tôi được giáo dục kỹ càng và
toàn diện đến mức gần như không biết bơi
Showing posts with label salman-rushdie. Show all posts
Showing posts with label salman-rushdie. Show all posts
Mar 17, 2016
Jul 6, 2015
Đi tìm thời gian đã mất không phải là đi tìm thời gian đã mất
Cách đọc Đi tìm thời gian đã mất kém nhất là đồng hóa nó với nhan đề của nó, coi đó là một câu chuyện về sự thể "đi tìm thời gian đã mất". Tác phẩm lớn đồng thời cũng có nhan đề lớn, nhan đề ấy là một yếu tố quan trọng làm nên tổng thể, nhưng những nhan đề vĩ đại bao giờ cũng đánh lừa.
Mar 22, 2015
Đến London
Không dễ tìm một cuốn sách thực sự buồn. Không phải ai cũng
biết buồn, thậm chí buồn còn là một năng lực hiếm thấy. Một cuốn tiểu thuyết buồn:
phải kể đến The Enigma of Arrival của
Naipaul.
May 13, 2014
Sách tháng Tư 2014
Như lần trước tôi đã nói, Hội sách Sài Gòn là một cơn lũ sách mới. Phải chụp quả ảnh kiểu này để miêu tả chút chút những gì chúng ta đang phải đối mặt :p
(mà đây là vẫn còn thiếu khoảng gần chục quyển nữa, đang đọc dở vứt lung tung ngại tìm)
(mà đây là vẫn còn thiếu khoảng gần chục quyển nữa, đang đọc dở vứt lung tung ngại tìm)
May 4, 2014
García Márquez
Không phải đến giờ khi Gabriel García Márquez đã mất đi, chủ đề García Márquez và văn chương Mỹ Latinh (ở Việt Nam về cơ bản được khái quát hóa, thật ra là thu giảm kiệt cùng, thành "chủ nghĩa hiện thực huyền ảo") mới là đáng nói, bởi nói gì thì nói, García Márquez là nhà văn nước ngoài hiện diện mạnh mẽ nhất ở Việt Nam trong vòng ba mươi năm vừa rồi.
Apr 6, 2014
Salman Rusdhie (7) Carlos Fuentes và Salman Rushdie: Sự xuất hiện của thế giới mới
Đặt sẵn gạch để viết bài cuối trong loạt về Salman Rushdie nhân Những đứa con của nửa đêm được ấn hành tại Việt Nam :p
Apr 3, 2014
Salman Rushdie (6) Quốc gia Ấn Độ và bên ngoài Ấn Độ
Giờ, sau khi đã đề cập Salman Rushdie và Những đứa con của nửa đêm từ vài khía cạnh: thói lắm lời và màn múa chữ của Salman Rushdie :p, Ấn Độ rồi Pakistan trong cái nhìn của một người con Ấn Độ lủi thủi xa xứ, nhìn mọi thứ trong ký ức, qua những mảnh gương vỡ, fatwa và hệ lụy của nó lên một người theo đạo Hồi, trong một giọng văn nhìn chung là kể lể :p, ta chuyển sang một registre ngôn ngữ khác. Sẽ không nhẹ nhàng bay bổng lắm đâu nhé.
Apr 1, 2014
Salman Rushdie (5) Một cuộc đời
Tiểu thuyết của Salman Rushdie, đặc biệt Những đứa con của nửa đêm (những ai kịp đọc xong rồi hẳn sẽ thấy ngay), thuộc dạng "loquacious", vô cùng lắm lời, ngôn từ tuôn ra, trào ra, phọt ra, như những màn pháo hoa liên tu bất tận.
Nhưng tiểu luận của Salman Rushdie, như ví dụ ở đây (bài dài quá, tôi è ra dịch mãi chưa xong :p) sẽ cho thấy một Salman Rushdie khác. Kiệm lời hơn, và như thể chín chắn hơn nhiều.
Nhưng tiểu luận của Salman Rushdie, như ví dụ ở đây (bài dài quá, tôi è ra dịch mãi chưa xong :p) sẽ cho thấy một Salman Rushdie khác. Kiệm lời hơn, và như thể chín chắn hơn nhiều.
