"Kings and Queens and guillotines..."
Italo Calvino trong trilogy "Tổ tiên của chúng ta": Il visconte dimezzato (Tử tước chẻ đôi), Il barone rampante (Nam tước trên cây) và Il cavaliere inesistente (Hiêp sĩ không hiện hữu).
Umberto Eco, thì, đầy kinh điển của thế giới tu viện tàn độc, cuốn sách giết người: Il nome della rosa (Tên của đóa hồng).
Và người gần đây nhất: Hilary Mantel, Wolf Hall (Đại sảnh sói).
Cả một thế giới Trung cổ đã đóng lại đang mở ra.
Đề từ của Đại sảnh sói:
"There are three kinds of scenes, one called the tragic, second the comic, third the satyric. Their decorations are different and unalike each other in scheme. Tragic scenes are delineated with columns, pediments, statues and other objects suited to kings; comic scenes exhibit private dwellings, with balconies and views representing rows of windows, after the manner of ordinary dwellings; satyric scenes are decorated with trees, caverns, mountains and other rustic objects delineated in landscape style."
(Vitruvius, De Architectura, on the theatre, c.27 BC)
cái mà tôi thích nhất, là ban công :) Le Balcon của Jean Genet, và Un balcon en forêt của Julien Gracq. Đứng trên ban công thì ta có thể nhổ nước bọt xuống bên dưới ;p
"Dreams of swords in hand/Sailing ships, the viking spits/The blood of father's land": Kings and Queens
Jan 3, 2011
Dec 31, 2010
những ngã tư và những cột đèn
"Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí": câu cuối cùng của đoạn mở đầu tiểu thuyết những ngã tư và những cột đèn. Cuốn tiểu thuyết của Trần Dần, in xong đúng vào ngày hết năm. Năm cùng tháng tận. Số phận vẫn luôn luôn gây kinh ngạc.
Bản thảo cuốn tiểu thuyết này xong xuôi vào năm 1966. Năm đó, Trần Dần được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam gặp gỡ ngụy binh cũ thời Pháp thuộc (để lấy tư liệu). Bản thảo viết xong, bản duy nhất, được gửi lên Sở Công an. Năm 1988 bản thảo được Sở Công an trả lại cho Trần Dần, cùng bản chép tay Cổng tỉnh.
Khi đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết này, tôi nghĩ: những gì là cách tân, hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay, Trần Dần đã làm từ năm 1966. Với một sức mạnh cuồn cuộn của ý tưởng và câu văn. Có khi đọc một cuốn tiểu thuyết ta thấy như đang nói chuyện với một binh nhì, lại có khi thấy như đang nói chuyện với một vị tướng. Cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy như cả một đạo quân tinh nhuệ cùng một lúc. Với mọi kỹ thuật và nghệ thuật của đánh trận.
"Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37o không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa. Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. [...] Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí."
"Tôi qua ngã tư Cửa Nam. Ngã tư Cửa Nam đầy khói. Để không thể đếm bao nhiêu nốt chân trên ngã tư. Ai đếm bao nhiêu nốt chân khôn dại. Bao nhiêu nốt chân vui buồn? Ai đếm những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn? Đời tôi đã rẽ rồi. Như đã hạ nước cờ không sao đi lại được. Nhưng tại sao tôi cứ ám ảnh: cái ngã tư tại sao ấy. Tôi quên không được. Đi đi không được. Tôi ngồi bệt lề đường. Tôi là đàn ông: tôi không đau khổ. Nhưng tôi muốn khóc. Tôi là đàn ông: tôi không khóc. Nhưng tôi đau khổ lắm. Tôi ngồi bệt mà nhìn láo nháo cột đèn. Láo nháo khói. Láo nháo hàng cây bên đường lá rụng."
Vậy là giữ đúng lời hứa. Quyển này cũng như quyển của Đỗ Lai Thúy: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử.
----------------
Sang đến Don DeLillo:
Bản thảo cuốn tiểu thuyết này xong xuôi vào năm 1966. Năm đó, Trần Dần được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam gặp gỡ ngụy binh cũ thời Pháp thuộc (để lấy tư liệu). Bản thảo viết xong, bản duy nhất, được gửi lên Sở Công an. Năm 1988 bản thảo được Sở Công an trả lại cho Trần Dần, cùng bản chép tay Cổng tỉnh.
