Dec 2, 2018

Mùa đông đọc thơ

Nên tận dụng sự bó chặt lại của mùa đông: khi đó, những sợi tơ mảnh của thơ như thể sững lại trong chuyển động khó lường của chúng, ít nhất thì cũng rõ hơn lên; bởi vì chúng ta cần mùa đông. Cũng phải nói thêm: kể cả khi mùa đông không lạnh cho lắm.

Đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy tôi thực sự nắm bắt được (tức là, chộp được) cả một khúc trong Maldoror: dưới đây sẽ là toàn bộ khúc ba (toàn bộ Maldoror gồm sáu khúc).



Lautréamont

Maldoror
khúc ba
  


III, 1

Chúng ta hãy nhắc lại tên những tạo vật tưởng tượng kia, với bản tính thiên thần, mà ngòi bút của ta, trong khúc ca thứ hai, đã kéo ra từ một bộ não, bừng lên một ánh sáng toát ra từ chính chúng. Chúng chết, ngay lúc vừa sinh thành, giống các tia lấp lánh mà mắt khó nhọc mới theo kịp cuộc xóa đi mau chóng, trên giấy cháy. Léman!… Lohengrin!… Lombano!… Holzer!… trong thoáng chốc, các ngươi chừng hiện ra, phủ đầy các thể hiện của tuổi trẻ, nơi chân trời bị mê hoặc của ta; nhưng, ta đã để cho các ngươi rơi trở lại vào trong hỗn độn, giống như những cái lồng chuông dùng cho thợ lặn. Các ngươi sẽ không từ đó thoát ra nữa. Ta chỉ cần giữ kỷ niệm về các ngươi là đã đủ rồi; các ngươi phải nhường lại chỗ cho những chất khác, có lẽ kém đẹp hơn, sinh ra từ sự vọt trào đầy giông tố của một tình yêu đã nhất quyết không thỏa cơn khát của nó ở nơi dòng giống con người. Tình yêu đói khát, hẳn sẽ tự ngốn ngấu chính nó, nếu không tìm đồ ăn trong các hư cấu bầu trời: về lâu dài, tạo ra một kim tự tháp toàn thiên thần thượng đẳng, đông đảo hơn lũ côn trùng lúc nhúc trong một giọt nước, nó sẽ quấn riết chúng trong một hình e-líp mà nó làm cho quay cuồng xung quanh. Trong thời gian ấy, người lữ khách, bị chặn chân trước một dòng thác, nếu ngẩng đầu lên, sẽ thấy, nơi xa, một con người, bị cuốn về phía hầm địa ngục bởi một tràng hoa trà sống! Nhưng… im nào! hình ảnh trôi nổi của lý tưởng thứ năm đang chậm rãi hiện lên, giống các nếp mơ hồ một bình minh của cực, trên bình diện sương khói trí năng ta, và càng lúc càng đặc thêm lại… Mario và ta đang đi dọc bờ biển. Lũ ngựa của chúng ta, cổ vươn lên, phăng các màng không gian, và giật lấy những tia nhấp nháy từ những đá cuội trên bãi. Gió hây hây, thổi thẳng vào mặt chúng ta, lẩn sâu vào áo choàng của chúng ta, và tốc bay về phía sau tóc trên hai cái đầu sinh đôi của chúng ta. Con mòng, với những tiếng kêu và cú đập cánh, vô vọng cố sức cảnh báo với chúng ta về sự cận kề có thể của cơn bão, và hét lên: “Họ đi đâu thế kia, mà lại còn phóng nhanh điên rồ như vậy?” Chúng ta chẳng nói chẳng rằng; đắm chìm trong cơn mơ mộng, chúng ta để mặc cho mình bị cuốn trôi trên những cánh của cuộc lao đi rồ dại; người dân chài, thấy chúng ta đi ngang qua, thần tốc như con albatros, và cứ tưởng đâu nhìn thấy, chạy trốn trước ông ta, hai anh em bí ẩn, như người ta từng gọi họ vậy, vì lúc nào họ cũng đi cùng nhau, vội vã làm dấu thánh, và trốn, cùng con chó bị tê liệt của ông ta, bên dưới một tảng đá nằm dưới sâu. Các cư dân bờ biển đã nghe kể nhiều điều lạ thường về hai nhân vật kia, họ hiện xuống mặt đất, giữa các đám mây, vào những khi nào xảy ra thảm họa lớn, lúc một cuộc chiến tranh gớm ghê lăm le cắm phập cây lao móc của nó vào ngực hai đất nước thù địch nhau, hoặc giả dịch tả chực bắn, bằng cây ná của nó, sự thối và cái chết vào đoàn lũ những thành phố. Đám cướp phá tàu đắm già nhất nhíu mày, vẻ nghiêm trang, khẳng định rằng hai bóng ma, mà ai cũng đã nhận thấy độ dang rộng của cặp cánh đen, trong những cuồng phong, phía bên trên các doi cát và bãi đá ngầm, là thần đất và thần biển, họ diễu qua diễu lại vẻ uy nghi của mình, giữa không trung, trong những cuộc vật đảo to lớn của tự nhiên, được hội tụ bởi một tình bạn vĩnh cửu, mà sự hiếm và vinh quang đã khiến sinh ra nỗi kinh ngạc cho sợi dây chằng bất xác định của các thế hệ. Người ta nói rằng, bay cạnh nhau giống hai condor vùng núi Andes, họ thích chao lượn, thành những vòng tròn đồng tâm, giữa các lớp quyển kề cận mặt trời; rằng họ tự nuôi sống, nơi ấy, bằng những tinh chất thuần khiết nhất của ánh sáng; nhưng, phải khó nhọc lắm họ mới có thể quyết định tạt cho nghiêng đi cuộc bay thẳng đứng, về phía quỹ đạo hoảng hốt nơi quả cầu con người xoay trong điên loạn, chốn trú ngụ các linh hồn độc địa tàn sát lẫn nhau tại các cánh đồng nơi chiến trận gầm lên (khi chúng không giết nhau một cách xảo trá, lén lút, ở trung tâm các thành phố, với dao găm của thù hận hay của tham vọng), và ăn thịt những thực thể đầy sức sống giống chúng và cư ngụ vài độ thấp hơn trong thang bậc các tồn tại. Hoặc giả, những lúc họ hết sức quyết tâm, nhằm kích thích con người phải hối hận qua các đoạn thơ những lời tiên tri của họ, bơi, định hướng bằng những sải tay dài, về phía những vùng thiên văn nơi một hành tinh dịch chuyển giữa các bốc lên dày cộm của bủn xỉn, kiêu ngạo, nguyền rủa và cười nhạo tỏa ra, như những thứ hơi thối rinh, từ bề mặt gớm guốc và trông nhỏ tí như một cái hòn của nó, vì gần như vô hình, do khoảng cách, họ đã không khỏi phải gặp những dịp để ăn năn trong cay đắng về lòng từ tâm của họ, vốn dĩ chẳng mấy được biết đến và bị la ó chế giễu, và chạy đi trốn dưới đáy các núi lửa, để mà trò chuyện với lửa rực sôi sục nơi các lòng chảo hầm ngầm trung tâm, hoặc giả dưới đáy biển, để thật êm ái đặt ánh mắt đã cạn ảo tưởng của mình lên những con quái vật dữ tợn nhất của vực sâu, mà họ thấy như là các hình mẫu của sự dịu dàng, nếu so với đám con hoang nhân loại. Đêm đến, với bóng tối ân cần của nó, họ lao đi từ những dòng thác, với làn hơi nước như porphyre, từ các dòng hải lưu ngầm và để lại, tít sau lưng, cái bô đầy trúc trắc để trong phòng ngủ nơi xả hơi cho lỗ đít táo bón của lũ vẹt người, cho tới lúc họ không còn nhìn rõ được nữa bóng hình treo lơ lửng của hành tinh gớm guốc. Khi ấy, buồn rũ vì toan tính chẳng mang lại được gì, ở giữa những ngôi sao cảm thông với đau đớn của họ và dưới con mắt Chúa, họ ôm lấy nhau nhau, khóc ròng, thiên thần của mặt đất và thiên thần của biển!… Mario và người phóng đi bên cạnh chẳng phải không biết những tiếng động mơ hồ và đầy mê tín mà các ngư dân bờ biển kể lại, trong những đêm thức, thì thầm quanh lò lửa, cửa giả đóng chặt; trong khi gió đêm, muốn sưởi ấm, làm vang lên những tiếng rít quanh căn nhà bằng rơm, và làm rung chuyển, bởi sức dữ dội của nó, các bức tường mảnh kia, bao quanh ở dưới chân là những mảnh vỏ sò, được mang tới bởi những cuộn lại hấp hối của sóng. Chúng ta không nói. Hai trái tim yêu nhau thì nói gì với nhau đây? Chẳng gì hết. Nhưng mắt chúng ta diễn đạt mọi thứ. Ta bảo chàng quấn chặt lại chiếc áo choàng quanh người, còn chàng nói với ta rằng ngựa của ta đang nhích quá xa khỏi ngựa chàng: người này để tâm tới cuộc sống người kia y như đó là cuộc sống chính mình; chúng ta không cười. Chàng cố mỉm cười với ta; nhưng, ta nhận thấy khuôn mặt chàng mang trọng lượng những ấn tượng khủng khiếp mà suy tư đã in vạch lên, vốn dĩ thường hằng nghiêng xuống đám nhân sư thích gây lạc lối, với một con mắt nhìn xiên, cho những cơn hoảng hốt của trí năng lũ phàm tục. Thấy các ma nớp của mình là vô tích sự, chàng ngoảnh đi, dùng nước dãi nỗi kinh hãi mà kìm giữ sự nóng lòng trần thế, và nhìn ra chân trời, nó bỏ chạy khi chúng ta tiến lại. Đến lượt mình, ta gắng sức nhắc cho chàng nhớ về tuổi trẻ vàng son của chàng, chẳng đòi gì khác ngoài tiến lên trong những cung điện của khoái lạc, như một bà hoàng; nhưng, chàng nhận ra rằng lời lẽ của ta khó nhọc chui ra từ miệng ta gầy guộc, và rằng những năm tuổi xuân của chính ta đã trôi qua, buồn tẻ và giá lạnh, như một giấc mơ tàn độc khiến diễu qua, trên những cái bàn các bữa tiệc, và trên những giường ngủ phủ xa tanh, nơi thiu thiu nàng tu sĩ tình yêu, được trả công bằng những ánh phản chiếu của vàng, các khoái thú chua cay của sự tan vỡ bùa chú, những nếp nhăn hôi hám của tuổi già, các kinh sợ của nỗi cô độc và những ngọn đuốc của nỗi đau. Thấy các ma nớp của ta là vô tích sự, ta chẳng ngạc nhiên vì không thể làm cho chàng hạnh phúc; Đấng Toàn Năng hiện ra trước ta, khoác những thứ dụng cụ tra tấn của ông ta, trong toàn bộ vầng hào quang rạng ngời nỗi hãi hùng ông ta mang; ta ngoảnh mặt đi và nhìn ra chân trời, nó bỏ chạy khi chúng ta tiến lại… Ngựa của chúng ta phi dọc bờ biển, như thể chúng trốn chạy ánh mắt con người… Mario trẻ hơn ta; sự ẩm của thời tiết và bọt mặn vọt lên tới chỗ chúng ta mang tiếp xúc của cái lạnh đến môi chàng. Ta nói với chàng: “Cẩn thận!… cẩn thận!… khép môi lại, khép chúng chặt lại đi; há em không thấy rằng các vuốt nhọn gây nứt nẻ đang vạch lên làn da em những vết thương đau nhức?” Chàng nhìn chằm chặp vào trán ta, và đáp, lưỡi chàng chuyển động: “Đúng, em thấy chứ, những móng vuốt màu lục kia; nhưng em sẽ chẳng gây phiền nhiễu cho vị thế tự nhiên của cái miệng em nhằm đuổi chúng đi đâu. Nhìn thử xem em nói dối hay chăng. Bởi vì dường như đó là ý muốn của Thiên Hựu, em muốn cứ vậy mà tuân theo. Ý muốn của ông ta chắc hẳn là điều tốt đẹp nhất.” Và ta, ta kêu lên: “Anh ngưỡng mộ đòn báo thù cao quý ấy.” Ta muốn giật tóc; nhưng, bằng một ánh mắt nghiêm khắc chàng cản ta lại, và ta kính cẩn làm theo đúng ý chàng. Đã muộn, và đại bàng quay về tổ, đào sâu trong các kẽ đá. Chàng nói với ta: “Em sẽ đưa anh mượn áo choàng của em, để anh khỏi lạnh; em không cần đến nó.” Ta đáp lại chàng: “Em sẽ gặp bất hạnh đấy, nếu làm cái việc mà em nói. Anh đâu muốn một ai khác thở hộ anh, nhất là em.” Chàng không nói gì, bởi ta đúng; nhưng, ta, ta khởi sự an ủi chàng, vì những lời của ta có âm sắc quá mức ngạo nghễ… Ngựa của chúng ta phi dọc bờ biển, như thể chúng trốn chạy ánh mắt con người… Ta ngẩng đầu lên, như mũi một con tàu bị tảng sóng khổng lồ nhấc bổng, và nói với chàng: “Em khóc ư? Anh hỏi em đấy, hỡi vua của tuyết và sương mù. Anh không nhìn thấy nước mắt trên mặt em, đẹp như hoa xương rồng, hai mí mắt em thì khô, giống lòng của dòng thác; nhưng, anh trông rõ, nơi đáy mắt em, một cái bồn, ngập máu, ở đó sôi lục bục sự trong trắng của em, bị cắn ngang cổ bởi một con bọ cạp loại lớn. Một trận gió dữ ập xuống ngọn lửa đang đun nồi súp de, và làm bắn rộng từ đó những ngọn lửa tối cho tới tận bên ngoài tròng mắt linh thiêng của em. Anh đã áp tóc anh lại gần vầng trán hồng rực của em, và anh đã ngửi thấy mùi khét, bởi vì chúng cháy. Nhắm mắt lại đi nào; bởi, nếu không, khuôn mặt em, cháy thui như dung nham núi lửa, sẽ rơi rớt thành tro vào lòng bàn tay anh đây.” Và, chàng, quay sang nhìn ta, chẳng buồn để ý đến những dây cương mà chàng cầm trong tay, và âu yếm nhìn ta, vừa nhìn vừa, thật chậm rãi, chàng hạ xuống rồi lại giương lên cặp mí hoa ly, giống như sóng dâng và sóng lùi của biển. Chàng muốn trả lời câu hỏi táo bạo của ta, và sau đây là những gì chàng nói: “Đừng để tâm tới em. Giống những làn hơi các dòng sông bò dọc theo các sườn đồi và, chừng nào lên đến đỉnh, vươn vào bầu khí quyển, tạo ra những đám mây; cũng vậy, những mối lo của anh hướng tới em đã dần dà tăng tiến, mà chẳng có nguyên do hữu lý, và tạo ra phía bên trên trí tưởng tượng của anh, thân thể lừa mị của một huyễn ảnh tiêu điều. Em xin đảm bảo với anh rằng không có lửa trong hai mắt em, dẫu em cảm thấy ở đó cùng ấn tượng như khi đầu em bị ấn sâu vào một cái mũ đựng đầy than nóng. Làm sao mà anh lại muốn da thịt sự trong trắng của em sôi lục bục trong cái bồn, vì em chỉ nghe ra những tiếng hét rất yếu và rối tinh, chúng, đối với em, chỉ là các thở than của gió thổi qua phía trên đầu chúng ta. Không thể nào có chuyện một con bọ cạp làm tổ cùng đống panh sắc lẹm của nó dưới đáy tròng mắt tả tơi của em; em cho đó là các gọng kìm mạnh mẽ đang nghiến vào những dây thần kinh thị giác. Tuy nhiên, em cũng đồng ý với anh, rằng máu, ngập đầy cái bồn, đã bị trích xuất khỏi các mạch của em bởi tay một tên đao phủ vô hình, trong cơn ngủ đêm qua. Em đã đợi anh thật lâu, hỡi người con trai được yêu quý của đại dương; và hai cánh tay em thiếp ngủ đã tiến hành một trận chiến vô vọng với Kẻ luồn lỏi vào tiền phòng ngôi nhà của em… Phải, em cảm thấy tâm hồn em bị khóa kín trong ổ khóa cơ thể em, và nó chẳng thể nào thoát ra, để chạy đi thật xa khỏi các bờ mà thứ biển con người vỗ vào, và không còn là chứng nhân cho cảnh tượng cơn náo động nhợt màu những nỗi bất hạnh, cứ tiếp nối không ngưng nghỉ, xuyên các chốn lầy lội và vực thẳm của sự rũ xuống mênh mông, lũ sơn dương người. Nhưng, em sẽ chẳng than thở đâu. Em đã nhận lấy cuộc đời như một vết thương, và em đã cấm sự tự sát chữa khỏi cho vết sẹo. Em muốn rằng Đấng Sáng Tạo chiêm ngưỡng ở đó, vào mỗi giờ khắc kỳ vĩnh cửu của ông ta, cái miếng toang hoác kia. Đó chính là hình phạt em bắt ông ta phải gánh chịu đấy. Lũ ngựa của chúng ta đang chậm lại những bàn chân thép cứng của chúng; người chúng run lên, như thợ săn bị lũ lợn lòi bắt chợt. Không được để chúng khởi sự nghe lén những gì chúng ta nói. Cứ liên tục chú tâm, trí năng của chúng hẳn sẽ lớn lên, và có lẽ chúng sẽ có thể hiểu chúng ta. Bất hạnh cho chúng; bởi, chúng sẽ còn chịu đau khổ nhiều hơn nữa! Quả thật, chỉ cần nghĩ đến đám lợn rừng con của loài người là đã thấy: mức độ trí năng, cái thứ phân tách chúng khỏi các thực thể khác của sáng tạo, chẳng phải dường như chỉ được giao phó cho chúng với cái giá không thể cứu chữa là những khổ đau chẳng thể tính nổi? Hãy bắt chước em đây, đinh thúc ngựa bạc của anh hãy cắm cho thật sâu vào sườn con ngựa của anh…” Ngựa của chúng ta phi dọc bờ biển, như thể chúng trốn chạy ánh mắt con người.