Mar 30, 2014
Salman Rushdie (4) Quê nhà tưởng tượng
"Imaginary Homelands" là bài tiểu luận được Salman Rushdie viết không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành, và trở thành nhan đề chung cho tập tiểu luận giai đoạn 1981-1991.
Quê nhà tưởng tượng
Mar 27, 2014
Salman Rushdie (3) Fatwa, hay là văn chương trước áp chế và kiểm duyệt
Nói đến cuộc đời và văn nghiệp Salman Rushdie, nếu muốn toàn
diện một cách tương đối, lẽ dĩ nhiên không thể bỏ qua “án fatwa” mà ông từng phải
gánh chịu. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh vào yếu tố này thì ta sẽ dễ đi đến chỗ
thu giảm Salman Rushdie thành “nhà văn từng chịu fatwa”, điều này cũng bất công
không kém nếu bàn về Salman Rushdie mà né tránh fatwa.
Fatwa do lãnh tụ Khomeini tuyên vào năm 1989 đẩy Salman
Rushdie vào một tình thế nguy hiểm đến tính mạng thường trực. Nó ảnh hưởng rất
lớn đến cuộc sống riêng của Rushdie, như ta thấy rõ trong hồi ký Joseph Anton. Sống ở một đất nước xa lạ
nhưng thật ra gần gũi vì đã gắn bó từ thuở nhỏ, tại một xứ tự do nhưng thường xuyên
phải được cảnh sát chăm sóc, Salman Rushdie rơi vào một tình thế nghịch lý kép.
Điều đó khiến cho cuộc xa nhà thực sự trở thành lưu vong (The Satanic Verses cũng nhanh chóng bị cấm
ở Ấn Độ), và điều kiện cuộc sống tự do (thân thể và ngôn luận) bị phá hỏng. Giống
như là hiện tại bỗng dưng bị quá khứ đuổi kịp, mà quá khứ thì lại to lớn khổng
lồ hơn hẳn hiện tại; hoặc giả giống như “hợp đồng với quỷ” (Faustian contract)
do không xem xét kỹ nên Rushdie đã bỏ sót mất một điều khoản về “sự quá đà”.
Mar 26, 2014
Salman Rushdie (2) Ở giữa
Sau những cái tên riêng luôn luôn có ý nghĩa, nhiều khi có ý nghĩa lớn, như đã thấy, ta chuyển đến khái niệm "ở giữa", khái niệm hết sức quen thuộc ở Salman Rushdie (Rushdie đã bắt đầu bài tiểu luận danh tiếng "Imaginary Homelands" với một đoạn văn có trích dẫn câu mở đầu của tiểu thuyết The Go-Between của Hartley).
Ở giữa quá khứ và hiện tại, ở giữa Ấn Độ và nước Anh, ở giữa man rợ và văn minh, ở giữa tự do và áp chế.
Bài tiểu luận này, đặt ở đầu tập tiểu luận cùng tên Imaginary Homelands - thực sự là một tác phẩm quan trọng trong văn nghiệp Salman Rushdie (kiểu như Crowds and Power đối với Canetti, Inner Workings đối với Coetzee hay The Captive Mind đối với Milosz) - được Salman Rushdie trình bày năm 1982 tại London, Festival of India. (tức là không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành)
Câu trích dẫn cuốn tiểu thuyết của L. P. Hartley: "The past is a foreign country", quá khứ là một đất nước xa lạ. Một đất nước xa là mà ta phải tìm về, trong toàn bộ sự bất toàn của thời gian và ký ức lộn xộn như một tấm gương vỡ.
Ở giữa quá khứ và hiện tại, ở giữa Ấn Độ và nước Anh, ở giữa man rợ và văn minh, ở giữa tự do và áp chế.