Khi đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết này, tôi nghĩ: những gì là cách tân, hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay, Trần Dần đã làm từ năm 1966. Với một sức mạnh cuồn cuộn của ý tưởng và câu văn. Có khi đọc một cuốn tiểu thuyết ta thấy như đang nói chuyện với một binh nhì, lại có khi thấy như đang nói chuyện với một vị tướng. Cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy như cả một đạo quân tinh nhuệ cùng một lúc. Với mọi kỹ thuật và nghệ thuật của đánh trận.
"Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37o không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa. Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. [...] Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí."
"Tôi qua ngã tư Cửa Nam. Ngã tư Cửa Nam đầy khói. Để không thể đếm bao nhiêu nốt chân trên ngã tư. Ai đếm bao nhiêu nốt chân khôn dại. Bao nhiêu nốt chân vui buồn? Ai đếm những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn? Đời tôi đã rẽ rồi. Như đã hạ nước cờ không sao đi lại được. Nhưng tại sao tôi cứ ám ảnh: cái ngã tư tại sao ấy. Tôi quên không được. Đi đi không được. Tôi ngồi bệt lề đường. Tôi là đàn ông: tôi không đau khổ. Nhưng tôi muốn khóc. Tôi là đàn ông: tôi không khóc. Nhưng tôi đau khổ lắm. Tôi ngồi bệt mà nhìn láo nháo cột đèn. Láo nháo khói. Láo nháo hàng cây bên đường lá rụng."
Vậy là giữ đúng lời hứa. Quyển này cũng như quyển của Đỗ Lai Thúy: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử.
----------------
Sang đến Don DeLillo:
Từ bốn thập kỷ nay, nhà văn Mỹ chiếu tia X vào những mảng tối tăm của đất nước ông. Một nghệ thuật thấu thị? Dẫu không phải thế thì cũng là mang tính chất thị giác một cách sâu sắc, điều càng được chứng tỏ rõ hơn với cuốn sách mới nhất của ông, Point Omega.
Ở tuổi 73, Don DeLillo vừa nhận giải Pen/Saul Bellow cho toàn bộ tác phẩm của ông: mười sáu tiểu thuyết, một kịch bản phim cùng một ít truyện ngắn, tiểu luận và kịch. Tác giả của Libra và Falling Man có được một vị thế rất khác biệt trong bức tranh chung của văn chương Mỹ vì lý do số lượng tác phẩm dồi dào ít hơn vì lý do từ gần bốn mươi năm nay ông khám phá cùng những vùng tối, những cơn loạn tâm và những nỗi sợ có tính chất cổ mẫu của người sống cùng thời, vừa làm như vậy vừa xây đắp cho sự im lặng và bí mật. Với rất nhiều cuộc mưu phản chống lại những khốn cùng của sự tiêu dùng đồng thời với các hành động tàn phá hình ảnh, dần dần ông tự ấn định mình thành một chứng nhân và lý thuyết gia của những “hình thức hiện đại của hãi hùng”. Nhưng những lần trả lời phỏng vấn và xuất hiện trước công chúng của ông chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Và các tiểu thuyết mênh mông của giai đoạn đầu đã dần dần nhường chỗ, từ khoảng chục năm nay, cho những văn bản ngắn hơn và kiệm lời (ê-líp-tích) hơn. Cũng như vậy ở cuốn sách gần đây nhất, Point Omega, cái nhan đề hơi có chút huyền bí, có hình thức gây rối trí và những mạng lưới hình ảnh không hề bị che giấu. Cuộc gặp gỡ, trong sa mạc Arizona, giữa một đạo diễn trẻ và một tay tân bảo thủ, nhân viên Lầu Năm Góc về hưu và bộ não của cuộc chiến tranh Irak. Một cuộc gặp biến thành tiểu thuyết noir khi con gái ông già mất tích, cũng bí ẩn như khi xuất hiện. Một cuộc gặp được lồng khung trong hai cảnh bí ẩn ở bảo tàng nơi người ta chiếu tác phẩm video của Douglas Gordon, 24 Hour Psycho, đặt vấn đề về tri giác thời gian bằng cách chiếu đi chiếu lại bộ phim Psycho của Hitchcock suốt một ngày. Bất khả xâm nhập, bí ẩn, lo sao cho mỗi độc giả có được cách diễn giải riêng về cuốn tiểu thuyết, Don DeLillo thích nhấn mạnh vào vai trò người nghệ sĩ và các nguồn cơn không ngờ tới của nghệ thuật nhằm nói ra cái thực. Dù thế nào đi nữa, người vẫn được cho là có khả năng thấu thị vì đã “dự đoán” thảm họa 11 tháng Chín ngay từ cuối những năm 1970, trước hết lại không phải là một nghệ sĩ thị giác ư?