III, 2

Kìa là người phụ nữ điên nhảy nhót đi ngang qua, vừa đi vừa mơ hồ nhớ đến một điều gì đó. Lũ trẻ con ném đá theo cô ta, như thể đó là một con chim hét. Cô ta huơ một cây gậy và làm ra vẻ đuổi theo chúng, rồi lại tiếp tục đi. Cô ta để rơi một cái giày trên đường, nhưng không để ý thấy. Những chân nhện dài chạy vòng vòng trên gáy cô ta; đó chẳng là gì khác ngoài mái tóc của cô ta. Khuôn mặt cô ta không còn giống mặt người, và cô ta phá lên những tràng cười như linh cẩu. Cô ta để buột ra những mảnh lời trong đó, nếu nối lại, hẳn sẽ rất ít người tìm ra được một ý nghĩa sáng tỏ. Cái váy của cô ta, thủng ở hơn một chỗ, thực thi các chuyển động giật cục quanh hai cẳng chân xương xẩu lấm lem bùn. Cô ta tiến về phía trước, giống lá cây dương, bị cuốn đi, cô ta, tuổi trẻ của cô ta, những ảo vọng của cô ta và hạnh phúc đã qua, mà cô ta nhìn thấy lại xuyên lớp sương mù của một trí năng bị tàn phá, bởi xoáy lốc các năng lực ngoài ý thức. Cô ta đã đánh mất sự duyên dáng cùng vẻ đẹp nguyên sơ; dáng điệu cô ta thì nhơ nhớp, và hơi thở nồng nặc rượu. Nếu con người được hạnh phúc trên mặt đất này, thì chính khi ấy hẳn sẽ phải lấy làm kinh ngạc. Người phụ nữ điên chẳng hề buông lời trách cứ, cô ta quá mức kiêu hãnh, không than van, và sẽ chết, mà trước đó không hé lộ điều bí mật cho những ai quan tâm tới cô ta, nhưng cô ta đã cấm họ không bao giờ được nói gì với cô ta nữa. Lũ trẻ con ném đá theo cô ta, như thể đó là một con chim hét. Cô ta để rơi từ trên ngực một cuộn giấy. Một người xa lạ nhặt được, về nhà tự nhốt kín mình lại cả đêm, và đọc bản thảo, nó như sau: “Sau nhiều năm dài khô hạn, Thiên Hựu đã gửi đến cho tôi một đứa con gái. Trong vòng ba ngày, tôi quỳ gối nơi các nhà thờ, và không ngừng cảm tạ cái tên vĩ đại của Người rốt cuộc đã chiếu cố các ước nguyện của tôi. Tôi dùng sữa của tôi nuôi đứa trẻ còn có ý nghĩa hơn cuộc đời tôi, mà tôi chứng kiến lớn nhanh như thổi, được phú cho mọi phẩm tính của tâm hồn và cơ thể. Nó hay nói với tôi: “Con muốn có một đứa em gái nhỏ để chơi cùng; mẹ xin Chúa gửi tới cho con một đứa đi; và, để thưởng cho Người, con sẽ kết tặng Người một vòng hoa vi ô lét, bạc hà và phong lữ.” Để đáp lại, tôi bế nó lên, áp chặt vào ngực tôi và nồng nhiệt hôn nó. Nó đã biết quan tâm đến các con thú, và hỏi tôi tại sao chim én chỉ liệng qua thật sát những ngôi nhà mái rạ của con người mà không dám vào trong. Nhưng, tôi, tôi đặt một ngón tay lên môi, như để bảo nó phải giữ bí mật về câu hỏi nghiêm trọng ấy, mà tôi còn chưa muốn làm cho nó hiểu các yếu tố, nhằm khỏi, bởi một cảm giác quá mức, đánh động vào trí tưởng tượng trẻ con của nó; và, tôi vội vã lảng khỏi chủ đề đó, vốn dĩ thật nặng nề không nên bàn tới đối với mọi tạo vật thuộc về cái loài đã trải rộng một sự thống trị bất công lên mọi loài thú của sáng thế. Những lúc nó nói với tôi về các ngôi mộ ngoài nghĩa địa, bảo tôi rằng trong bầu không khí ấy người ta được hít những mùi hương dễ chịu của bách và cúc vạn thọ, tôi tránh không nói ngược lại nó; nhưng, tôi hay nói với nó rằng đó là thành phố của lũ chim, rằng, ở đó, chúng ca hát từ bình minh cho đến tận hoàng hôn, và các nấm mồ là tổ của chúng, nơi đêm đến chúng nằm cùng gia đình chúng, chỉ cần lật lớp đá lên mà thôi. Tất tật những quần áo xinh xẻo mặc lên người nó, tôi đều tự tay may lấy, cũng như những đồ đăng ten, với cả nghìn họa tiết hoa lá, mà tôi dành cho ngày Chủ nhật. Mùa đông, nó có chỗ trịnh trọng bên lò sưởi lớn; vì nó nghĩ nó là một con người nghiêm túc và, trong mùa hè, đồng cỏ nhận ra sức ép êm dịu những bước chân của nó, những khi nó lang thang, cùng cái vợt bằng lụa buộc vào đầu một cần nhỏ, đuổi theo lũ chim ruồi, vốn dĩ tràn ngập sự độc lập, và đám bướm, hay bay dích dắc lắt léo. “Con làm gì thế, hỡi đứa con gái ma cà bông, khi mà xúp đã đợi con từ một tiếng rồi, với cái thìa đang sốt ruột kia?” Nhưng, nó kêu lên, nhảy lên ôm cổ tôi, nói rằng nó sẽ không quay lại đó nữa. Hôm sau, nó lại trốn đi, băng ngang những đám cúc nhỏ và cỏ mộc tê; giữa các tia nắng và cuộc bay vòng vòng của các loài côn trùng phù du; mới chỉ biết phần rộn màu của cuộc đời, chứ chưa phải nỗi chua cay; sung sướng vì to lớn hơn sẻ ngô; chế nhạo chim sâu hót không hay bằng họa mi; ma mãnh thè lưỡi trêu con quạ xấu xí, đang nhìn nó đầy bao dung; và yểu điệu như một chú mèo con. Tôi sẽ không còn được tận hưởng sự hiện diện của nó lâu nữa; đã sắp đến lúc nó phải, theo một cách thức bất ngờ, nói lời vĩnh biệt với những huyền hoặc của cuộc đời, mãi mãi từ bỏ sự bầu bạn của lũ cu gáy, sẻ ngô và sẻ lục, những lời ba hoa của tuy líp và phong quỳ, những lời khuyên của cỏ đầm lầy, tinh thần cả quyết của ếch nhái, và sự mát những dòng suối. Người ta kể với tôi chuyện đã xảy ra; bởi vì, tôi, tôi không có mặt nơi sự kiện mà hệ quả là cái chết của con gái tôi. Nếu mà có mặt, chắc hẳn tôi đã bảo vệ được thiên thần ấy, với cái giá là máu của tôi… Maldoror đi ngang qua cùng con chó ngao của hắn; hắn nhìn thấy một thiếu nữ đang ngủ dưới bóng một cây tiêu huyền, mới thoạt tiên hắn tưởng đó là một bông hoa hồng. Chẳng thể nói cái gì vươn lên trước hết trong tâm trí hắn, cảnh tượng đứa trẻ ấy, hay quyết định nảy ra từ đó. Hắn mau chóng cởi quần áo, giống một người biết mình sắp làm gì. Trần truồng như một tảng đá, hắn lao xuống cơ thể thiếu nữ, và lột váy nó ra, tấn công thẳng vào sự thẹn thùng… ngay dưới mặt trời! Thì hắn có bận tâm đâu!… Thôi ta đừng nán lại lâu với cái hành động dơ dáy kia. Tâm địa bất mãn, hắn vội vã mặc quần áo lại, ném một ánh mắt thận trọng lên con đường phủ bụi, nơi chẳng có ai đi, và ra lệnh cho con chó ngao dùng quai hàm siết chết cô thiếu nữ đầm đìa máu trên người. Hắn chỉ cho con chó núi cái nơi đang thở và hú hét nạn nhân đau đớn, và lui ra một chỗ khuất nẻo, để khỏi phải trở thành chứng nhân cho quá trình cắm phập những răng nhọn vào các mạch máu hồng. Việc hoàn thành mệnh lệnh này dường như quá mức nghiêm khắc đối với con chó ngao. Nó tưởng người ta bảo nó làm cái việc đã diễn ra, thế nên, con chó sói ấy, với cái mõm gớm ghiếc, đến lượt nó hiếp đáp sự trinh nguyên của đứa trẻ thanh nhã kia. Từ cái bụng bị xé toang, máu lại chảy thành dòng theo hai chân, tràn lên đồng cỏ. Những tiếng rên rỉ của thiếu nữ hòa lẫn vào với tiếng khóc của con thú. Thiếu nữ tặng cho nó cây thập giá bằng vàng đeo trên cổ, hòng khiến nó buông tha cho mình; cô đã không dám chìa nó ra trước cặp mắt hung dữ của kẻ, trước hết, nảy ra ý định lợi dụng sự yếu ớt của tuổi cô. Nhưng con chó chẳng phải không biết rằng, nếu không nghe lời chủ, một con dao găm sẽ lẳng lặng ném ra từ bên dưới ống tay áo, đột ngột rạch nội tạng của nó ra. Maldoror (sao mà cái tên này đáng kinh tởm thế!) nghe thấy những hấp hối của nỗi đau, và ngạc nhiên vì nạn nhân sống dai đến vậy, vẫn còn chưa chịu chết. Hắn tiến lại gần ban thờ hiến sinh, và nhìn thấy hành xử của con chó ngao, đang tuân theo những thiên năng thấp hèn, và nghển đầu lên phía bên trên cô thiếu nữ, như một kẻ đắm tàu nghển cái đầu của anh ta, phía bên trên những cơn sóng giận dữ. Hắn giáng cho nó một cú đá và chọc mù một bên mắt nó. Con chó ngao, đầy giận dữ, chạy trốn vào vùng nông thôn, kéo theo, trong một quãng đường luôn luôn quá dài, dẫu có ngắn ngủi tới đâu, xác cô thiếu nữ vẫn treo lủng lẳng, chỉ bắn rời ra nhờ các cử động hỗn loạn của cuộc chạy trốn; nhưng, nó sợ phải tấn công chủ của nó, kẻ sẽ chẳng còn nhìn thấy nó nữa. Hắn rút từ trong túi ra một con dao nhíp của Mỹ, gồm mười đến mười hai lưỡi nhiều công dụng khác nhau. Hắn mở những cái cẳng nhiều góc và mấu của con rắn bằng thép ấy ra; và, với một con dao mổ như vậy, thấy rằng cỏ hẵng còn chưa biến mất dưới màu của ngần ấy máu đã đổ, bắt đầu, chẳng tái mặt chút nào, đầy can đảm bới tung âm hộ của đứa trẻ bất hạnh. Từ cái lỗ mở rộng ấy, hắn lần lượt lôi ra các cơ phận bên trong; lòng, phổi, gan và rốt cuộc cả trái tim nữa bị giật ra khỏi gốc rễ của chúng và lôi ra ánh sáng ban ngày, qua chỗ mở hoác đáng sợ. Tên thầy tế hiến sinh nhận thấy rằng cô thiếu nữ, con gà bị moi ruột, đã chết từ lâu; hắn bèn ngừng sự hăng hái tăng dần những tàn phá của hắn, và vứt cái xác lại đó, nằm ngủ dưới bóng cây tiêu huyền. Người ta nhặt được con dao nhíp, bị vứt lại cách đó vài bước chân. Một mục đồng, chứng kiến tội ác, mà người ta đã không tìm ra được tác giả, mãi về sau này mới kể lại, khi ông ta đã chắc rằng tên tội phạm an toàn đến được biên giới rồi, và ông ta không còn phải e ngại sự trả thù chắc chắn sẽ đổ ập lên mình nữa, nếu mà hé môi nói gì. Tôi thương cho kẻ loạn trí nào đã gây ra tội ác đó, mà nhà lập pháp không dự liệu được, và chưa từng có tiền lệ. Tôi thương cho hắn, bởi vì có khả năng hắn đã không giữ được khả năng dùng lý trí, vào lúc hắn sử con dao găm có số lưỡi bốn lần ba, cặm cụi xử lý thật cặn kẽ những thành vách nội tạng. Tôi thương hắn, bởi vì, nếu hắn không điên, hành xử đáng xấu hổ của hắn chắc phải che giấu một niềm căm hận lớn vô chừng chống lại đồng loại của hắn, để có thể hứng khởi như thế trên da thịt và các mạch máu của một đứa trẻ vô hại, đó là con gái tôi. Tôi dự đám tang chôn đống thi hài con người ấy, với sự nhẫn nhục câm lặng; và ngày nào tôi cũng tới một ngôi mộ để cầu nguyện.” Đọc xong, người xa lạ thấy sức lực cạn đi mất, và ngất đi. Ông ta hồi tỉnh, và đốt bản thảo. Ông ta đã quên mất kỷ niệm hồi còn trẻ này (thói quen làm mòn ký ức!); và sau hai mươi năm vắng mặt, ông ta quay trở lại đất nước định mệnh kia. Ông ta sẽ không mua chó ngao!… Ông ta sẽ không nói chuyện với đám mục đồng!… Ông ta sẽ không ngủ dưới tán những cây tiêu huyền!… Lũ trẻ con ném đá theo cô ta, như thể đó là một con chim hét.