Bài tiểu luận này, đặt ở đầu tập tiểu luận cùng tên Imaginary Homelands - thực sự là một tác phẩm quan trọng trong văn nghiệp Salman Rushdie (kiểu như Crowds and Power đối với Canetti, Inner Workings đối với Coetzee hay The Captive Mind đối với Milosz) - được Salman Rushdie trình bày năm 1982 tại London, Festival of India. (tức là không lâu sau khi Những đứa con của nửa đêm được ấn hành)
Câu trích dẫn cuốn tiểu thuyết của L. P. Hartley: "The past is a foreign country", quá khứ là một đất nước xa lạ. Một đất nước xa là mà ta phải tìm về, trong toàn bộ sự bất toàn của thời gian và ký ức lộn xộn như một tấm gương vỡ.
Salman Rushdie (1): Những tên riêng
Ta có thể bắt đầu với Salman Rushdie bằng cách đi ngược, với tác phẩm (lớn) gần đây nhất: Joseph Anton. A Memoir; trong cuốn sách này, sự "đi ngược" cũng được Rushdie nhấn mạnh bằng tên chương "A Faustian Contract in Reverse": trong khi viết The Satanic Verses, phía trên bàn viết Rushdie dán một mảnh giấy ghi dòng chữ "To write a book is to make a Faustian contract in reverse".
Người như Salman Rushdie, từng trải qua những năm tháng khó khăn vật lộn, không hẳn về vật chất mà vì những đau khổ nội tâm do không viết văn được cho ra hồn, phải lay lắt sống đời copywriter cho hãng Ovilgy, hẳn hiểu rất rõ hợp đồng với quỷ tức là thế nào; nhất là khi đề tài cuốn sách nổi tiếng nhất của Rushdie (nhưng chưa hẳn là cuốn sách vĩ đại nhất) là về "satanic verses", nguyên gốc là lời mặc khải "dỏm" mà Muhammad nhận được.
Người như Salman Rushdie, từng trải qua những năm tháng khó khăn vật lộn, không hẳn về vật chất mà vì những đau khổ nội tâm do không viết văn được cho ra hồn, phải lay lắt sống đời copywriter cho hãng Ovilgy, hẳn hiểu rất rõ hợp đồng với quỷ tức là thế nào; nhất là khi đề tài cuốn sách nổi tiếng nhất của Rushdie (nhưng chưa hẳn là cuốn sách vĩ đại nhất) là về "satanic verses", nguyên gốc là lời mặc khải "dỏm" mà Muhammad nhận được.
Dec 8, 2013
Sách tháng Mười một 2013
- Patrick Deville: Peste & Choléra
Một thành tựu của tiểu thuyết
Vượt qua được một cái bìa đặc biệt
xấu, một nhan đề rất kỳ khôi (Yersin: Dịch
hạch và thổ tả; ai bị dịch hạch và ai bị thổ tả?) và một cái giá cao đến lố
bịch (120.000đ. cho chưa đầy 300 trang sách khổ không lớn), nếu còn đủ sức lực,
ta sẽ được khám phá một thành tựu của tiểu thuyết. Alexandre Yersin là một nhà
thám hiểm, một người khám phá, cũng là một con người của những thành tựu, trong
đó có những thành tựu khoa học mà tác giả, Patrick Deville, hẳn muốn chúng ta
nghĩ là không xa với thơ ca.
Sep 20, 2012
Tuổi thơ
nhát thứ 49, rất khó
Nhị Linh
Viết về tuổi thơ, rất khó có chuyện nhà văn không chạm đến
chính mình theo một cách thức nào đó. Sách cho trẻ em và sách lấy đề tài thiếu
nhi phong phú vô vàn ở trong mọi thứ tiếng, nhưng tùy vào cách tự nhìn vào mình
mà cái nhìn tuổi thơ của nhà văn đi theo hướng “tích cực” hay “tiêu cực”,
“hồng” hoặc “đen”, “tươi đẹp” hay “u buồn”. Không có nhiều lựa chọn trong mảng
sách cực kỳ dễ viết nhưng vô cùng khó hay này. Hoặc là tô hồng quá đáng, dựng
ra những hoạt cảnh thần tiên trong suốt tinh tang những tiếng chuông dịu dàng,
hoặc bôi đen vô chừng, mua nước mắt cho những cậu bé khổ đau chịu dập vùi đầy
nghị lực, những cô bé rách rưới nhưng nhất định không để cho xấu xa cuộc đời
lan nhiễm vào tâm hồn vị tha, nhân ái.