Dec 30, 2010
Tolstoi (prologue)
Một số tiểu thuyết của Tolstoi dịch và xuất bản ở thời Việt Nam Cộng Hòa. Còn có Vùng đất hồi sinh và vài quyển nữa nhưng tạm thời còn chưa bới được trong đống sách :) Bản An na Kha Lệ Ninh ghi tên người dịch Vũ Ngọc Phan và Vũ Minh Thiều, nhà Khai Trí in từ năm 1970 đến năm 1972, 6 tập, trong tủ "Sách bốn phương" hẳn là lấy lại bản Vũ Ngọc Phan trước 1945 rồi Vũ Minh Thiều san định, hiệu đính, bổ sung. Trước 1945 cũng đã có bản dịch Phục sinh được nhiều nhà văn Việt Nam đọc và nhiều cảm tưởng. Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Khôi, Nguyễn Phi Hoanh, Kiều Thanh Quế và nhiều người nữa đã tham gia công cuộc giới thiệu, bình luận Tolstoi tại Việt Nam hồi ấy.
Đợt vừa xong kỷ niệm 100 năm ngày mất Tolstoi (có cả ông chắt chút chít gì đó của Tolstoi, giám đốc bảo tàng Tolstoi bên Nga sang đây; trong cái năm kỷ niệm này ông ấy đã đi khoảng 50 nước hehe), ấn phẩm chào mừng giá trị nhất là Đường sống. Văn thư nghị luận chọn lọc, Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Thị Kim Hiền, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan và Lã Nguyên La Khắc Hòa tham gia làm (không có phần liên quan đến văn học), NXB Tri Thức, "Tủ sách tinh hoa", khoảng 1.200 trang. Tonton Cư ra tay viết một lời giới thiệu kỳ khu dài 70 trang tên là "Hành trình tư tưởng của Tolstoi nhìn từ hôm nay" cực oách :p
Dec 27, 2010
Tóp mỡ 2010
Bị đề nghị đưa ra top 5 sách 2010 :(
“Istanbul. Hồi ức và thành phố” (Orhan Pamuk, Nguyễn Quốc Trụ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học)
Không có nhiều hồi ký nhà văn được dịch ra và đón nhận nồng nhiệt ở Việt Nam. Sau “Sống để kể lại” của Gabriel García Marquéz và “Hội hè miên man” của Ernest Hemingway, “Istanbul” của Orhan Pamuk đã kịp thời đến để bổ khuyết cho thiếu hụt này. Istanbul của Pamuk không chỉ là một bức tranh, một câu chuyện kể, mà còn là một tâm hồn sống ngập ngừng thở trên những hoang phế điêu tàn mà chỉ một nhà văn đặc biệt nhạy cảm mới có thể nắm bắt và miêu tả được.
“Vắng mặt” (tiểu thuyết của Đỗ Phấn, Bách Việt & NXB Hội Nhà văn)
Văn học Việt Nam lại thất bát thêm một mùa 2010. Đã lâu lắm rồi các nhà văn Việt Nam nhớn nhác với những cách tân mà dường như quên đi mất rằng văn chương có thể không nằm về “phương ấy”. Khi các giải thưởng văn học chính quy đều gắng gượng mà trao, một nỗ lực nho nhỏ về kể chuyện giản dị như “Vắng mặt” của họa sĩ Đỗ Phấn hoàn toàn xứng đáng được coi là một điều có ý nghĩa cho một năm buồn bã của văn học trong nước.
