Jun 11, 2010

(04). Tiếng Việt 1933

[câu này là của Amos Oz, nhà văn Israel nổi tiếng nhất (đại ý): "vấn đề lớn nhất của văn chương Israel là phải dùng ngôn ngữ của các nhà tiên tri để tả nhân vật đi đổ rác"; vấn đề của Phạm Công Thiện thì ngược lại: phải viết sấm ngôn bằng ngôn ngữ con trâu tát nước gầu sòng mái gianh sơn cước khói lam chiều; đây là lời kết cho chủ đề Phạm Công Thiện, mặc dù đang hết sức ăn khách hic]

Mới gần đây tôi được tặng một số Văn học tạp chí, tờ báo của hai nhân vật Dương Bá Trạc (chủ bút) và Dương Tụ Quán (chủ nhiệm); đây là hai anh em ruột, xen vào giữa họ còn có Dương Quảng Hàm. Trước đó Dương Bá Trạc cùng Nguyễn Bá Trác đã là tả phù hữu bật cho Phạm Quỳnh làm Nam Phong. Nam Phong cũng có cả sự góp sức của bố Nguyễn Bá Trác là Nguyễn Bá Học. Ngoài họ Dương này còn có một họ Dương khác có nhiều công đối với báo chí Quốc Ngữ thời kỳ đầu, là Đông Lĩnh Dương Phượng Dực, học trò cưng của ông bác nhà Nguyễn Công Hoan; Dương Phượng Dực sẽ sinh ra một nhân vật sau này cũng nhiều kỳ tích, là Dương Kinh Quốc. Nghe nói khi Dương Kinh Quốc mất đi, gia đình bán tủ sách, thị trường sách cũ đã được một phen náo loạn.

Jun 10, 2010

Phạm Công Thiện không phê Nietzsche



Cám ơn bác Phạm Công Ác cho cái đường link trong đó GS Nguyễn Văn Trung "trả lời" về Phạm Công Thiện, đồng thời nhắc tới nhiều nhân vật của thời đó, nhất là các nhân vật trí thức Công giáo như Cao Văn Luận (Bên giòng lịch sử), Nguyễn Văn Lập (Viện trưởng Đại học Đà Lạt), Lê Văn Lý (một trong những đối tượng công kích trong suốt nhiều năm của Cao Xuân Hạo sau này).

Đọc vào Nguyễn Văn Trung thì ta sẽ có cảm giác mối hiềm khích của thời đó sâu xa và thường trực giữa Phật giáo và Công giáo.

Jun 9, 2010

Phạm Công Thiện phê Nguyễn Văn Trung

Nhân nói chuyện này xọ chuyện kia, đề cập Phạm Công Thiện ngày sanh của rắn, tôi muốn lôi trở lại một văn bản ngày nay gần như tuyệt mệnh giang hồ, đúng số phận như tập thơ của Phạm Công Thiện, Ngày sanh của rắn bản in đầu (in số lượng hạn chế bên Pháp) gần như chưa ai nhìn thấy bao giờ.

Văn bản này (đúng ra là một bài viết cỡ 30 trang) mang tên Phê bình luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Trung, không rõ viết và phát hành lần đầu năm nào nhưng được một nhóm phật tử Huế tái bản thành cuốn sách nhỏ in mùa hè năm 1973, ở "Lý do" đặt đầu sách có viết là không liên lạc được với tác giả nên cứ in ra như vậy.

[xin trân trọng cảm ơn bạn... và bạn... vì đã....; tôi đang tập viết lời đề tặng để nhỡ ra sau này dùng đến :d mấy từ khó nhất thì đã nghĩ ra xong xuôi, còn mấy từ dễ để trống bao giờ thích điền gì thì điền]

Jun 7, 2010

DOI LY không bao giờ có thật

Khi nào thì ta thấy buồn cười? Nhiều câu trả lời khả dĩ, nhưng theo tôi có câu trả lời này hơi trái khoáy: khi ta có hiểu biết. Kích thước tri thức của chủ nghĩa hậu hiện đại có một vương vấn ở khía cạnh này; làm thế nào mà một cái nhại, một cái đùa, một cái mỉa, một cái giễu, một cái đạo (văn), một cái liếc (mắt đưa tình) có thể trụ vững được? là vì độc giả hiểu biết tìm ra nghĩa trong đó.