Một nhà văn từng nói, tình mẫu tử là điều thiêng liêng cuối
cùng mà văn chương vốn lâu nay xoay ra khốn cùng đủ kiểu, nhạo báng mọi thứ,
còn chưa dám đụng đến. “Cứ điểm” cuối cùng còn tương đối trụ vững được trước
những đợt tấn công như a xít xói mòn tất thảy của văn chương; khi mà sự dòm ngó
cuộc đời không còn là bất nhã, phân tích kiệt cùng mọi thứ xấu xa của nội tâm
được tuyên dương, mỗi thế hệ nhà văn lại tiến thêm một bước trong quá trình tấn
công vào mọi thứ tồn tại ở trên đời (và cả những thứ thật ra không tồn tại).
Nhưng hẳn là vẫn còn một cái gì đó khiến mỗi khi nhà văn chạm tới tuổi thơ là
tức thì họ chùng xuống, lòng mềm lại, và ta thấy không ít nhà văn thông thường
bạo liệt đến tức thở bỗng trở nên vô cùng mềm mại, dịu dàng khi viết truyện
thiếu nhi (Salman Rushdie chẳng hạn). Tuổi thơ và ký ức của tuổi thơ giống như
là một phần giúp người ta cân bằng, hoặc giúp người ta tưởng rằng mình có thể
cân bằng trên đường đời, chặng đường có thể hiểu là luôn luôn “đi lên” nhưng
hoàn toàn cũng có thể là miệt mài “đi xuống”. Nhưng đó rất có thể cũng là một
sự tô hồng kiểu khác, tô hồng “một cách vô thưởng vô phạt” như Jean-Jacques
Rousseau nói; hoặc là nó không hề “vô thưởng vô phạt”.
Bởi tuổi thơ rắc rối hơn nhiều, có thể còn nhiều vấn đề hơn
mọi phần đời khác của con người, bởi sau này còn xuất hiện một yếu tố chi phối
rất nhiều cách nhìn, cách nghĩ và cách sống: sự buồn chán, còn ở thời bé, người
ta chưa biết buồn chán, và con thú nhỏ hùng hục sống ấy rất có thể đen tối và
nguy hiểm, ngây thơ và nguy hiểm, nguy hiểm cũng chính vì sự ngây thơ: sự nguy
hiểm lớn nhất là sự nguy hiểm không để lại manh mối gì cho tiếc nuối và sám
hối. Vậy nên tuyệt đại đa số tác phẩm cho thiếu nhi tốt đẹp và âu yếm, nhưng
cũng có tuổi thơ thực sự hiểm ác, đen tối không thể cứu chữa như những tuổi thơ
trong các tiểu thuyết của Hervé Bazin, nơi những đầu óc non nớt chỉ chăm chăm
nghĩ đến những gì ác độc, nơi hận thù còn chưa bị thời gian xói mòn mà nguyên khối,
bức bối và sẵn sàng bùng phát bất kỳ lúc nào.
Lẽ dĩ nhiên, để an toàn, giống như với những bông hoa người
ta chỉ nghĩ đến sự làm đẹp và làm thơm cho đời mà sẵn sàng lờ đi khả năng gây
chết chóc của chúng, tuổi thơ “phải” là chốn an toàn, ít nhất cũng là ốc đảo
giữa sa mạc, nơi chỉ cần hướng mắt về là thấy lòng nhẹ nhõm; người ta quên mất
rằng những hình dung ác độc và xảo trá ngày nay bắt nguồn từ quá khứ, từ khi
còn rất nhỏ. Bầu không khí văn chương cho và về tuổi thơ sẽ được hoan nghênh
nhiệt liệt không phải vì độ “thật” của nó, mà vì độ “chênh” của nó với sự thật;
và ở đây sẽ chẳng ai hơi đâu mà đi chất vấn tác giả về tính chất giả tạo, sự
bài trí khéo tay, vân vân và vân vân. Độc giả Việt Nam nhiều năm vẫn mê “Cánh
buồm đỏ thắm” và giờ đây vẫn hào hứng với những truyện thiếu nhi sót lại từ một
thời dường như tốt đẹp, chẳng hạn như “bác Phiodor” hay “cá sấu Ghena” của nhà
văn Nga Uspenski danh tiếng.
