Jan 9, 2011

Một góc văn học sử

Đây là bông hoa :)


Không có giáo sư linh mục Thanh Lãng thì chắc giờ nhiều vấn đề văn học sử vẫn chưa biết phải làm như thế nào.

Đây cũng lại là hoa, Phạm Thế Ngũ, một ông thầy giáo khác:



Hai vị này thì rất độc đáo, chính là người bị Thanh Lãng tố giác cọp pi ăn trộm tài liệu trong Phê bình văn học thế hệ 1932. Bộ Thi nhân Việt Nam thế hệ 1954-1973 này có nhiều bài thơ chán đến kinh hoàng ;d

Và một vài quyển lẻ nữa. Tất tật mới chỉ là một góc cực nhỏ mà ngành văn học sử từng sản xuất ra:

Jan 8, 2011

Lo-Lee-Ta

Hồi ký của Nabokov, bản tiếng Pháp (Yvonne Davet, Mirèse Akar và Maurice Couturier) và nguyên bản tiếng Anh:


Quyển Autres rivages (Những bến bờ khác) vẫn ghi rõ ngày mua: 10 tháng Chín 2002, tại boulevard de l'Hôpital, còn Speak, Memory (Ký ức, nói đi; ban đầu Nabokov định đặt tên sách là Speak, Mnemosyne theo tên nữ thần Hy Lạp, nhưng nhà xuất bản ở Anh can, vì các "little lady" chắc chắn sẽ không mua sách có nhan đề không thể đánh vần được :p) thì mua ở... Hà Nội :)

Ada or Ardor và Sebastian Knight lại là những sự vụ kiểu khác:


Và đây, Lolita, bản tiếng Pháp của Kahane:


"Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi. Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta: đầu lưỡi lướt xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, khẽ đập vào răng ba tiếng, Lo, Li, Ta.

Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần thụng trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly. Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm, em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita."

Thêm Woolf này, hai bản dịch tiếng Pháp:


Orlando có vị trí trong chuyên ngành lesbian tương đương với Corydon của Gide bên chuyên ngành gay :d

Mất Mrs. Dalloway tự đi mua hoa cho mình rồi :(

To the Lighthouse

Jan 6, 2011

Ouf Woolf

Làm tí minh họa nhỉ :)


Nhìn chung nghiên cứu tiểu sử Woolf thì quyển của Quentin Bell (con trai Clive Bell và Vanessa Bell, tức gọi Virginia Woolf là dì ruột) là đầy đủ. Quentin Bell được coi là người chép biên niên về "Bloomsbury" (trong Tới ngọn hải đăng ở "Giới thiệu" của dịch giả cứ một mực ghi thành "Bloomsburry", quái thế).

Moments of Being là các tác phẩm tự thuật. The Waves thì là tiểu thuyết. The Essays of Virginia Woolf thì là các essay ;p Hai quyển tiếng Việt thì nhiều người biết rồi.

Bonus ảnh nhá:


Có đề tặng, chữ ký của dịch giả nhá :d

Hic thông cảm ảnh xấu quá, Hà Nội đợt này thời tiết không thuận lợi cho bộ môn nhiếp ảnh, lạnh khắm khú.

Jan 3, 2011

Kings Queens Knights Priests

"Kings and Queens and guillotines..."

Italo Calvino trong trilogy "Tổ tiên của chúng ta": Il visconte dimezzato (Tử tước chẻ đôi), Il barone rampante (Nam tước trên cây) và Il cavaliere inesistente (Hiêp sĩ không hiện hữu).

Umberto Eco, thì, đầy kinh điển của thế giới tu viện tàn độc, cuốn sách giết người: Il nome della rosa (Tên của đóa hồng).

Và người gần đây nhất: Hilary Mantel, Wolf Hall (Đại sảnh sói).

Cả một thế giới Trung cổ đã đóng lại đang mở ra.

Đề từ của Đại sảnh sói:

"There are three kinds of scenes, one called the tragic, second the comic, third the satyric. Their decorations are different and unalike each other in scheme. Tragic scenes are delineated with columns, pediments, statues and other objects suited to kings; comic scenes exhibit private dwellings, with balconies and views representing rows of windows, after the manner of ordinary dwellings; satyric scenes are decorated with trees, caverns, mountains and other rustic objects delineated in landscape style."

(Vitruvius, De Architectura, on the theatre, c.27 BC)

cái mà tôi thích nhất, là ban công :) Le Balcon của Jean Genet, và Un balcon en forêt của Julien Gracq. Đứng trên ban công thì ta có thể nhổ nước bọt xuống bên dưới ;p

"Dreams of swords in hand/Sailing ships, the viking spits/The blood of father's land": Kings and Queens

Dec 31, 2010

những ngã tư và những cột đèn

"Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí": câu cuối cùng của đoạn mở đầu tiểu thuyết những ngã tư và những cột đèn. Cuốn tiểu thuyết của Trần Dần, in xong đúng vào ngày hết năm. Năm cùng tháng tận. Số phận vẫn luôn luôn gây kinh ngạc.