“Oh boy!” (Marie-Aude Murail, Trần Anh Thư dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn)
Một tác phẩm thuộc dòng nhiều người đọc nhưng ít khi thực sự được đánh giá cao: văn học thiếu nhi. “Oh boy!” bắt đầu đưa đến Việt Nam loạt tác phẩm của Murail, một nhà văn chắc hẳn rồi đây sẽ được xếp vào hàng kinh điển của lịch sử văn học thiếu nhi thế giới. Năm 2010 cũng chứng kiến một sự tăng tiến nhảy vọt của dòng sách văn học thiếu nhi ở rất nhiều tiểu thể loại và với sự tham gia của rất nhiều cơ sở xuất bản.
“Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học)
Cuốn tiểu thuyết xuất bản vào cuối năm củng cố thêm cho sự thắng thế trở lại của một số nền văn học lâu nay ít được quan tâm như văn học Hungari, Ba Lan, Ý… Klíma, một nhà văn lớn người Séc, đưa chúng ta quay về với một bầu không khí chính trị ngột ngạt tại các nước thuộc khối Đông Âu trước đây với một giọng văn buồn bã bậc thầy rất hiếm thấy.
“Tư liệu các Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII” (Hoàng Anh Tuấn biên soạn, NXB Hà Nội)
Trong dòng sách nghiên cứu, đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình nhìn lại lịch sử Việt Nam từ những khía cạnh mới, xuất phát từ các nguồn tài liệu mới. Các Công ty Đông Ấn có một kho lưu trữ khổng lồ, trong đó có hàng vạn trang liên quan đến Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, để có thể toàn diện, còn cần được đặc biệt quan tâm về phương diện thương mại. Dĩ nhiên, lịch sử không chỉ gồm có những nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, cùng những câu nói lừng danh và các âm mưu xảo quyệt được hậu thế say mê.
Dec 25, 2010
I once had a girl
Bỏ qua mối quan hệ phim-truyện thì bản thân bộ phim Rừng Na Uy đã dở. Trước đây (tất nhiên trước cả I Come with the Rain, vì I Come with the Rain cũng vô cùng tệ, và Trần Anh Hùng cũng giải thích vì suốt ngày phải ra tòa etc.) phim của Trần Anh Hùng đẹp trong một sự kháng cự rơi vào kitsch, lúc nào cũng ở bên bờ kitsch nhưng không rơi vào, sự ngấp nghé đó làm nên điểm đặc biệt của Trần Anh Hùng. Nhưng Rừng Na Uy thì thản nhiên rơi vào kitsch. Cảnh ăn chơi trong phòng, camera chầm chậm lướt qua những cây cột gương thật là ớn. Watanabe đến gặp Naoko thì phải hoặc là nền mưa hoặc là nền tuyết ngoài cửa sổ. Còn đặt thêm vào mối quan hệ phim-truyện (kiểu gì cũng không bỏ qua được), thì chắc trong số những người xem Rừng Na Uy hôm ấy, ngoài tôi ra (nhận luôn cho thành khẩn :d) thì người ít hiểu tiểu thuyết Rừng Na Uy nhất là Trần Anh Hùng. Chỉ riêng đoạn cuối (có một bạn nói không khác gì xem gì Discovery Channel, thật là chuẩn xác) đã lệch hẳn khỏi khả năng diễn biến tâm lý của một người như Watanabe Toru.
Phim chán thì chỉ cần nói đến thế thôi :p
Khi nghe lại bài "Norwegian Wood" tôi bỗng thấy liên hệ giữa "And when I awoke, I was alone, this bird had flown" và Kurt Wallander trong Người đàn ông lo âu.
Ở tập cuối của xê ri Wallander này, ngoài việc tạo ra một cuộc điều tra, Henning Mankell còn phải hướng tới một mục đích nữa: đóng lại cả loạt truyện, tìm ra một đoạn kết. Tôi chỉ có thể nói rằng đoạn kết này rất buồn :(
Nhưng trước khi rất buồn, Người đàn ông lo âu cũng được mở ra bằng việc Linda sinh con gái (Klara), như vậy là Wallander đã có cháu. Mankell để cho hai người phụ nữ của cuộc đời Wallander xuất hiện trở lại - đều rất thoáng qua nhưng đều đau đớn. Mona và Baiba mỗi người theo một cách đẩy Wallander nhanh hơn đến kết cục. Vì quy định của nghề nghiệp :p tôi sẽ không để cho bị cậy răng tiết lộ cốt truyện, nhưng có thể nói được là với một người, Wallander đã trải qua experience của "When I awoke...", và có một trong hai người chết.