Có lẽ chính vì những điều nghiêu khê trên đây mà Astrid
Lindgren mới vĩ đại đến thế. Truyện của bà có một điều gì đó rất khác biệt:
Pippi Tất dài hay Karlsson trên mái nhà là những sáng tạo độc đáo hết mức. Sự
nhân ái ở kẻ yếu là điều tất yếu đến nỗi hình như không phải là sự nhân ái nữa.
Lòng tốt nằm ở chỗ những kẻ hoàn toàn biết rằng mình có thể và đủ sức làm điều
xấu (thậm chí làm điều xấu còn rất vui), nhưng đã không làm.
Jul 20, 2009
Không chạm chân xuống đất
Trong cuốn hồi ký nổi tiếng mang tên Istanbul, Orhan Pamuk kể lại một kỷ niệm hồi nhỏ. Ở nhà, cậu bé Orhan tự nghĩ ra trò chơi nhảy trên các thứ đồ đạc (bàn ghế hoặc tủ) như thể nhảy trên những hòn đảo, sao cho không bị chạm chân xuống nước. Pamuk so sánh trò chơi thuở nhỏ của mình với vị nam tước, nhân vật của Italo Calvino: suốt cả đời Cosimo chỉ ở trên cây, không một lần chạm chân xuống đất. Đây chính là tác phẩm văn học đầu tiên mà Pamuk nhắc tới trong hồi ký của mình, như một cách để vinh danh nhà văn lớn, người vẫn không ngớt được vinh danh trong suốt phần cuối thế kỷ XX và phần đầu thế kỷ XXI vừa rồi.
Tiểu thuyết Nam tước trên cây (một trong bộ ba Tổ tiên của chúng ta) vừa xuất hiện tại Việt Nam, qua bản dịch từ tiếng Ý của Vũ Ngọc Thăng (Nhã Nam và NXB Văn học ấn hành). Là một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ XX, nhưng trước đây Calvino mới chỉ thấp thoáng được biết đến trong tiếng Việt qua một tác phẩm nhỏ mang tên Palomar và một số tiểu luận văn học, với lượng độc giả hạn chế trong giới nghiên cứu. Nam tước trên cây có thể coi là một bước tiến tới độc giả “đại chúng”, vì trước hết đây là một cuốn tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn, có thể quyến rũ từ độc giả nhỏ tuổi tới lớn tuổi. Sau đó, nó còn là một tác phẩm đầy tri thức và gợi mở nhiều suy nghĩ, ý tưởng.
Tiểu thuyết Nam tước trên cây (một trong bộ ba Tổ tiên của chúng ta) vừa xuất hiện tại Việt Nam, qua bản dịch từ tiếng Ý của Vũ Ngọc Thăng (Nhã Nam và NXB Văn học ấn hành). Là một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ XX, nhưng trước đây Calvino mới chỉ thấp thoáng được biết đến trong tiếng Việt qua một tác phẩm nhỏ mang tên Palomar và một số tiểu luận văn học, với lượng độc giả hạn chế trong giới nghiên cứu. Nam tước trên cây có thể coi là một bước tiến tới độc giả “đại chúng”, vì trước hết đây là một cuốn tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn, có thể quyến rũ từ độc giả nhỏ tuổi tới lớn tuổi. Sau đó, nó còn là một tác phẩm đầy tri thức và gợi mở nhiều suy nghĩ, ý tưởng.
May 19, 2009
Claro
Mò mẫm một hồi thì ra nguyên cả blog riêng của Claro đi kèm cả băng đảng bạn bè, thú vị là toàn trên blogger nên theo dõi cũng dễ.