III, 3

Tremdall đã chạm tay lần cuối vào cái người sẵn lòng vắng mặt, luôn luôn chạy trốn trước mặt anh, luôn luôn hình ảnh con người đó truy đuổi anh. Người Do Thái lang thang tự nhủ rằng, nếu cây quyền trượng của trái đất thuộc về loài cá sấu, thì anh ta hẳn sẽ không trốn chạy như thế. Tremdall, đứng trên thung lũng, đặt một bàn tay lên trước mắt, để tập trung các tia nắng, và khiến cái nhìn của anh thấu suốt hơn, trong khi tay kia sờ soạng bầu vú của không gian, cánh tay giơ thẳng và bất động. Chúi người về trước, bức tượng tình bạn, anh đưa mắt nhìn, cặp mắt bí ẩn như biển, đang trèo lên, trên triền đèo, ghệt của người lữ khách, được trợ sức bởi cây gậy đầu bịt sắt. Mặt đất như thể hẫng đi dưới chân anh, và dẫu cho muốn lắm, hẳn anh cũng sẽ chẳng làm sao kìm giữ nổi những giọt nước mắt và tình cảm nơi mình:

“Chàng ở xa quá; mình nhìn thấy bóng dáng chàng đang bước trên một con đường hẹp. Chàng đi đâu nhỉ, với bước chân nặng nề kia? Bản thân chàng cũng đâu biết… Tuy nhiên, mình chắc chắn là mình không ngủ: ai kia đang tiến lại gần, để tới gặp Maldoror? Sao mà nó to lớn, con chằn… còn hơn một cây sồi! Hẳn người ta sẽ nói rằng cặp cánh trắng nhợt của nó, buộc xoắn những dây chắc chắn, có những gân bằng thép, vì chúng phăng không khí sao mà dễ đến thế. Người nó khởi sự bằng một thân trên của hổ, và kết thúc bằng một đuôi rắn dài. Mình từng chẳng quen nhìn những thứ như vậy. Mà trên trán nó có gì kia nhỉ? Mình nhìn thấy ở đó viết, trong một loại ngôn ngữ biểu tượng, một từ mà mình không sao giải mã. Bằng cú đập cánh cuối cùng, nó đã thoắt tới bên người mà mình biết âm sắc giọng nói. Nó nói với chàng: “Ta đã đợi mi, và mi cũng vậy. Giờ đã điểm; ta đây. Đọc đi, trên trán ta, tên của ta viết bằng chữ tượng hình.” Nhưng chàng, vừa nhìn thấy kẻ thù đến, liền biến thành đại bàng khổng lồ, và chuẩn bị bước vào trận đánh, cái mỏ khoằm quẹc vẻ sung sướng, qua đó mà muốn nói chỉ mình chàng thôi cũng đủ sức chén trọn phần bên dưới của con chằn. Chúng kia, vạch thành những vòng tròn với bán kính mỗi lúc một hẹp thêm lại, thám thính các phương tiện của đối phương, trước khi đánh; chúng làm rất tốt. Mình thấy dường con chằn khỏe hơn; mình những muốn nó thắng con đại bàng. Mình sẽ trải qua những xúc cảm lớn, trước cảnh tượng ấy nơi một phần con người mình có can dự. Hỡi con chằn hùng mạnh, ta sẽ hò hét cổ vũ cho ngươi, nếu cần; bởi, sẽ có lợi cho đại bàng nếu nó thua cuộc. Chúng còn đợi gì nữa mà còn chưa tấn công nhau? Mình rơi vào những hứng khởi chết người ấy. Nào, con chằn, khởi sự đi chứ, ngươi hãy tấn công trước. Ngươi vừa giáng cho nó một phát cào oai vệ: không hề tệ đâu nhé. Ta đảm bảo với ngươi là đại bàng có cảm thấy đấy; gió thổi tung vẻ đẹp những cái lông của nó, đã lốm đốm máu. A! đại bàng dùng mỏ mổ thủng một con mắt của ngươi, và ngươi, ngươi mới chỉ giật được da của nó; lẽ ra phải chú ý tới điều đó. Hoan hô, trả thù đi nào, đập gãy một bên cánh nó đi; khỏi cần phải nói, đống răng hổ của ngươi mạnh lắm. Giá kể ngươi sáp lại gần được đại bàng, trong lúc nó lượn vòng vòng trên không trung, lao mình xuống bên dưới về phía vùng nông thôn! Ta nhận ra rồi, đại bàng kia khiến ngươi thấy kính cẩn, ngay cả khi nó rơi. Nó đang ở dưới đất, sẽ không sao gượng dậy được nữa. Dáng vẻ tất tật những vết thương hoác miệng ấy khiến ta lên cơn say. Hãy bay là là mặt đất quanh nó và, rồi lấy cái đuôi rắn đầy vảy của ngươi vụt mà kết liễu nó đi, nếu như ngươi có thể. Can đảm lên nào, con chằn đẹp; cắm sâu những móng vuốt mạnh mẽ của ngươi vào người nó, sao cho máu trộn vào với máu, để tạo thành các dòng suối không có nước. Nói thì dễ, chứ làm thì không. Con đại bàng vừa mưu mô cả một chiến lược mới để tự vệ, dựa trên các cơ may không ngờ của trận chiến đáng nhớ; nó thận trọng lắm. Nó ngồi thật chắc, trong một tư thế vững như bàn thạch, trên cái cánh còn lại, trên cặp đùi của nó, và trên đuôi nữa, thứ nó dùng làm bánh lái lúc trước. Nó thách thức những nỗ lực ngoạn mục hơn so với các nỗ lực kẻ khác đã dùng để chống lại nó cho đến khi ấy. Lúc thì nó xoay cũng nhanh như hổ, và không có vẻ bị mệt; khi nó lại nằm ngửa ra, hai cẳng thật khỏe giơ lên trời và, đầy lạnh lùng, châm biếm nhìn đối thủ. Cho đến cùng, rồi mình sẽ biết con nào chiến thắng; cuộc chiến không thể kéo dài vĩnh hằng. Mình nghĩ tới những hệ lụy sẽ nảy sinh từ đó! Đại bàng khủng khiếp quá, nó nhảy chồm chồm làm mặt đất rung chuyển, như thể sắp tung mình bay vọt lên; tuy nhiên, nó biết chuyện ấy với nó là bất khả. Con chằn lại không biết thế; nó tưởng đâu giây phút nào đại bàng cũng chực tấn công nó từ phía nó thiếu mất con mắt… Sao mà mình bất hạnh! Sau đây là chuyện xảy ra. Làm sao mà con chằn lại để cho bị dính đòn vào ngực thế kia? Dẫu cho nó dụng đến mưu mô và sức mạnh; mình nhận ra là đại bàng, với tất tật chi của nó bíu chặt lấy, như một con đỉa, mỗi lúc một cắm sâu mỏ của nó, mặc cho những vết thương mới mà nó lĩnh về, cho tới tận gốc cổ, vào trong bụng con chằn. Chỉ còn nhìn thấy người nó. Trông nó có vẻ thoải mái; nó không vội vã thoát ra từ đó. Chắc hẳn nó đang tìm cái gì đó, trong lúc con chằn, với cái đầu hổ, rống lên những tiếng khủng khiếp đánh thức các khu rừng. Kìa là đại bàng, đang chui ra từ cái hốc ấy! Đại bàng, sao trông mi hãi hùng thế! Mi đỏ hơn một vũng máu! Dẫu ngậm trong cái mỏ nóng nảy một quả tim vẫn còn đập, người mi nhiều thương tích quá, tới nỗi mi gần như không đứng vững nổi trên cặp chân trụi lông; và tới nỗi mi lảo đảo, miệng vẫn chẳng chịu há ra, bên cạnh con chằn đang chết đi trong những đợt hấp hối kinh khiếp. Chiến thắng đã thật khó nhọc; quan trọng gì đâu, mi đã giành được: cần phải, ít nhất, nói sự thật… Mi hành động theo các quy tắc của lý trí, mi trút đi lốt đại bàng, trong lúc rời xa khỏi cái xác con chằn. Vậy đấy, Maldoror, mi đã là người chiến thắng! Vậy đấy, Maldoror, mi đã chiến thắng Hy Vọng! Kể từ nay, nỗi tuyệt vọng sẽ được nuôi dưỡng bằng chất của mi, ở mức thuần khiết nhất! Kể từ nay, mi quay về, bằng những bước chân cân nhắc, trong sự nghiệp của cái ác! Dẫu ta, có thể nói vậy, ơ hờ về đau đớn, cú cuối cùng mà mi giáng lên con chằn đã không khỏi khiến ta cảm thấy dội lên ở bên trong ta. Tự mi, mi hãy đánh giá xem ta có đau đớn! Nhưng mi làm ta sợ. Nhìn kìa, nhìn kìa, nơi xa xa, kẻ con người đang bỏ chạy kia. Trên hắn ta, đất tuyệt diệu, sự nguyền rủa đã mọc lên tán lá rậm rì của nó; hắn bị nguyền và hắn cất lời nguyền. Mi mang đôi xăng đan của mi đi đâu? Mi đi đâu đấy, ngập ngừng như một kẻ mộng du, phía bên trên một mái nhà? Cầu cho số phần biến thái của mi được thành tựu! Maldoror, từ biệt! Từ biệt, cho tới tận vĩnh cửu, nơi hai ta sẽ không chạm mặt nhau lần nữa!”