Cũng như ở phần lớn những cuốn tiểu thuyết khác của loạt Wallander, Mankell thể hiện một năng lực dẫn dắt bậc thầy, quản lý chi tiết vô cùng giỏi, nhưng đoạn kết thường xuyên yếu, nhiều lúc có những lỗ hổng về lập luận đáng ngạc nhiên. Những người thông minh (chẳng hạn như bạn today20 :d) không thích cách giải quyết vấn đề của Mankell. Tôi cũng không thích hehe. Người đàn ông lo âu lấy lại gần như toàn bộ sơ đồ lập luận của Bầy chó Riga, là sơ đồ lập luận kém hấp dẫn nhất trong toàn bộ loạt truyện. Đây cũng là lần Mankell hướng cái nhìn vào chính trị ở cấp cao, hoàn toàn không phải sở trường của ông. Sở trường của ông là những xung năng chết chóc, tội phạm ở những con người vô cùng bình thường, tầm thường, nhỏ bé, những người tỉnh lẻ. Một khi bối cảnh truyện đã chuyển sang thủ đô :d (như Riga, và lần này là Stockholm), tức thì overhyped ngay. Nhưng nếu thích Olof Palme Thủ tướng bị ám sát của Thụy Điển, Rosenbad tức Phủ Thủ tướng Thụy Điển, rồi những cái tàu ngầm, bí mật quốc gia, gián điệp etc. thì đọc cũng được.
Tôi thì quan tâm đến việc Mankell kết thúc cho Wallander như thế nào. Chắc là vì tôi có cái nhìn apocalyptic :) Giờ đây đã hết cả loạt Wallander chín quyển, có thể thấy rằng chuỗi ba quyển đầu tiên, Những kẻ sát nhân vô diện, Bầy chó Riga và Sư tử trắng (thật ra là sư tử cái đấy) vừa non tay vừa chưa tìm ra được hình thức sau này sẽ được ấn định cho gần như mọi tập khác: 40 chương, đúng đến chương 20 một sự kiện hoặc một nhận thức mới xuất hiện, dẫn tới một nửa thứ hai đổ dốc, nhiều khi là với tốc độ chóng mặt. Trong cả loạt Wallander có hai kiệt tác: ngoài Chậm một bước (One Step Behind/Les Morts de la Saint-Jean) còn Người đàn bà thứ năm (The Fifth Woman/ La cinquième femme).
Thật là tiếc vì ở đây có quá ít người thích và đọc Wallander và Mankell. Hậu quả là sẽ lại có thêm một project phải dang dở. Hic. Đời thật dang dở nhưng vẫn phải bột nở.
+ Mấy hôm vừa rồi nhận nhiều mail chúc mừng Giáng sinh, một số người viết thêm câu "Vinh danh Thiên chúa trên trời/Bình an dưới thế cho người thiện tâm". Tôi nhớ trong những năm 1970 giới Công giáo Việt Nam đã từng có tranh luận về hai câu này, và có một chiều hướng là đổi câu thứ hai thành "Bình an dưới thế cho người Chúa yêu". Vì người tốt đẹp thì ai yêu mà chẳng được, cần gì đến Chúa :p
Phim chán thì chỉ cần nói đến thế thôi :p
Khi nghe lại bài "Norwegian Wood" tôi bỗng thấy liên hệ giữa "And when I awoke, I was alone, this bird had flown" và Kurt Wallander trong Người đàn ông lo âu.