Bản thảo cuốn tiểu thuyết này xong xuôi vào năm 1966. Năm đó, Trần Dần được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam gặp gỡ ngụy binh cũ thời Pháp thuộc (để lấy tư liệu). Bản thảo viết xong, bản duy nhất, được gửi lên Sở Công an. Năm 1988 bản thảo được Sở Công an trả lại cho Trần Dần, cùng bản chép tay Cổng tỉnh.

Khi đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết này, tôi nghĩ: những gì là cách tân, hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay, Trần Dần đã làm từ năm 1966. Với một sức mạnh cuồn cuộn của ý tưởng và câu văn. Có khi đọc một cuốn tiểu thuyết ta thấy như đang nói chuyện với một binh nhì, lại có khi thấy như đang nói chuyện với một vị tướng. Cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy như cả một đạo quân tinh nhuệ cùng một lúc. Với mọi kỹ thuật và nghệ thuật của đánh trận.

"Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37o không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa. Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. [...] Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí."

"Tôi qua ngã tư Cửa Nam. Ngã tư Cửa Nam đầy khói. Để không thể đếm bao nhiêu nốt chân trên ngã tư. Ai đếm bao nhiêu nốt chân khôn dại. Bao nhiêu nốt chân vui buồn? Ai đếm những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn? Đời tôi đã rẽ rồi. Như đã hạ nước cờ không sao đi lại được. Nhưng tại sao tôi cứ ám ảnh: cái ngã tư tại sao ấy. Tôi quên không được. Đi đi không được. Tôi ngồi bệt lề đường. Tôi là đàn ông: tôi không đau khổ. Nhưng tôi muốn khóc. Tôi là đàn ông: tôi không khóc. Nhưng tôi đau khổ lắm. Tôi ngồi bệt mà nhìn láo nháo cột đèn. Láo nháo khói. Láo nháo hàng cây bên đường lá rụng."

Vậy là giữ đúng lời hứa. Quyển này cũng như quyển của Đỗ Lai Thúy: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử.

----------------

Sang đến Don DeLillo:


Từ bốn thập kỷ nay, nhà văn Mỹ chiếu tia X vào những mảng tối tăm của đất nước ông. Một nghệ thuật thấu thị? Dẫu không phải thế thì cũng là mang tính chất thị giác một cách sâu sắc, điều càng được chứng tỏ rõ hơn với cuốn sách mới nhất của ông, Point Omega.

Ở tuổi 73, Don DeLillo vừa nhận giải Pen/Saul Bellow cho toàn bộ tác phẩm của ông: mười sáu tiểu thuyết, một kịch bản phim cùng một ít truyện ngắn, tiểu luận và kịch. Tác giả của LibraFalling Man có được một vị thế rất khác biệt trong bức tranh chung của văn chương Mỹ vì lý do số lượng tác phẩm dồi dào ít hơn vì lý do từ gần bốn mươi năm nay ông khám phá cùng những vùng tối, những cơn loạn tâm và những nỗi sợ có tính chất cổ mẫu của người sống cùng thời, vừa làm như vậy vừa xây đắp cho sự im lặng và bí mật. Với rất nhiều cuộc mưu phản chống lại những khốn cùng của sự tiêu dùng đồng thời với các hành động tàn phá hình ảnh, dần dần ông tự ấn định mình thành một chứng nhân và lý thuyết gia của những “hình thức hiện đại của hãi hùng”. Nhưng những lần trả lời phỏng vấn và xuất hiện trước công chúng của ông chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Và các tiểu thuyết mênh mông của giai đoạn đầu đã dần dần nhường chỗ, từ khoảng chục năm nay, cho những văn bản ngắn hơn và kiệm lời (ê-líp-tích) hơn. Cũng như vậy ở cuốn sách gần đây nhất, Point Omega, cái nhan đề hơi có chút huyền bí, có hình thức gây rối trí và những mạng lưới hình ảnh không hề bị che giấu. Cuộc gặp gỡ, trong sa mạc Arizona, giữa một đạo diễn trẻ và một tay tân bảo thủ, nhân viên Lầu Năm Góc về hưu và bộ não của cuộc chiến tranh Irak. Một cuộc gặp biến thành tiểu thuyết noir khi con gái ông già mất tích, cũng bí ẩn như khi xuất hiện. Một cuộc gặp được lồng khung trong hai cảnh bí ẩn ở bảo tàng nơi người ta chiếu tác phẩm video của Douglas Gordon, 24 Hour Psycho, đặt vấn đề về tri giác thời gian bằng cách chiếu đi chiếu lại bộ phim Psycho của Hitchcock suốt một ngày. Bất khả xâm nhập, bí ẩn, lo sao cho mỗi độc giả có được cách diễn giải riêng về cuốn tiểu thuyết, Don DeLillo thích nhấn mạnh vào vai trò người nghệ sĩ và các nguồn cơn không ngờ tới của nghệ thuật nhằm nói ra cái thực. Dù thế nào đi nữa, người vẫn được cho là có khả năng thấu thị vì đã “dự đoán” thảm họa 11 tháng Chín ngay từ cuối những năm 1970, trước hết lại không phải là một nghệ sĩ thị giác ư?