III, 4

Đó là một ngày xuân. Lũ chim rộn ràng những bài thánh ca tiếng chiêm chiếp của chúng, và đám con người, bị trả về cho những nghĩa vụ khác nhau của chúng, đằm mình trong sự thánh thiện của nỗi mệt. Tất tật năng nổ phụng sự số phần của mình: những cái cây, các hành tinh, lũ cá nhám. Mọi thứ, trừ Đấng Sáng Tạo! Ông ta đang nằm vật ra đó trên đường cái, áo quần rách tả tơi. Môi dưới của ông ta trề ra như một sợi dây cáp ngủ đuội; răng thì chưa chùi đánh, và bụi trộn vào với những làn sóng vàng hoe mái tóc ông ta. Đờ đẫn vì một cơn ngủ nặng trịch, đè thẳng xuống các viên sỏi, cơ thể ông ta thực hiện những nỗ lực vô ích để đứng dậy. Sức lực đã rời bỏ ông ta, và ông ta nằm đó, yếu như con sâu đất, trơ lì như vỏ cây. Những đợt sóng rượu ngập đầy các rãnh đào xuống bởi những nhảy dựng nóng nảy hai vai ông ta. Nỗi đần độn, có cái mõm lợn, dang cặp cánh ân cần phủ lấy ông ta, say đắm tình yêu nhìn ông ta. Hai cẳng chân ông ta, cơ bắp nhão nhệ, quét đất, giống hai cột buồm mù. Máu chảy ra từ hai lỗ mũi ông ta: trong cú ngã, mặt ông ta đã đập trúng một cây cột… Ông ta say! Say hãi hùng! Say như một con rệp đã nốc trong đêm ba thùng tô nô máu! Ông ta lấp đầy âm vọng bằng những lời hỗn loạn, mà ta sẽ tránh không nhắc lại ở đây; nếu kẻ say xỉn tối cao không tự tôn trọng bản thân, thì ta, ta còn phải tôn trọng đám con người. Các ngươi có biết rằng Đấng Sáng Tạo… say xỉn! Thương thay cho môi kia, đã bị vấy bẩn trong những ly cốc cuộc truy hoan! Con nhím, đi ngang qua, cắm các lông nhọn vào lưng ông ta, và nói: “Cái này, là cho ông. Mặt trời đã lên được lưng chặng rồi: làm việc đi, kẻ lười nhác, và đừng có ăn bánh mì của kẻ khác đấy. Đợi chút, ông sẽ thấy chuyện thế nào nếu tôi gọi tới đây con vẹt mỏ khoằm.” Gõ kiến và cú mèo, đi ngang qua, cắm lút mỏ của chúng vào bụng ông ta, và nói: “Cái này, là cho ông. Ông xuống mặt đất này để làm gì thế hả? Ý hẳn để tặng các loài thú vở hài kịch xấu xa kia? Nhưng, cả chuột chũi, đà điểu lẫn hồng hạc đều sẽ chẳng bắt chước ông đâu, tôi thề với ông điều đó.” Lừa, đi ngang qua, giơ chân đạp cho ông ta một cú vào thái dương, và nói: “Cái này, là cho ông. Tôi đây đã làm gì ông để mà ông tặng cho tôi cặp tai dài thế này hử? Cho đến cả con dế chẳng thứ gì không khinh bỉ tôi.” Con cóc, đi ngang qua, nhổ một bãi nước dãi lên trán ông ta, và nói: “Cái này, là cho ông. Nếu ông không làm cho mắt tôi to đến thế, để mà tôi thấy được ông đang ở vào tình trạng kia, thì hẳn tôi đã ý nhị che giấu vẻ đẹp các chi của ông dưới một cơn mưa mao lương, thạch thảo và hoa trà, để chẳng ai có thể nhìn thấy ông.” Sư tử, đi ngang qua, nghé cái mặt hoàng gia của nó xuống, và nói: “Về phần ta, ta tôn trọng ông ta, dẫu rằng vẻ rực rỡ của ông ta đối với chúng ta lúc này có vẻ bị che khuất. Các ngươi kia, các ngươi tỏ vẻ cao ngạo, nhưng các ngươi chỉ là đám hèn nhát, bởi vì các ngươi đã tấn công ông ta trong lúc ông ta ngủ, các ngươi có thấy sung sướng chăng nếu, bị đặt vào địa vị của ông ta, các ngươi phải gánh chịu, từ phía những kẻ đi ngang, những lời sỉ nhục mà các ngươi đã ném vào ông ta?” Con người, đi ngang qua, dừng lại trước Đấng Sáng Tạo ít được biết tới; thế rồi, trước những tiếng vỗ tay hoan hô của rận mu và rắn hổ mang, phọt phân, suốt ba ngày liền, lên khuôn mặt uy nghi của ông ta! Bất hạnh thay cho con người, vì sự sỉ nhục ấy; bởi, hắn đã không tôn trọng kẻ thù, đang nằm đó thõng thượt trong hỗn hợp của bùn, máu và rượu; không thể tự vệ, gần như bất động!… Thế là, Thượng đế chúa tể, rốt cuộc cũng bị đánh thức, bởi tất tật những lăng mạ ti tiện kia, chệnh choạng đứng dậy; bước lảo đảo, tới ngồi lên một tảng đá, hai tay buông thõng, như hai hòn dái của kẻ mắc bệnh phổi; và ném một cái nhìn òe oặt, không chút lửa, lên toàn bộ tự nhiên thuộc về ông ta. Ôi đám con người, các ngươi là lũ trẻ thánh vật; nhưng, xin các ngươi, chúng ta hãy buông tha cho tồn tại vĩ đại ấy, cái thứ vẫn còn chưa kết thúc quá trình giã rượu gớm guốc và, vì chẳng đủ sức để đứng cho thẳng, ngã xuống trở lại, nặng nề, lên tảng đá kia, nơi nó đã ngồi, như một lữ khách. Hãy để tâm đến người ăn mày đang đi ngang qua kia; anh ta đã thấy giáo sĩ đạo Hồi chìa một cánh tay đói khát và, chẳng hay biết mình đang quẳng đồ bố thí cho ai, anh ta ném một mẩu bánh mì vào bàn tay đang cầu xin lòng từ tâm ấy. Đấng Sáng Tạo gật đầu với anh ta tỏ ý biết ơn. Ồ! các ngươi sẽ chẳng bao giờ biết, lúc nào cũng phải cầm cương vũ trụ có thể trở nên điều khó nhọc đến đâu! Lắm lúc máu trào lên đầu, khi người ta cứ chăm chăm tìm cách kéo ra từ hư vô sao chổi cuối cùng, với một dòng giống tinh thần mới. Trí năng, bị rung với giật khiếp quá, rút lui như một kẻ thua cuộc, và có thể rơi, chừng nào ở trong cuộc đời, vào những nỗi lầm lạc mà các ngươi đã chứng kiến rồi!