Hình như ý tưởng về cái cười đòi hỏi hiểu biết này Henri Bergson đã nói đến trong cuốn Le Rire (Cái cười). Mấy hôm trước có bác Cá Sấu Hoa Cà vào comment trong blog này tôi mới biết ngoài những bản dịch của linh mục Cao Văn Luận thì Le Rire cũng đã được Phạm Xuân Đổ dịch, nhan đề là Tiếng cười. Tôi cũng chưa bao giờ thực sự đọc Bergson, vì hình như Bergson thuộc vào các tác giả mà Calvino nói tới, những người "kinh điển" đến mức ai cũng tưởng chừng như mình đã đọc rồi mặc dù chưa đọc bao giờ. Cứ đọc Proust mãi rồi ta cứ tưởng đâu mình rành Bergson lắm :)

Nếu không được báo trước, hoặc nếu không phải một người quen đọc, chẳng hạn như một anh thợ nề người Pháp một buổi trưa ngồi mát chẳng biết làm gì vớ được ở góc tường một quyển sách ai đó bỏ quên, tên là La Disparition của Georges Perec, rất có thể anh thợ nề sẽ đọc nó, biết nó nói gì, cảm thấy có cái gì đó là lạ nhưng không rõ là cái gì. Có thể mãi sau này, không bao giờ, anh thợ nề biết được rằng cuốn sách ấy không có một chữ "e" nào. Thiếu hiểu biết không gây ra một thảm họa nào đáng kể, nhưng nếu xét về độ hiểu thấu, thì tổn thất thật là nặng nề.

"DOI LY KHÔNG BAO GIỜ CÓ THẬT" là câu thơ rút từ bài "Lời hứa của Doi Ly" trong tập gần đây nhất, ấn phẩm gần đây nhất của NXB Giấy Vụn, Khi kẻ thù ta buồn ngủ (nếu Trại súc vật còn chưa in xong).

Tôi đã có lần nói trong Mở Miệng, Bùi Chát là người có phẩm chất thi sĩ lớn nhất (rất chi là hy vọng Lý Đợi không phật lòng vì câu nói đó), nhưng Lý Đợi mới là nguồn cảm hứng cho sự hài hước. Trong tập thơ này, có những bài thực sự khi đọc tôi phải lăn ra cười, như bài "Nhân đi massage, gặp nữ lưu hào kiệt". Toàn văn tập thơ này có thể dễ dàng tìm, nên thôi đỡ phải trích dẫn mất công :) Điều này có thể là tôi không giống ai, nhưng thực sự với tôi hài hước là một phẩm chất.

* Thế tại sao câu "DOI LY không bao giờ có thật" lại buồn cười? Là vì nó nhại tên tập sách cực kỳ nổi tiếng trước 75 tại Sài Gòn của thần đồng, lớn lên thì thành thiên tài, Phạm Công Thiện: Mặt trời không bao giờ có thực.

Dù rằng tập Khi kẻ thù ta buồn ngủ này cay đắng hơn người ta có thể tưởng.

+ Tối qua đã nhận được sách bác Quý tặng. Đổi chác có khác, hiệu quả thật :d

Jun 4, 2010

Dành cho các bác nghiên cứu lịch sử âm nhạc VN

Tôi mới mò ra được một loạt bài mang tên Quá trình tiến triển của lịch sử nền nhạc Việt của Nguyễn Duy Diễn và Phạm Vinh, giáo sư trường trung học Văn Lang và trường Bắc Bình Vương, đăng gần 10 kỳ trên một tờ tạp chí Hà Nội trước 1954, loạt bài nhiều tài liệu phong phú. Nếu hai nhà nghiên cứu âm nhạc Jason Gibbs và Nguyễn Trương Quý còn chưa có thì tôi sẵn sàng cung cấp. Nguyễn Duy Diễn sau này vào Sài Gòn dạy học, viết rất nhiều sách thuộc dạng sách giáo khoa văn học.