Dec 30, 2010

Tolstoi (prologue)


Một số tiểu thuyết của Tolstoi dịch và xuất bản ở thời Việt Nam Cộng Hòa. Còn có Vùng đất hồi sinh và vài quyển nữa nhưng tạm thời còn chưa bới được trong đống sách :) Bản An na Kha Lệ Ninh ghi tên người dịch Vũ Ngọc Phan và Vũ Minh Thiều, nhà Khai Trí in từ năm 1970 đến năm 1972, 6 tập, trong tủ "Sách bốn phương" hẳn là lấy lại bản Vũ Ngọc Phan trước 1945 rồi Vũ Minh Thiều san định, hiệu đính, bổ sung. Trước 1945 cũng đã có bản dịch Phục sinh được nhiều nhà văn Việt Nam đọc và nhiều cảm tưởng. Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Khôi, Nguyễn Phi Hoanh, Kiều Thanh Quế và nhiều người nữa đã tham gia công cuộc giới thiệu, bình luận Tolstoi tại Việt Nam hồi ấy.

Đợt vừa xong kỷ niệm 100 năm ngày mất Tolstoi (có cả ông chắt chút chít gì đó của Tolstoi, giám đốc bảo tàng Tolstoi bên Nga sang đây; trong cái năm kỷ niệm này ông ấy đã đi khoảng 50 nước hehe), ấn phẩm chào mừng giá trị nhất là Đường sống. Văn thư nghị luận chọn lọc, Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Thị Kim Hiền, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan và Lã Nguyên La Khắc Hòa tham gia làm (không có phần liên quan đến văn học), NXB Tri Thức, "Tủ sách tinh hoa", khoảng 1.200 trang. Tonton Cư ra tay viết một lời giới thiệu kỳ khu dài 70 trang tên là "Hành trình tư tưởng của Tolstoi nhìn từ hôm nay" cực oách :p

Dec 27, 2010

Tóp mỡ 2010

Bị đề nghị đưa ra top 5 sách 2010 :(


“Istanbul. Hồi ức và thành phố” (Orhan Pamuk, Nguyễn Quốc Trụ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học)

Không có nhiều hồi ký nhà văn được dịch ra và đón nhận nồng nhiệt ở Việt Nam. Sau “Sống để kể lại” của Gabriel García Marquéz và “Hội hè miên man” của Ernest Hemingway, “Istanbul” của Orhan Pamuk đã kịp thời đến để bổ khuyết cho thiếu hụt này. Istanbul của Pamuk không chỉ là một bức tranh, một câu chuyện kể, mà còn là một tâm hồn sống ngập ngừng thở trên những hoang phế điêu tàn mà chỉ một nhà văn đặc biệt nhạy cảm mới có thể nắm bắt và miêu tả được.



“Vắng mặt” (tiểu thuyết của Đỗ Phấn, Bách Việt & NXB Hội Nhà văn)

Văn học Việt Nam lại thất bát thêm một mùa 2010. Đã lâu lắm rồi các nhà văn Việt Nam nhớn nhác với những cách tân mà dường như quên đi mất rằng văn chương có thể không nằm về “phương ấy”. Khi các giải thưởng văn học chính quy đều gắng gượng mà trao, một nỗ lực nho nhỏ về kể chuyện giản dị như “Vắng mặt” của họa sĩ Đỗ Phấn hoàn toàn xứng đáng được coi là một điều có ý nghĩa cho một năm buồn bã của văn học trong nước.


“Oh boy!” (Marie-Aude Murail, Trần Anh Thư dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn)

Một tác phẩm thuộc dòng nhiều người đọc nhưng ít khi thực sự được đánh giá cao: văn học thiếu nhi. “Oh boy!” bắt đầu đưa đến Việt Nam loạt tác phẩm của Murail, một nhà văn chắc hẳn rồi đây sẽ được xếp vào hàng kinh điển của lịch sử văn học thiếu nhi thế giới. Năm 2010 cũng chứng kiến một sự tăng tiến nhảy vọt của dòng sách văn học thiếu nhi ở rất nhiều tiểu thể loại và với sự tham gia của rất nhiều cơ sở xuất bản.


“Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học)

Cuốn tiểu thuyết xuất bản vào cuối năm củng cố thêm cho sự thắng thế trở lại của một số nền văn học lâu nay ít được quan tâm như văn học Hungari, Ba Lan, Ý… Klíma, một nhà văn lớn người Séc, đưa chúng ta quay về với một bầu không khí chính trị ngột ngạt tại các nước thuộc khối Đông Âu trước đây với một giọng văn buồn bã bậc thầy rất hiếm thấy.



Trong dòng sách nghiên cứu, đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình nhìn lại lịch sử Việt Nam từ những khía cạnh mới, xuất phát từ các nguồn tài liệu mới. Các Công ty Đông Ấn có một kho lưu trữ khổng lồ, trong đó có hàng vạn trang liên quan đến Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, để có thể toàn diện, còn cần được đặc biệt quan tâm về phương diện thương mại. Dĩ nhiên, lịch sử không chỉ gồm có những nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, cùng những câu nói lừng danh và các âm mưu xảo quyệt được hậu thế say mê.