III, 5

Một ngọn đèn đỏ, lá cờ của tật thói, treo ở đầu một thanh sắt, đung đưa mình cho các ngọn gió quật, bên trên một cánh cửa dày cộp rệu rã. Một hành lang bẩn, bốc mùi đùi trong con người, dẫn vào một cái sân, nơi lũ gà trống cùng gà mái kiếm ăn, gầy guộc hơn cả những cặp cánh của chúng. Trên bức tường dùng làm vòng bao cho cái sân, và nằm về mạn Tây, trổ đôi chỗ các lỗ thủng, thêm một ghi sê chăng lưới sắt. Rêu phủ đầy tường nhà, nó, chắc hẳn, từng là một tu viện và, lúc này, cùng phần còn lại của tòa nhà, dùng làm chốn trú ngụ cho tất tật phụ nữ kia ngày ngày bày ra, cho những kẻ bước vào, phía bên trong âm hộ họ, để nhận về chút vàng. Ta đương đứng trên một cây cầu, các cột của nó cắm xuống thứ nước nhơ bẩn một vòng hào. Từ bề mặt nhô cao ấy, ta ngắm nhìn trong vùng nông thôn cái ngôi nhà đó đang nghiêng mình xuống tuổi già của nó và từng chi tiết nhỏ nhất của kiến trúc bên trong. Đôi lúc, lưới sắt một ghi sê rin rít nâng lên, như do xung động tăng tiến của một bàn tay đang xâm phạm bản tính của sắt: một người đàn ông thò đầu ra khỏi cái lỗ đã được thông thoáng phần nào, nhích hai vai, trên đó vảy vữa rơi đầy, rồi tiếp đó, trong cuộc chui cần mẫn kia, là cả người anh ta phủ mạng nhện. Đặt hai bàn tay, giống một cái vương miện, lên đủ mọi thứ dơ dáy chất đầy mặt đất, trong khi cẳng chân anh ta vẫn còn mắc lại trong những uốn éo của cái lưới, bằng cách ấy anh ta lấy lại được tư thế tự nhiên, bước tới nhúng hai tay vào một cái chậu đặt đó ất ơ, mà nước xà phòng từng chứng kiến vươn lên, rồi đổ xuống toàn thể nhiều thế hệ, rồi sau đó đi ra xa, mau chóng hết mức, khỏi những phố nhỏ ngoại ô kia, để đến hít không khí trong lành phía trung tâm thành phố. Lúc người khách đã biến đi khỏi, một phụ nữ hoàn hoàn trần truồng cũng chui ra, theo cùng cách thức, và tiến về phía vẫn cái chậu kia. Thế là, gà trống cùng gà mái lũ lượt ào tới từ nhiều điểm khác nhau của cái sân, bị thu hút bởi mùi tinh dịch, hất cô ta ngã lăn xuống đất, mặc cho những nỗ lực vùng vẫy ghê gớm của cô ta, giẫm đạp lên bề mặt cơ thể của cô ta giống như đó là bãi cứt và dùng mỏ lia lịa mổ, cho đến khi máu tứa ra, cặp môi nhẽo cái âm hộ phồng tướng của cô ta. Gà mái cùng gà trống, cổ họng đã được no nê, quay trở ra sân bới cỏ; người phụ nữ, đã trở nên sạch sẽ, nhỏm dậy, run rẩy, mình đầy thương tích, giống như lúc người ta thức giấc sau một cơn ác mộng. Cô ta để rơi miếng khăn mà cô ta đã mang theo để chùi chân; chẳng còn cần đến cái chậu chung nữa, cô ta quay về hang ổ, giống như đã từ đó ra, để đợi một cuộc mới. Trước cảnh tượng ấy, cả ta nữa, ta cũng muốn vào ngôi nhà đó! ta đã chực đi xuống khỏi cây cầu, thì nhìn thấy trên chỏm một cây cột dòng chữ sau đây, viết bằng tiếng Hebrew: “Kẻ đi qua cầu kia, đừng đến đó. Ở nơi ấy tội ác ngự trị cùng thói tật; từng có ngày, bạn bè vô vọng đợi một chàng trai trẻ từng bước qua cánh cửa định mệnh.” Nỗi hiếu kỳ chiến thắng sự e sợ; sau một lúc, ta tới trước một ghi sê, với rào lưới sở hữu những chấn song vững chắc, uốn éo ken sát vào với nhau. Ta muốn nhìn vào bên trong, xuyên qua cái rây dày hự ấy. Thoạt tiên, ta chẳng thể thấy gì; nhưng, ta sớm nhìn rõ những đồ vật trong căn phòng tối, nhờ các tia mặt trời đang giảm cường độ ánh sáng của nó và sắp biến đi nơi chân trời. Thứ đầu tiên và duy nhất đập vào mắt ta là một cây gậy vàng hoe, tạo thành từ nhiều khấc lồng vào nhau. Cây gậy ấy nhúc nhích! Nó bước đi trong phòng! Những rung lắc của nó mạnh tới nỗi sàn nhà chao đảo; hai đầu của nó thúc, tạo ra các hõm mẻ to tướng trên bức tường và trông thật giống máy phá thành người ta dùng để dộng vào cánh cổng một thành phố bị vây hãm. Những nỗ lực của nó chỉ vô ích; các bức tường được xây bằng đá tạc và, những khi nó va vào vách, ta thấy nó uốn cong hẳn lại như lưỡi thép và bật tưng lên giống một quả banh nỉ. Như vậy cây gậy đó không làm bằng gỗ! Ta nhận ra, sau đó, rằng nó dễ dàng cuộn lại rồi duỗi thẳng, như một cây kim. Dẫu cao bằng người, nó không đứng thẳng. Thảng hoặc, nó thử làm thế, và chìa một trong hai đầu ra trước rào lưới của ghi sê. Nó nhảy tưng tưng, rơi lại xuống đất, không sao chọc thủng được chướng ngại vật. Ta khởi sự nhìn nó mỗi lúc một thêm chăm chú và nhận ra đó là một sợi tóc! Sau một cuộc tranh đấu dữ dội, với vật chất bao quanh nó như một nhà tù, nó đến dựa mình vào cái giường nằm trong căn phòng đó, gốc ngả lên một tấm thảm còn đầu thì tựa vào đầu giường. Sau một quãng im lặng, trong đó ta nghe thấy những tiếng nức nở đứt đoạn, nó cất lời và nói như sau: “Ông chủ của tôi đã bỏ quên tôi trong căn phòng này; ông ấy sẽ không tới tìm tôi. Ông ấy đã dậy khỏi cái giường này, nơi tôi đang dựa, ông ấy đã chải mái tóc thơm hương của mình và đã chẳng nghĩ rằng tôi bị rơi xuống đất từ trước đó. Tuy nhiên, nếu ông ấy nhặt tôi lên, hẳn tôi sẽ không thấy hành động thuộc về công lý giản dị đó có gì đáng kinh ngạc. Ông ấy bỏ tôi, trong căn phòng bị quây kín này, sau khi đã được bao bọc trong vòng tay một phụ nữ. Và một phụ nữ mới gớm làm sao chứ! Chăn nệm vẫn còn ướt nhẹp vì tiếp xúc của họ, ấm oải, và mang, trong nỗi lộn xộn của chúng, dấu vết một đêm trôi qua trong ái tình…” Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Trong lúc toàn bộ tự nhiên đang say ngủ trong sự thánh thiện của nó, thì ông ấy, ông ấy đã giao hợp với một phụ nữ đê hạ, trong những hôn hít lả lơi và trơ trẽn. Ông ấy đã tự hạ mình đến mức để cho sáp lại gần khuôn mặt đường bệ của ông ấy cặp má đáng khinh bỉ bởi sự nhơ nhuốc quen thuộc của chúng, tàn héo chẳng còn đâu nhựa sống. Ông ấy đã không đỏ mặt, nhưng tôi, tôi thì tôi đỏ mặt cho ông ấy. Chắc chắn rằng ông ấy cảm thấy sung sướng được ngủ với người vợ của một đêm như vậy. Người phụ nữ kia, sửng sốt trước dáng vẻ uy nghi của người khách ấy, dường như đã có những khoái lạc vô song, đã hôn cổ ông ấy nồng nhiệt phát khiếp.” Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Còn tôi, trong suốt quãng thời gian đó, tôi cảm thấy những mụn mủ chất đầy độc tố cứ nhiều thêm lên mãi, do niềm hứng khởi hiếm thấy của ông ấy trước các hoan lạc xác thịt, chúng vây chặt lấy gốc của tôi bằng chất độc chết người, hấp thụ, với những giác hút của chúng, chất sinh sôi cuộc đời tôi. Họ càng tự lãng quên bản thân, trong những chuyển động rồ dại của họ, tôi lại càng cảm thấy sức lực của mình sụt giảm. Vào đúng lúc những khoái lạc thể xác đạt tới đỉnh điểm của cuồng loạn, tôi nhận ra gốc của tôi rũ xuống, như một tên lính bị viên đạn bắn tử thương. Bởi ngọn đuốc sự sống đã tắt ngấm trong tôi, tôi rụng khỏi cái đầu xuất chúng của ông ấy, như một cành khô; tôi đã ngã xuống đất, chẳng chút can đảm, không sức lực, không sự sống; nhưng, cùng một nỗi thương hại sâu sắc đối với cái người tôi từng thuộc về; nhưng, cùng một nỗi đau đớn vĩnh cửu đối với sự lạc lối đầy chủ ý của ông ấy!…” Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Giá kể, ít ra, ông ấy đã choàng tâm hồn của ông ấy lên bầu ngực trong trắng một nàng trinh nữ. Vậy thì nàng ta chắc hẳn sẽ xứng với ông ta hơn và sự đồi trụy sẽ bớt phần đi. Ông ấy hôn, bằng đôi môi, cái trán phủ bùn kia, trên đó đám đàn ông đã di gót chân xuống, đầy bụi là bụi!… Ông ấy hít lấy, với hai lỗ mũi phập phồng, các hơi tỏa của hai cái nách ẩm kia!