Quê nhà tưởng tượng
Mar 30, 2014
Salman Rushdie (4) Quê nhà tưởng tượng
"Imaginary Homelands" là bài tiểu luận được Salman Rushdie viết không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành, và trở thành nhan đề chung cho tập tiểu luận giai đoạn 1981-1991.
Mar 27, 2014
Salman Rushdie (3) Fatwa, hay là văn chương trước áp chế và kiểm duyệt
Nói đến cuộc đời và văn nghiệp Salman Rushdie, nếu muốn toàn
diện một cách tương đối, lẽ dĩ nhiên không thể bỏ qua “án fatwa” mà ông từng phải
gánh chịu. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh vào yếu tố này thì ta sẽ dễ đi đến chỗ
thu giảm Salman Rushdie thành “nhà văn từng chịu fatwa”, điều này cũng bất công
không kém nếu bàn về Salman Rushdie mà né tránh fatwa.
Fatwa do lãnh tụ Khomeini tuyên vào năm 1989 đẩy Salman
Rushdie vào một tình thế nguy hiểm đến tính mạng thường trực. Nó ảnh hưởng rất
lớn đến cuộc sống riêng của Rushdie, như ta thấy rõ trong hồi ký Joseph Anton. Sống ở một đất nước xa lạ
nhưng thật ra gần gũi vì đã gắn bó từ thuở nhỏ, tại một xứ tự do nhưng thường xuyên
phải được cảnh sát chăm sóc, Salman Rushdie rơi vào một tình thế nghịch lý kép.
Điều đó khiến cho cuộc xa nhà thực sự trở thành lưu vong (The Satanic Verses cũng nhanh chóng bị cấm
ở Ấn Độ), và điều kiện cuộc sống tự do (thân thể và ngôn luận) bị phá hỏng. Giống
như là hiện tại bỗng dưng bị quá khứ đuổi kịp, mà quá khứ thì lại to lớn khổng
lồ hơn hẳn hiện tại; hoặc giả giống như “hợp đồng với quỷ” (Faustian contract)
do không xem xét kỹ nên Rushdie đã bỏ sót mất một điều khoản về “sự quá đà”.
Mar 26, 2014
Salman Rushdie (2) Ở giữa
Sau những cái tên riêng luôn luôn có ý nghĩa, nhiều khi có ý nghĩa lớn, như đã thấy, ta chuyển đến khái niệm "ở giữa", khái niệm hết sức quen thuộc ở Salman Rushdie (Rushdie đã bắt đầu bài tiểu luận danh tiếng "Imaginary Homelands" với một đoạn văn có trích dẫn câu mở đầu của tiểu thuyết The Go-Between của Hartley).
Ở giữa quá khứ và hiện tại, ở giữa Ấn Độ và nước Anh, ở giữa man rợ và văn minh, ở giữa tự do và áp chế.
Bài tiểu luận này, đặt ở đầu tập tiểu luận cùng tên Imaginary Homelands - thực sự là một tác phẩm quan trọng trong văn nghiệp Salman Rushdie (kiểu như Crowds and Power đối với Canetti, Inner Workings đối với Coetzee hay The Captive Mind đối với Milosz) - được Salman Rushdie trình bày năm 1982 tại London, Festival of India. (tức là không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành)
Câu trích dẫn cuốn tiểu thuyết của L. P. Hartley: "The past is a foreign country", quá khứ là một đất nước xa lạ. Một đất nước xa là mà ta phải tìm về, trong toàn bộ sự bất toàn của thời gian và ký ức lộn xộn như một tấm gương vỡ.
Ở giữa quá khứ và hiện tại, ở giữa Ấn Độ và nước Anh, ở giữa man rợ và văn minh, ở giữa tự do và áp chế.
Bài tiểu luận này, đặt ở đầu tập tiểu luận cùng tên Imaginary Homelands - thực sự là một tác phẩm quan trọng trong văn nghiệp Salman Rushdie (kiểu như Crowds and Power đối với Canetti, Inner Workings đối với Coetzee hay The Captive Mind đối với Milosz) - được Salman Rushdie trình bày năm 1982 tại London, Festival of India. (tức là không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành)
Câu trích dẫn cuốn tiểu thuyết của L. P. Hartley: "The past is a foreign country", quá khứ là một đất nước xa lạ. Một đất nước xa là mà ta phải tìm về, trong toàn bộ sự bất toàn của thời gian và ký ức lộn xộn như một tấm gương vỡ.
