9, 2010

01. Họ gọi nhau là bạn

Mở thêm một mục mới, để cho thấy một cách cụ thể báo chí Việt Nam ngày nay đã phỉ nhổ như thế nào vào lịch sử báo chí từng có.

-------------------

Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.

Dec 1, 2009

Không vội

Đọc thấy câu "Tôi còn nói nhiều về Thơ nữa. Không vội, tôi mới 28 tuổi" của Trần Dần trích từ Nhật ký Trần Dần, 1954, đoạn mở đầu bằng "Vào chiến tranh, tôi muốn thơ tôi thế nào?" đặt ở đầu Đi! Đây Việt Bắc! (hùng ca - lụa, 1957), in lại năm nay (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn; cuối sách có lời bạt Lại Nguyên Ân mới viết, tiêu đề "Đôi dòng ghi sau tác phẩm Đi! Đây Việt Bắc! hùng ca - lụa của Trần Dần". Lại nhớ đến Vũ Trọng Phụng: 28 tuổi Vũ Trọng Phụng đã kịp chết, đã kịp "viết để không chết" (theo cách nói của Maurice Blanchot) xong xuôi. Nhớ đến Vũ Trọng Phụng là vì NXB Phụ nữ vừa cho in Hà Nội cũ nằm đây của Ngọc Giao, một trong các nhân vật quan trọng của Tiểu thuyết thứ bảy, tức là một trong những tờ báo "trẻ" ra đời nhằm lật đổ sự thống trị của tập đoàn Tự Lực (tức là Tự Lực văn đoàn) của Phong hóaNgày nay (triền miên trên Tiểu thuyết thứ bảyHà Nội báo, đều của Tân Dân Vũ Đình Long, đó là chưa kể đến Ích Hữu, ít nhất trong những số đầu, là các tranh cãi liên miên, nhiều khi xúc xiểm nhau nặng nề của hai phái).