Mang tài liệu ra để câu bộ sách của bác Quý :) Trong trilogy này tôi đã có lần review quyển Ăn phở rất khó thấy ngon. Tuy rằng bác Quý đã hứa sẽ tặng nhưng cứ thế mà nhận thì cũng ngại, đấy bác xem có mấy cái tài liệu em mang đổi, bác tặng sách em nhá :d

------------------

(đợi lát viết tiếp)

Tiếp đây:

Jun 3, 2010

Sách (XII) Inner Workings

Hôm nay mới để ý đến vụ tranh luận bùng nổ đã mấy hôm trên Tiền Vệ giữa Nguyễn Tôn Hiệt và Ngô Tự Lập xung quanh bài viết của Ngô Tự Lập mang tên "Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam" nói Hồ Chí Minh là cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam. Như thường lệ, dạng bài kiểu này vẫn xuất phát từ trang của Trần Hữu Dũng, người nổi danh trong làng văn nghệ với hai câu "dùng bản Tư gởi" và "có mục văn hóa khá". Thú thực tôi có liếc qua bài này khi nó mới đăng lên và thấy mắc cười quá, nhưng cũng chẳng để ý mấy.

bài trả lời thứ hai cho Nguyễn Tôn Hiệt, tôi thấy đáng chú ý nhất là câu cuối, Ngô Tự Lập "hứa" sẽ dẫn Xuân Vũ để "làm phong phú thêm bài viết của mình": tới đây thì tôi còn mắc cười hơn nữa. Chắc sau khi đọc bài thứ nhất của Nguyễn Tôn Hiệt, Ngô Tự Lập đã không đi tìm hiểu Xuân Vũ là ai, có profile như thế nào. Lẽ ra thì phải tìm hiểu chứ, nhà nghiên cứu ơi.

Jun 1, 2010

Mùa đông bệnh hen của Marcel Proust đi đâu?

+ Lại có quà tặng này: lần này thì đỡ lo luôn, vì chắc chắn là sẽ chỉ có một đối tượng cực cực kỳ “khiêm tốn” và “hạn chế” (hai từ này đang en vogue lắm í), đối tượng những người Việt Nam có đọc Marcel Proust. Vừa là quà tặng, vừa là phụ một tay quảng cáo cho thầy cũ hic. Đời này tôi mới gặp một vài người khó tính hơn… tôi, và có chính ông thầy cũ này, Antoine Compagnon :) Một người không thích nói (trái ngược với một ông tuteur khác, Michel Charles, bị chính học trò cưng, mà lại là thầy dạy của tôi hic, đánh giá chỉ thích nói chẳng thích viết), sinh viên mang bài viết đến thì giật phắt lấy, săm săm soi soi, rồi lủng bủng trong miệng: faute d’orthographe này, coquille này, còn cái này là cái gì đấy. Cùng một thế hệ giáo sư nhưng những Noiret, Marchand, Tadié, nhất là Murat, hay thậm chí một ông vô cùng cosmopolite như Brunel (một huyền thoại, nghe đâu lên giáo sư năm ba mươi hai tuổi) đều chải chuốt lông mi rủ cứ như là vừa bước ra từ mấy bức chân dung vẽ các nhân vật quý tộc, nói hay và hay nói, còn Compagnon tuyền đời mặc áo sơ mi vừa rút thẳng từ máy sấy ra, nhiều lần còn mặc áo rách, ngồi ị ra cả buổi mới phát ra được vài câu ùm oàm chả ai hiểu là nói gì, lười nói đến nỗi làm séminaire toàn làm chung với một ông đồ đệ là André gì đó tự nhiên quên mất tên chuyên gia Baudelaire, và mỗi quãng thời gian chỉ chăm chăm đặt có một câu hỏi, chẳng hạn như trong vụ Dreyfus thì Proust đứng về phe nào, Benda đứng về phe nào, Lasserre đứng về phe nào.