… Tôi đã trông thấy màng của cặp nách rúm lại vì ngượng ngùng, trong khi, từ phía chúng, những lỗ mũi chối từ sự hít thở nhớp nhúa đó. Nhưng ông ấy, cả ả kia nữa, chẳng hề để ý chút nào đến những cảnh báo trang trọng của hai nách, đến nỗi gớm tởm âm u và nhợt nhạt của các lỗ mũi. Ả càng dướn hai tay lên mãi, còn ông ấy, chừng bị thúc mạnh hơn, gí mặt vào chỗ hõm của chúng. Tôi đã buộc lòng phải trở thành đồng lõa cho cuộc báng bổ kia. Tôi đã buộc lòng phải là khán giả cho màn vươn mình khiếp khủng; phải dự phần vào trận hợp hoan cưỡng ép của hai kẻ đó, mà cả một vực thẳm khôn dò thấu chia rẽ những bản tính quá khác…” Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Chừng đã thỏa việc hít ả phụ nữ, ông ấy lại muốn lột khỏi ả từng sợi cơ trên người; nhưng, vì đó là một phụ nữ, ông ấy tha thứ cho ả, muốn gây đau đớn cho một kẻ cùng giới với mình hơn. Ông ấy gọi, từ phòng kín kế bên, một chàng thanh niên đã tới ngôi nhà này để hưởng vài quãng thời gian vô tư lự cùng một trong số đám phụ nữ kia, và ra lệnh cho chàng ta tới trước mình, cách một bước chân. Tôi nằm dưới đất từ lâu lắm rồi. Vì không đủ sức nhỏm dậy trên cái gốc đau nhức, tôi không thể nhìn thấy họ làm gì. Điều mà tôi biết là, chàng thanh niên chỉ vừa bước đến trong tầm tay ông ấy, thì ngay lập tức các mẩu thịt đã rơi xuống mấy chân giường, nằm xuống cạnh tôi. Chúng hạ giọng kể cho tôi rằng những móng vuốt của ông chủ tôi đã giật chúng ra khỏi hai bờ vai chàng trai trẻ. Chàng ta, sau vài tiếng, trong đó chàng đã tranh đấu trước một sức mạnh lớn hơn, nhỏm dậy khỏi giường và uy nghi rút lui. Chàng ta đã bị lột hết da theo đúng nghĩa đen từ chân tới tận đầu; chàng ta kéo lê, băng ngang những đá lát nền phòng, lớp da bị bóc ra của mình. Chàng tự nhủ rằng chàng tốt tính quá; rằng chàng thích tin đồng loại của mình cũng tốt; rằng bởi vậy chàng đã đồng ý với mong muốn của người lạ mặt cao quý, kẻ đã gọi chàng tới bên ông ta; nhưng, chẳng bao giờ, tuyệt đối chẳng bao giờ, chàng trông đợi mình bị tra tấn bởi một tên đao phủ. Bởi một tên đao phủ như thế, chàng nói thêm sau một quãng ngừng. Rốt cuộc, chàng ta tiến về phía ghi sê, đầy thương xót nó mở toác ra cho đến tận sàn, trước hiện diện của cái cơ thể chẳng còn chút biểu bì nào kia. Không bỏ đi lớp da của mình, nó vẫn còn có thể phụng sự cho chàng, dẫu chỉ như cái áo choàng, chàng tìm cách biến mất khỏi kẻ chuyên cắt cổ kia; lúc chàng đã rời xa khỏi căn phòng, tôi chẳng thể thấy chàng ta có đủ sức để đi tới chỗ cửa ra vào hay không. Ồ! sao mà lũ gà mái và gà trống kính cẩn lùi xa, mặc cho nỗi đói bụng của chúng, khỏi vệt máu kia kéo lê thê trên mặt đất sũng!” Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và hai mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Thế là, cái người lẽ ra đã phải nghĩ nhiều hơn đến phẩm hạnh và sự công bằng của mình, nhỏm dậy, đầy nặng nề, trên cùi chỏ mệt mỏi. Một mình, u tối, chán chường và xấu xa!… Ông ấy chậm rãi mặc quần áo. Đám nữ tu, vốn dĩ bị chôn vùi từ hàng thế kỷ dưới các hầm mộ của tu viện, sau khi đã bị đánh thức choàng tỉnh dậy bởi những ồn ào của cái đêm khủng khiếp ấy, chúng va đập hỗn độn vào nhau trong một gian phòng kín nằm phía bên trên các hầm, cầm lấy tay nhau, và tạo thành một vòng tròn ma quái xung quanh ông ấy. Trong lúc đó ông ấy mò tìm những tàn tích sự rực rỡ cũ của mình; ông ấy nhổ nước bọt để rửa hai tay rồi sau đó chùi chúng lên tóc (rửa tay bằng nước bọt thì vẫn tốt hơn là chẳng hề rửa một chút nào, sau quãng thời gian một đêm đầy đủ trôi qua trong tật thói cùng tội ác), lũ kia rống lên các lời cầu nguyện thảm thê cho những người chết, khi có ai đó bước xuống nấm mồ. Quả thật, chàng trai trẻ sẽ chẳng thể nào sống sót sau cực hình đó, thực thi lên chàng bởi một bàn tay thần linh, và cơn hấp hối của chàng ta kết thúc lẩn trong tiếng hát đám nữ tu…” Ta nhớ tới dòng chữ viết trên cây cột; ta hiểu chuyện gì đã xảy ra cho con người còn măng sữa nhiều mơ mộng mà các bạn ngày ngày vẫn đợi kể từ khi chàng biến mất… Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và hai mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… “Những bức tường dịch ra nhường chỗ cho ông ấy đi qua; các nữ tu, thấy ông ấy bay vọt lên, trong không trung, với cặp cánh cho đến lúc đó ông ấy đã giấu trong cái áo dài bằng ngọc lục bảo, lặng im về lại chỗ của bọn họ bên dưới nắp ngôi mộ. Ông ấy đã về nhà ông ấy ở trên trời, để lại tôi ở đây; vậy là thiếu công bằng. Những sợi tóc khác vẫn ở lại trên đầu ông ấy; và, tôi, tôi nằm đây, trong căn phòng thê lương này, trên cái mặt sàn phủ đầy máu vón cục, rồi thì những mẩu thịt khô; căn phòng này đã trở nên bị đày đọa, kể từ khi ông ấy bước vào đây; chẳng ai vào; tuy nhiên, tôi bị nhốt nơi đây! Thế là xong mất rồi! Tôi sẽ không còn được nhìn thấy hàng đoàn hàng lũ thiên thần bước đi thành đội ngũ đông đảo, cũng như các thiên thể dạo mát trong khu vườn của hài hòa. Ừ thì, rồi… tôi sẽ có thể chịu nỗi bất hạnh riêng, đầy nhẫn nhục. Nhưng, tôi sẽ không khỏi nói cho đám con người điều gì đã xảy ra trong căn phòng kín này. Tôi sẽ trao họ sự được phép vứt bỏ phẩm hạnh của họ, như một thứ trang phục vô tích sự, vì họ đã có tấm gương tày liếp là chủ của tôi; tôi sẽ khuyên họ tha hồ mút cái que tội ác, bởi một kẻ khác đã làm chuyện đó rồi…” Sợi tóc im bặt… Và ta tự hỏi kẻ nào có thể là chủ nó! Và hai mắt ta dán chặt thêm vào tấm lưới!… Rất chóng vánh sấm rền vang; một luồng lân quang rọi vào trong căn phòng. Ta lùi lại, dẫu không định thế, do một bản năng cảnh báo nào đó mà ta cũng không rõ; dẫu đã ở xa khỏi ghi sê, ta vẫn nghe thấy một giọng nói khác, nhưng, giọng ấy thì luồn lỏi và êm ái, vì e bị nghe trộm: “Đừng nhảy tưng tưng như thế! Im nào… im nào… nếu có ai nghe thấy mi thì sao! ta sẽ cho mi về trở lại giữa những sợi tóc khác; nhưng, trước hết hãy để cho mặt trời lặn ở chân trời đã, để đêm che phủ những bước chân của mi… ta đã không quên mi; nhưng, hẳn người ta sẽ trông thấy mi đi ra, và ta sẽ bị tổn hại. Ồ! giá mi biết ta đã đau đớn đến thế nào kể từ khoảnh khắc ấy! Về lại trên trời, đám tổng thiên thần của ta đã tò mò vây lấy ta; chúng đã không muốn hỏi ta về lý do đi vắng. Chúng, vốn dĩ chưa từng bao giờ cả gan ngẩng mặt nhìn ta, ném, cố công giải câu đố, những ánh mắt ngây dại lên mặt ta bợt bạt, dẫu chúng không thấy được tận đáy bí ẩn đó, và thì thầm truyền nhau các ý nghĩ ngờ rằng bên trong ta có đổi thay bất lường nào. Chúng khóc những giọt nước mắt im lìm; chúng mơ hồ cảm thấy ta không còn như cũ, đã trở nên thấp hơn căn cước của ta. Chúng những muốn biết đâu là quyết định gớm ghê đã khiến ta vượt đường biên giới bầu trời, để giáng mình xuống mặt đất, và tận hưởng những khoái lạc phù du, mà bản thân chúng khinh bỉ sâu sắc. Chúng nhận ra trên trán ta một giọt tinh dịch, một giọt máu. Giọt thứ nhất đã vọt ra từ giữa cặp đùi con điếm! Giọt thứ hai thì bắn ra từ các mạch máu của kẻ tử đạo! Những dấu xấu xa! Những hoa họa bất khả lay chuyển! Các tổng thiên thần của ta đã tìm lại được, mắc vào các khóm không gian, những tàn dư chói ngời rời ra từ cái áo dài opal của ta, chúng phấp phới trên các dân tộc ngây độn. Chúng đã không thể dựng lại nó, và cơ thể ta cứ thế trần truồng trước sự trong trắng của chúng; đòn trừng phạt rất đáng nhớ của đức hạnh bị bỏ mặc. Hãy xem những đường rạch kia đã tạo ra lòng sông suối trên cặp má nhợt màu của ta: đó là giọt tinh dịch và giọt máu, chúng chậm rãi thấm dọc theo các nếp nhăn khô cằn của ta. Xuống tới môi trên, chúng thực hiện một nỗ lực vô biên, và xâm nhập điện thờ miệng ta, vì bị hút, giống như một nam châm, bởi cổ họng khôn cưỡng. Chúng làm ta ngạt thở, hai cái