Ở tập cuối của xê ri Wallander này, ngoài việc tạo ra một cuộc điều tra, Henning Mankell còn phải hướng tới một mục đích nữa: đóng lại cả loạt truyện, tìm ra một đoạn kết. Tôi chỉ có thể nói rằng đoạn kết này rất buồn :(
Nhưng trước khi rất buồn, Người đàn ông lo âu cũng được mở ra bằng việc Linda sinh con gái (Klara), như vậy là Wallander đã có cháu. Mankell để cho hai người phụ nữ của cuộc đời Wallander xuất hiện trở lại - đều rất thoáng qua nhưng đều đau đớn. Mona và Baiba mỗi người theo một cách đẩy Wallander nhanh hơn đến kết cục. Vì quy định của nghề nghiệp :p tôi sẽ không để cho bị cậy răng tiết lộ cốt truyện, nhưng có thể nói được là với một người, Wallander đã trải qua experience của "When I awoke...", và có một trong hai người chết.
Cũng như ở phần lớn những cuốn tiểu thuyết khác của loạt Wallander, Mankell thể hiện một năng lực dẫn dắt bậc thầy, quản lý chi tiết vô cùng giỏi, nhưng đoạn kết thường xuyên yếu, nhiều lúc có những lỗ hổng về lập luận đáng ngạc nhiên. Những người thông minh (chẳng hạn như bạn today20 :d) không thích cách giải quyết vấn đề của Mankell. Tôi cũng không thích hehe. Người đàn ông lo âu lấy lại gần như toàn bộ sơ đồ lập luận của Bầy chó Riga, là sơ đồ lập luận kém hấp dẫn nhất trong toàn bộ loạt truyện. Đây cũng là lần Mankell hướng cái nhìn vào chính trị ở cấp cao, hoàn toàn không phải sở trường của ông. Sở trường của ông là những xung năng chết chóc, tội phạm ở những con người vô cùng bình thường, tầm thường, nhỏ bé, những người tỉnh lẻ. Một khi bối cảnh truyện đã chuyển sang thủ đô :d (như Riga, và lần này là Stockholm), tức thì overhyped ngay. Nhưng nếu thích Olof Palme Thủ tướng bị ám sát của Thụy Điển, Rosenbad tức Phủ Thủ tướng Thụy Điển, rồi những cái tàu ngầm, bí mật quốc gia, gián điệp etc. thì đọc cũng được.
Tôi thì quan tâm đến việc Mankell kết thúc cho Wallander như thế nào. Chắc là vì tôi có cái nhìn apocalyptic :) Giờ đây đã hết cả loạt Wallander chín quyển, có thể thấy rằng chuỗi ba quyển đầu tiên, Những kẻ sát nhân vô diện, Bầy chó Riga và Sư tử trắng (thật ra là sư tử cái đấy) vừa non tay vừa chưa tìm ra được hình thức sau này sẽ được ấn định cho gần như mọi tập khác: 40 chương, đúng đến chương 20 một sự kiện hoặc một nhận thức mới xuất hiện, dẫn tới một nửa thứ hai đổ dốc, nhiều khi là với tốc độ chóng mặt. Trong cả loạt Wallander có hai kiệt tác: ngoài Chậm một bước (One Step Behind/Les Morts de la Saint-Jean) còn Người đàn bà thứ năm (The Fifth Woman/ La cinquième femme).
Thật là tiếc vì ở đây có quá ít người thích và đọc Wallander và Mankell. Hậu quả là sẽ lại có thêm một project phải dang dở. Hic. Đời thật dang dở nhưng vẫn phải bột nở.