Salman Rushdie (1): Những tên riêng
Ta có thể bắt đầu với Salman Rushdie bằng cách đi ngược, với tác phẩm (lớn) gần đây nhất: Joseph Anton. A Memoir; trong cuốn sách này, sự "đi ngược" cũng được Rushdie nhấn mạnh bằng tên chương "A Faustian Contract in Reverse": trong khi viết The Satanic Verses, phía trên bàn viết Rushdie dán một mảnh giấy ghi dòng chữ "To write a book is to make a Faustian contract in reverse".
Người như Salman Rushdie, từng trải qua những năm tháng khó khăn vật lộn, không hẳn về vật chất mà vì những đau khổ nội tâm do không viết văn được cho ra hồn, phải lay lắt sống đời copywriter cho hãng Ovilgy, hẳn hiểu rất rõ hợp đồng với quỷ tức là thế nào; nhất là khi đề tài cuốn sách nổi tiếng nhất của Rushdie (nhưng chưa hẳn là cuốn sách vĩ đại nhất) là về "satanic verses", nguyên gốc là lời mặc khải "dỏm" mà Muhammad nhận được.
Người như Salman Rushdie, từng trải qua những năm tháng khó khăn vật lộn, không hẳn về vật chất mà vì những đau khổ nội tâm do không viết văn được cho ra hồn, phải lay lắt sống đời copywriter cho hãng Ovilgy, hẳn hiểu rất rõ hợp đồng với quỷ tức là thế nào; nhất là khi đề tài cuốn sách nổi tiếng nhất của Rushdie (nhưng chưa hẳn là cuốn sách vĩ đại nhất) là về "satanic verses", nguyên gốc là lời mặc khải "dỏm" mà Muhammad nhận được.
Mar 24, 2014
Sách tháng Ba 2014
Tôi phải kết thúc sớm mục sách trong tháng, sớm hơn nhiều so với thường lệ, trước khi đống sách mới của Hội chợ Sài Gòn kịp thực sự ập xuống :p
Cho đến giờ đã lũ lượt đổ về nhiều lắm rồi.
- Trần Hậu Yên Thế, Song xưa phố cũ, NXB Thế giới, 351tr. (sách khổ vuông), 150.000đ.
Không nghi ngờ gì nữa, đây là một công trình nghiên cứu lịch sử-mỹ thuật mà chúng ta muốn có từ rất lâu, nó rất có giá trị trong lựa chọn đề tài (cửa, ban công, các chi tiết nhỏ) của nhà ở Hà Nội, giá trị trong công phu sưu tầm tư liệu, hình ảnh, rất kỳ công phân loại (tuy rằng cách phân loại của tác giả có thể không thuyết phục được mọi độc giả). Với những người sống ở Hà Nội lâu năm (như tôi), cuốn sách còn đem lại những hiểu biết mới về một số ngôi nhà mà mình biết khá rõ, thậm chí quen biết chủ nhà. Tóm lại, đây là một cuốn sách hay trên nhiều phương diện.
Cho đến giờ đã lũ lượt đổ về nhiều lắm rồi.
- Trần Hậu Yên Thế, Song xưa phố cũ, NXB Thế giới, 351tr. (sách khổ vuông), 150.000đ.
Không nghi ngờ gì nữa, đây là một công trình nghiên cứu lịch sử-mỹ thuật mà chúng ta muốn có từ rất lâu, nó rất có giá trị trong lựa chọn đề tài (cửa, ban công, các chi tiết nhỏ) của nhà ở Hà Nội, giá trị trong công phu sưu tầm tư liệu, hình ảnh, rất kỳ công phân loại (tuy rằng cách phân loại của tác giả có thể không thuyết phục được mọi độc giả). Với những người sống ở Hà Nội lâu năm (như tôi), cuốn sách còn đem lại những hiểu biết mới về một số ngôi nhà mà mình biết khá rõ, thậm chí quen biết chủ nhà. Tóm lại, đây là một cuốn sách hay trên nhiều phương diện.