giọt chẳng biết xót thương kia. Còn ta, cho tới lúc này, ta đã tưởng đâu mình là Đấng Toàn Năng; nhưng, không; ta phải cúi cổ xuống trước nỗi sám hối hét lên với ta: “Mày chỉ là một kẻ khốn nạn!” Đừng nhảy tưng tưng như thế! Im nào… im nào… nếu có ai nghe thấy mi thì sao! ta sẽ cho mi về trở lại giữa những sợi tóc khác; nhưng, trước hết hãy để cho mặt trời lặn ở chân trời đã, để đêm che phủ những bước chân của mi… Ta đã thấy Satan, kẻ thù lớn, dựng lại những rối tinh xương xẩu của bộ sườn, phía bên trên nỗi đờ đẫn hồn ma của hắn và, đứng đó, vẻ chiến thắng, trác tuyệt, thuyết giảng trước các đội quân của hắn tập hợp lại; đúng như ta đáng phải chịu, chế nhạo ta thậm tệ. Hắn bảo hắn rất lấy làm kinh ngạc vì đối thủ cao ngạo của hắn, bị bắt quả tang bởi thành công, rốt cuộc đã thực hiện được, của một sự do thám thường hằng, lại có thể tự hạ mình đến tận mức hôn lên cái váy sự trụy lạc con người, do một chuyến đi thật dài xuyên qua các trở ngại của ê-te, và khiến, trong những đau đớn, một thành viên của loài người phải chết. Hắn nói rằng chàng thanh niên kia, bị nghiền nát trong cỗ máy những khổ hình tinh vi của ta, có lẽ hẳn sẽ trở nên một trí năng thiên tài; an ủi những con người, trên mặt đất này, bằng những khúc ca đáng ngưỡng mộ của thơ, của lòng can đảm, trước những đòn vụt xuống của nỗi không may. Hắn nói rằng các nữ tu của tu viện-ổ điếm không còn tìm lại được giấc ngủ của bọn họ nữa; lảng vảng ngoài sân, huơ tay chân loạn xạ như những ô-tô-mát, chân giẫm nát đám mao lương và đinh hương; phát điên vì phẫn nộ, nhưng, còn chưa đủ, để khỏi phải nhớ tới nguyên do tạo ra chứng bệnh ấy, trong bộ não của họ… (Kìa bọn họ đang tiến đến, khoác trên mình vải liệm trắng; bọn họ không nói chuyện với nhau; bọn họ cầm tay nhau. Tóc bọn họ rũ rượi buông xuống những cặp vai trần; trên ngực bọn họ là một bó hoa đen. Đám nữ tu kia, hãy quay trở về những căn hầm của tụi bay; đêm còn chưa tới hẳn; mới chỉ là hoàng hôn buổi tối thôi… Ôi sợi tóc, tự mi cũng thấy rồi đấy; từ mọi phía, ta bị vây dồn bởi tình cảm xổ tung về sự đồi bại của ta!) Hắn nói rằng Đấng Sáng Tạo, kẻ tự tán dương là Thiên Hựu của mọi thứ gì tồn tại, đã cư xử quá mức nhẹ dạ, đấy là để khỏi phải nói hơn, khi trao tặng một cảnh tượng như thế cho các thế giới sao; vì, hắn đã khẳng định thật rõ ràng dự đồ của hắn, ấy là đi kể rong tại các hành tinh quay theo vành ta gìn giữ ra sao, thông qua tấm gương chính ta, đức hạnh và lòng tốt nơi bát ngát những vương quốc của ta. Hắn nói rằng lòng trọng thị lớn, mà hắn dành cho một kẻ thù cao quý tới vậy, đã bay biến mất khỏi trí tưởng tượng của hắn, và hắn thích đặt tay lên ngực một thiếu nữ, dẫu cho đó là một hành động ác hại đáng tởm, còn hơn là nhổ lên mặt ta, vốn dĩ phủ ba lớp máu và tinh dịch trộn vào với nhau, để khỏi làm bẩn cú nhổ nhớt dãi của hắn. Hắn nói rằng hắn cho, mà đúng thế, là hắn vượt trội ta, không phải nhờ tật thói, mà nhờ đức hạnh và sự thẹn thùng; không phải nhờ tội ác mà nhờ công lý. Hắn nói phải trói ta vào phên mắt cáo, do vô số lầm lỗi của ta; đun nhỏ lửa nướng chín ta trong một cái lò nóng, rồi sau đó ném ta xuống biển, nếu như mà biển muốn nhận ta. Rằng bởi ta từng tự tán dương mình công bằng, ta đây, kẻ từng buộc hắn phải chịu những hình phạt vĩnh cửu vì một sự nổi loạn nhẹ nhàng vốn dĩ chẳng hề có các hệ lụy nghiêm trọng, vậy thì ta phải hết sức nghiêm khắc mà xử chính ta, và phán xét bất thiên ái ý thức của ta, chất chứa nhiều nhơ bẩn đến thế… Đừng nhảy tưng tưng như thế! Im nào… im nào… nếu có ai nghe thấy mi thì sao! ta sẽ cho mi về trở lại giữa những sợi tóc khác; nhưng, trước hết hãy để cho mặt trời lặn ở chân trời đã, để đêm che phủ những bước chân của mi.” Ông ta ngừng lại một lúc; dẫu chẳng hề trông thấy ông ta, ta vẫn hiểu, nhờ quãng dừng nhất thiết ấy, rằng cuộn sóng xúc cảm đang dâng vọt bộ ngực ông ta, giống một xoáy lốc nâng bổng cả một gia đình cá voi. Lồng ngực thần linh, bị vấy bẩn, một ngày nọ, bởi tiếp xúc chua cay của những núm vú một phụ nữ chẳng biết chút thẹn thùng! Tâm hồn hoàng gia, bị giao phó, trong một khoảnh khắc lỡ quên, cho cua cáy của trò trụy lạc, cho bạch tuộc của nỗi yếu trong tính cách, cho cá mập của nỗi nhơ nhớp cá nhân, cho con trăn của đạo đức đi vắng, và cho con sâu gớm ghê của biệt ngữ! Sợi tóc và chủ của nó ôm chặt lấy nhau, như hai người bạn gặp lại sau một khoảng vắng mặt dài. Đấng Sáng Tạo tiếp, bị cáo đang ra trình diện trước phiên tòa của chính mình: “Và đám con người, chúng sẽ nghĩ gì về ta, chúng từng coi trọng ta tới vậy, chừng nào chúng biết những lầm lạc trong hành xử của ta, bước chân ngập ngừng cái xăng đan của ta, trong những mê cung lầy bùn của vật chất, và hướng con đường tăm tối của ta băng ngang những nước đọng và những cây bấc ẩm của đầm lầy nơi, phủ sương mù, tội ác có cái cẳng u tối nung xanh và gào rống!… Ta nhận thấy ta phải làm rất nhiều việc thì mới mong phục hồi danh tiếng, trong tương lai, hòng tái chinh phục lòng trọng thị của bọn chúng. Ta là Đấng Toàn Mãn; và thế nhưng, từ một khía cạnh, ta ở thấp hơn đám con người, mà ta đã tạo ra bằng chút ít cát! Hãy nói cho chúng một lời dối trá táo bạo, và hãy bảo chúng rằng ta chưa từng bao giờ rời khỏi bầu trời, thường hằng bị nhốt kín, cùng các mối lo về ngai ngự, giữa những tảng đá hoa cương, các bức tượng và tranh khảm những cung điện của ta. Ta đã hiện ra trước đám con trai bầu trời của loài người; ta đã nói với bọn họ: “Hãy đuổi cái ác khỏi nhà các ngươi, và hãy để cho áo choàng của cái thiện bước vào trong tổ ấm […]” Làm sao mà đám con người lại muốn tuân theo những luật nghiêm khắc ấy, nếu bản thân nhà lập pháp là kẻ đầu tiên từ chối làm đúng như thế? Và nỗi ngượng của ta cũng mênh mông giống vĩnh cửu!” Ta nghe thấy sợi tóc, đầy nhu thuận, tha thứ cho ông ta về cuộc nhốt kín nó, vì chủ của nó đã hành động đầy thận trọng chứ không vì nhẹ dạ; và tia nắng cuối cùng nhợt nhạt rọi lên hai mí mắt ta rút lui khỏi các thung của ngọn núi. Ngoái đầu về phía nó, ta thấy nó thu mình lại như một mảnh vải liệm… Đừng nhảy tưng tưng như thế! Im nào… im nào… nếu có ai nghe thấy mi thì sao! Ông ta sẽ cho mi về trở lại giữa những sợi tóc khác. Và, giờ đây khi mặt trời đã lặn ở chân trời, tên già vô sỉ và sợi tóc dịu mềm, hãy luồn lỏi, cả đôi, xa hẳn khỏi ổ điếm, trong khi đêm, đang giăng rộng bóng tối của nó lên tu viện, phủ lên nỗi vang vọng những bước chân lén lút của các người trên bình nguyên… Khi ấy, con rận, đột nhiên chui ra từ đằng sau một mô đất, nói với ta, móng vuốt chĩa hết lên: “Mi nghĩ gì về chuyện đó?” Nhưng, ta, ta không muốn đáp lời nó. Ta rút lui, và lên tới trên cầu. Ta xóa đi dòng chữ ban đầu, thay thế nó bằng dòng sau đây: “Thật đau đớn khi phải giữ, như một con dao găm, một bí mật giống thế trong tim mình; nhưng, ta thề sẽ không bao giờ hé lộ những gì mà ta đã chứng kiến, khi ta bước vào, lần đầu tiên, cái tháp canh khủng khiếp kia.” Ta ném, ra ngoài hàng lan can, con dao nhíp mà ta đã dùng để khắc các chữ; và, mau chóng có những ý nghĩ về tính cách Đấng Sáng Tạo khi còn tuổi nhỏ, kẻ hẳn sẽ còn, than ôi! trong vòng rất nhiều thời gian, gây đau khổ cho loài người (vĩnh cửu thì dài), hoặc bởi những tàn nhẫn được thực thi, hoặc bởi cảnh tượng dơ dáy các lở loét hình thành trong một tật thói lớn, ta nhắm mắt lại, như một người say, trước ý nghĩ có kẻ thù là một kẻ như vậy, và, lòng đầy buồn bã, ta tiếp tục con đường, băng ngang các chằng chịt phố xá.