+ Mấy hôm vừa rồi nhận nhiều mail chúc mừng Giáng sinh, một số người viết thêm câu "Vinh danh Thiên chúa trên trời/Bình an dưới thế cho người thiện tâm". Tôi nhớ trong những năm 1970 giới Công giáo Việt Nam đã từng có tranh luận về hai câu này, và có một chiều hướng là đổi câu thứ hai thành "Bình an dưới thế cho người Chúa yêu". Vì người tốt đẹp thì ai yêu mà chẳng được, cần gì đến Chúa :p
Dec 23, 2010
Rừng Na Uy
lâu lắm rồi tôi mới được xem một bộ phim dở như thế này, dở đồng loạt, nhưng ngày mai đọc báo mình chắc chắn các bạn nhà báo bắn pháo hoa ăn mừng Murakami mặc áo Trần Anh Hùng
ngủ gật hai nhát, kỷ lục từ khởi thủy của thời gian :p mà các bác yên tâm, truyện mình chỉ nhớ độc chi tiết ăn ốc sên và chi tiết Nagasawa hay cái gì bảo Watanabe mày đọc Gatsby thì xứng đáng chơi với tao, nên chả có tí so sánh nào hết cả đâu nhá
tệ hại hơn cả là Trần Anh Hùng cứ cố phải đặt dấu ấn cá nhân trong khi không nghĩ ra được một ý tưởng nào, đành biến tấu Mùa hè chiều thẳng đứng lúc Ngô Quang Hải và Trần Nữ Yên Khê chạy đuổi nhau trong tiếng nhạc Lou Reed, vào phim này thì thành hai đoạn, Watanabe và Midori cứ đi theo nhau mà nói chuyện trong nhà Midori, rồi đoạn Watanabe và Naoko rượt nhau trên đồng cỏ mà nói chuyện về Kizuki, vì sao lại không thể làm tình được, tôi tuyệt đối không thể hiểu tại sao không thể ngồi mà nói, hoặc thậm chí là nằm :d
rồi lại còn ôm đàn guitar hát Norwegian Wood mà vẫn nghe như hát Trịnh Công Sơn, lạy trời
đoạn đang ngủ gà gật bỗng dưng choàng tỉnh vì lồng quả nhạc cứ nồng nỗng "I love you I love you"
nói tóm lại là khó tả lắm, thôi mình đi ngủ, gật được hai nhát làm tiền đề rồi giờ làm nhát quyết định :)
ngủ gật hai nhát, kỷ lục từ khởi thủy của thời gian :p mà các bác yên tâm, truyện mình chỉ nhớ độc chi tiết ăn ốc sên và chi tiết Nagasawa hay cái gì bảo Watanabe mày đọc Gatsby thì xứng đáng chơi với tao, nên chả có tí so sánh nào hết cả đâu nhá
tệ hại hơn cả là Trần Anh Hùng cứ cố phải đặt dấu ấn cá nhân trong khi không nghĩ ra được một ý tưởng nào, đành biến tấu Mùa hè chiều thẳng đứng lúc Ngô Quang Hải và Trần Nữ Yên Khê chạy đuổi nhau trong tiếng nhạc Lou Reed, vào phim này thì thành hai đoạn, Watanabe và Midori cứ đi theo nhau mà nói chuyện trong nhà Midori, rồi đoạn Watanabe và Naoko rượt nhau trên đồng cỏ mà nói chuyện về Kizuki, vì sao lại không thể làm tình được, tôi tuyệt đối không thể hiểu tại sao không thể ngồi mà nói, hoặc thậm chí là nằm :d
rồi lại còn ôm đàn guitar hát Norwegian Wood mà vẫn nghe như hát Trịnh Công Sơn, lạy trời
đoạn đang ngủ gà gật bỗng dưng choàng tỉnh vì lồng quả nhạc cứ nồng nỗng "I love you I love you"
nói tóm lại là khó tả lắm, thôi mình đi ngủ, gật được hai nhát làm tiền đề rồi giờ làm nhát quyết định :)
Dec 20, 2010
Tình và rác
Nếu chở người yêu bằng xe máy đi trên phố nhỏ Hà Nội ngay sau một cái xe rác chạy chậm rề rề trước mặt, bạn sẽ hiểu sự kết hợp của tình yêu với rác rưởi là một điều có thể, dù cho nó có kỳ cục đến đâu. Nhưng nói thế nào đi nữa, “Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học) vẫn cứ là một nhan đề không bình thường cho một cuốn tiểu thuyết. Nhìn thấy một cái nhan đề như thế này, hẳn người ta nhanh chóng hiểu ra rằng đây ắt không phải là một câu chuyện tình đơn thuần.