Christophe Claro (chỉ ký là Claro) sinh năm 1962, nghĩa là còn rất trẻ, nhưng nhìn list tác phẩm đã in và nhất là list sách đã dịch thì đúng là kinh hoàng và đáng nể. Đây là lần thứ hai tôi thấy thực sự choáng váng khi xem publication list của dịch giả. Người đầu tiên là Charlotte Mandell, người dịch Les Bienveillantes sang tiếng Anh (The Kindly Ones). Có thể xem qua danh sách tác phẩm dịch của Claro tại đây (chưa đầy đủ).
Theo Pierre Assouline, Claro đã dịch khoảng một trăm đầu sách, trong đó có những cái tên khủng khiếp đi kèm với những quyển sách dày khủng khiếp và khó khủng khiếp, như Vollmann, Pynchon, Rushdie hay Gass. Claro còn là nhà văn, tham gia ban biên tập một số tạp chí và làm xuất bản, trong đó đáng kể là phụ trách tủ sách "Lot 49" (ai quen thuộc văn học Anh-Mỹ hiện đại thì sẽ biết cái tên này dẫn chiếu tới Thomas Pynchon) tại NXB Le Cherche Midi.
Đời một con người có thể làm đến là nhiều việc.
Tôi vẫn còn nhớ khi Cao Xuân Hạo mới mất, khá nhiều bài tưởng niệm đưa ra con số hai vạn trang sách dịch. Người bên ngoài nghe thì thấy khủng khiếp lắm, nhưng so với một dịch giả như Claro thì không thấm tháp vào đâu. Tất nhiên so sánh cũng chẳng để làm gì, nhưng tôi thấy cái kiểu buộc một tên tuổi vào một vài con số rất khó kiểm chứng như thế vừa không chính xác, vừa là một cách nhốt một ai đó vào một huyền thoại rất có thể bản thân Cao Xuân Hạo cũng chẳng thích thú gì. Rồi đây sẽ có rất nhiều người lặp lại cái huyền thoại xấu xí ấy.
Christophe Claro (chỉ ký là Claro) sinh năm 1962, nghĩa là còn rất trẻ, nhưng nhìn list tác phẩm đã in và nhất là list sách đã dịch thì đúng là kinh hoàng và đáng nể. Đây là lần thứ hai tôi thấy thực sự choáng váng khi xem publication list của dịch giả. Người đầu tiên là Charlotte Mandell, người dịch Les Bienveillantes sang tiếng Anh (The Kindly Ones). Có thể xem qua danh sách tác phẩm dịch của Claro tại đây (chưa đầy đủ).
Theo Pierre Assouline, Claro đã dịch khoảng một trăm đầu sách, trong đó có những cái tên khủng khiếp đi kèm với những quyển sách dày khủng khiếp và khó khủng khiếp, như Vollmann, Pynchon, Rushdie hay Gass. Claro còn là nhà văn, tham gia ban biên tập một số tạp chí và làm xuất bản, trong đó đáng kể là phụ trách tủ sách "Lot 49" (ai quen thuộc văn học Anh-Mỹ hiện đại thì sẽ biết cái tên này dẫn chiếu tới Thomas Pynchon) tại NXB Le Cherche Midi.
Đời một con người có thể làm đến là nhiều việc.
Tôi vẫn còn nhớ khi Cao Xuân Hạo mới mất, khá nhiều bài tưởng niệm đưa ra con số hai vạn trang sách dịch. Người bên ngoài nghe thì thấy khủng khiếp lắm, nhưng so với một dịch giả như Claro thì không thấm tháp vào đâu. Tất nhiên so sánh cũng chẳng để làm gì, nhưng tôi thấy cái kiểu buộc một tên tuổi vào một vài con số rất khó kiểm chứng như thế vừa không chính xác, vừa là một cách nhốt một ai đó vào một huyền thoại rất có thể bản thân Cao Xuân Hạo cũng chẳng thích thú gì. Rồi đây sẽ có rất nhiều người lặp lại cái huyền thoại xấu xí ấy.
Subscribe to:
Posts (Atom)