Mar 23, 2014
Phạm Xuân Ẩn (tiếp)
Cuốn sách xuất sắc nhất về Phạm Xuân Ẩn cho tới thời điểm này là của Thomas Bass, The Spy Who Loved Us. The Vietnam War and Pham Xuan An's Dangerous Game; để xuất hiện ở Việt Nam, cuốn sách đã phải mang cái tên lệch đi, Điệp viên Z21, Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ.
Perfect Spy chứa đựng câu chuyện mà Phạm Xuân Ẩn muốn có; là một cuốn tiểu sử "chính thức", tác giả Larry Berman đã được Phạm Xuân Ẩn cung cấp một version "kiểu Phạm Xuân Ẩn" (kiểu Phạm Xuân Ẩn có lẽ then chốt nhất nằm ở chỗ: lúc nào cũng nói sự thật; kể cả khi cùng một lúc gửi báo cáo về Bắc Việt và viết bài cho Time, với cả hai bên Phạm Xuân Ẩn đều nói sự thật), một version hoàn hảo, nhưng đầy "mất mát". Trong những thứ quá mức phức tạp, hướng đến bức tranh chung hoàn hảo là một cách tốt nhất để hứng lấy những thất thoát to lớn.
Perfect Spy chứa đựng câu chuyện mà Phạm Xuân Ẩn muốn có; là một cuốn tiểu sử "chính thức", tác giả Larry Berman đã được Phạm Xuân Ẩn cung cấp một version "kiểu Phạm Xuân Ẩn" (kiểu Phạm Xuân Ẩn có lẽ then chốt nhất nằm ở chỗ: lúc nào cũng nói sự thật; kể cả khi cùng một lúc gửi báo cáo về Bắc Việt và viết bài cho Time, với cả hai bên Phạm Xuân Ẩn đều nói sự thật), một version hoàn hảo, nhưng đầy "mất mát". Trong những thứ quá mức phức tạp, hướng đến bức tranh chung hoàn hảo là một cách tốt nhất để hứng lấy những thất thoát to lớn.
Wladimir Ashkenazy ở Hà Nội
Cuộc đời này thật trớ trêu, lần đầu tiên tôi được nghe Ashkenazy chơi nhạc hóa ra lại là ở Hà Nội.
Vì vội vã chưa kịp nghiên cứu từ trước, khi nhìn thấy hai cây đàn trên sân khấu, tôi mới hiểu ra, bản Divertissement à la hongroise (à mà thật ra là "à la hongroise" hay "à l'hongroise" nhỉ, chưa bao giờ tôi chắc được chỗ này) sẽ không được chơi bốn tay theo cách truyền thống.
Wladimir Ashkenazy ở Hà Nội, tôi nhớ đến Hennessy lần thứ nhất, tôi 16 tuổi, Rostropovich đã chơi ở đây, cho đến tận bây giờ mới lại có thêm một tượng đài tầm cỡ ấy; giữa hai mốc thời gian, tôi từng đi nghe nhiều người khác, nhưng phải gần năm năm nay tôi không còn đến Nhà hát lớn, thú thực tôi nghĩ mình sẽ chịu không thấu cái cảnh ngồi nghe các concerto của Rachmaninov hay các bản nhạc của Traikovsky.
Vì vội vã chưa kịp nghiên cứu từ trước, khi nhìn thấy hai cây đàn trên sân khấu, tôi mới hiểu ra, bản Divertissement à la hongroise (à mà thật ra là "à la hongroise" hay "à l'hongroise" nhỉ, chưa bao giờ tôi chắc được chỗ này) sẽ không được chơi bốn tay theo cách truyền thống.
Wladimir Ashkenazy ở Hà Nội, tôi nhớ đến Hennessy lần thứ nhất, tôi 16 tuổi, Rostropovich đã chơi ở đây, cho đến tận bây giờ mới lại có thêm một tượng đài tầm cỡ ấy; giữa hai mốc thời gian, tôi từng đi nghe nhiều người khác, nhưng phải gần năm năm nay tôi không còn đến Nhà hát lớn, thú thực tôi nghĩ mình sẽ chịu không thấu cái cảnh ngồi nghe các concerto của Rachmaninov hay các bản nhạc của Traikovsky.
Subscribe to:
Comments (Atom)