Tình yêu bất khả trong “Tình và rác” đẹp như mọi tình yêu bất khả. Nữ ca sĩ nổi tiếng Patricia Kaas từng tuyên ngôn: “Amour impossible, quoi de plus terrible” (Tình bất khả, còn có gì khủng khiếp hơn đây). Nhân vật chính của “Tình và rác”, một nhà văn, có với Daria, cô nghệ sĩ thích linh hồn lẩn quất trong những thứ đồ vật vô tri, một mối tình trên những căn gác xép, mối tình của những chia tay góc phố và những câu nói rợn người vì buồn bã: “Anh có nghĩ là mọi tình yêu đều ham mê những hy vọng ngang trái hay không?” (tr. 44), ấy là câu Daria hỏi người tình. Câu hỏi này, hẳn không một người đàn ông nào ở hoàn cảnh như Người Tình của Daria dám trả lời.
Sự buồn bã này cứ kéo lê thê suốt cuốn sách, kể cả trong những cuộc trò chuyện bông phèng giữa những người cùng đội dọn rác với nhân vật chính, lẽ ra phải là những con người đầy sinh lực, như các nhà văn thường tạo ra - thì ít nhất cũng nên có một đối cực nào đó trước sự thê lương của rác và những kỷ niệm đau lòng cứ đan cài, xen kẽ với nhau. Người đọc của “Tình và rác” không thể mặc sức thả mình vào một đoạn về mối tình ngang trái nhưng đẹp kia, vì biết chắc rằng chỉ vài dòng nữa thôi họ sẽ quay trở về với phố phường Praha từ điểm nhìn của những con người cả ngày tiếp xúc với bẩn thỉu. Sự buồn bã này có lẽ chính là “màu” đặc trưng của văn chương Trung Âu nói chung, của vùng Bohemia nói riêng, nhất là văn chương của những nhà văn có chung kinh nghiệm trải qua thời kỳ Đức Quốc xã rồi tiếp nối ngay vào một thời kỳ cũng đen tối không kém. Bầu không khí này ta cũng bắt gặp ở trong những cuốn tiểu thuyết mỏng của Kertész Imre khi ông miêu tả đời sống Hungari trong những năm 1970.
Ivan Klíma mang trong mình một quá khứ xa giống với rất nhiều nhà văn thành danh ở châu Âu sau Thế chiến thứ hai: quá khứ của người Do Thái đeo ngôi sao David, trại tập trung, sự sống sót thần kỳ, và niềm tuyệt vọng tiếp theo. Cả bố mẹ lẫn Ivan Klíma đều thoát khỏi trại tập trung (với Klíma đó cụ thể là trại Terezín, đúng ra là một trại trung chuyển tù nhân Do Thái, nhưng cũng không phải là một nơi kém nguy hiểm tính mạng), nhưng sang đến chế độ mới, bố Klíma lại bị bỏ tù. Những nét tiểu sử này được Klíma đưa vào “Tình và rác”, đi kèm với những nhận xét cay đắng: “Ở đất nước chúng tôi, tất cả mọi thứ đều đang vĩnh viễn được tái chế: niềm tin, những tòa nhà và cả tên của những con phố” (tr. 89).
Vậy là thêm một đại biểu xuất sắc nữa của văn chương Séc đã đến Việt Nam, sau những người xuất chúng như Bohumil Hrabal của những truyện hài hước không thể không bật cười và Milan Kundera sâu cay chua chát như màu một bức tường cũ Praha. Dĩ nhiên, còn có một nhà văn nữa rất gắn bó với Praha, tuy không bao giờ viết bằng tiếng Séc: Kafka. Kafka có một vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm hồn nhà văn nhân vật chính của “Tình và rác”: sau khi được “khai tâm” về văn chương bằng “Chiến tranh và hòa bình” của Tolstoy, người đã khích lệ con đường văn chương của anh ta là Kafka, mặc dù thật khó hình dung văn chương của Kafka có thể thực sự hỗ trợ tinh thần theo hướng tích cực cho bất kỳ một ai. Với nhân vật chính của “Tình và rác”, tác phẩm của Kafka bị cấm lưu hành tại Séc là vì ông đã quá trung thực. Chắc hẳn vì muốn noi theo tấm gương ấy mà nhà văn của “Tình và rác” đã kết hợp hai thứ đó với nhau ở tác phẩm của mình; trong một bầu không khí dị hợm - và bất khả - mọi kết hợp kỳ cục đều là có thể.
Nhị Linh
Subscribe to:
Posts (Atom)