Maldoror: II, 15
Maldoror: II, 13
Maldoror: II, 7, 8
Maldoror: I, 14 và II, 1, 2
Maldoror: I, 9


10 comments:

  1. thơ như một con đường. trước tiên là có người đi. thoạt đầu chạy khỏi con người; rồi chạy khỏi thần thánh dù chúa hay satan. chạy vào tự nhiên, rồi chạy khỏi tự nhiên. phủ định mình, rồi phục sinh mình như là phủ định của phủ định. "trong đôi mắt đã cạn ảo tưởng" - bởi "trí năng" là một ảo tưởng - chỉ còn toàn những cái gì là thật, theo nghĩa chúng biểu đạt sự thật, là gì đó ở nơi cái "chân trời-chạy khỏi". và thế là vẫn còn siêu-hy vọng nhỉ :P

    ReplyDelete
  2. cuốn thánh-vịnh đen này hẳn được chép như sách thứ sáu của tân-ước. cũng là psalm nhưng về mal-d'oro/doro nhỉ?

    ReplyDelete
  3. tiếp tục (bản cantique): cả khúc III chỉ có 5 "đoạn"

    ReplyDelete
  4. nên chuyển hai đoạn này cho trường dạy điện ảnh làm giáo trình! đây là một phim kinh điển !

    ReplyDelete
  5. Le poète est semblable au sismographe où chaque tressaillement, se soit-il produit à des milliers de lieues, vient s'inscrire en vibrations. (H. V. H.)

    ReplyDelete
  6. il me semble bien que j'ai finalement pu dénicher un lecteur, ou plutôt une lectrice, d'Hofmannsthal

    ReplyDelete
  7. When I initially left a comment I appear to have clicked the -Notify me when new
    comments are added- checkbox and now whenever
    a comment is added I receive four emails with the exact same comment.
    Perhaps there is an easy method you are able to remove me from that service?
    Cheers!

    ReplyDelete