Jul 20, 2011

(Brand New Ones) Kề cận

Trong một cuốn tiểu thuyết quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của mình, Jorge Semprun chỉ ra rằng Weimar, thành phố của Goethe, biểu tượng Ánh Sáng của nước Đức, nằm rất gần trại tập trung phát xít Buchenwald.

Cuốn tiểu thuyết ấy tên là L’Écriture ou la vie (Viết hay sống), lần đầu xuất bản năm 1994. Đây là một trong ba tác phẩm Semprun lấy đề tài cuộc sống tại Buchenwald, và cũng mang nhiều yếu tố tự truyện. Bộ ba tiểu thuyết này còn có Le grand voyage (Chuyến du hành lớn), tác phẩm đầu tay in năm 1963 khiến Jorge Semprun trở nên nổi tiếng, trong đó ông kể lại chuyến đi cùng 119 người tù khác tới trại Buchenwald. Cuốn tiểu thuyết còn lại trong bộ ba này là Quel beau dimanche! (Một Chủ nhật thật đẹp trời!, 1980).

Jorge Semprun vừa qua đời cách đây không lâu, trong khi ở cương vị “ông Hàn” của Viện Hàn lâm Goncourt. Sự ra đi của ông là sự ra đi của một trong những nhà văn lớn viết bằng tiếng Pháp nhưng lại không phải người Pháp. Người ta vẫn thường miêu tả ông như “một người châu Âu” toàn vẹn và điển hình. Semprun là người Tây Ban Nha, cháu ngoại một chính trị gia từng đứng đầu một chính phủ Tây Ban Nha thiên về tự do hồi cuối thế kỷ XIX, cũng có thời gian ngắn (sau thời Franco) làm đến Bộ trưởng Văn hóa Tây Ban Nha. Nhưng tác phẩm của Semprun đều viết bằng tiếng Pháp (gia đình sang Pháp tránh các sự kiện chính trị ở Tây Ban Nha từ khi Semprun còn nhỏ, và Semprun đã qua trường Henri-IV, rồi Sorbonne). Ngoài tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp mà ông hoàn toàn thành thục, Semprun còn rất thạo tiếng Đức; tác phẩm cuối đời của ông là một tập hợp bài diễn văn mang tên Une tombe au creux des nuages. Essais sur l’Europe d’hier et d’aujourd’hui (Một huyệt mộ giữa lõm mây. Các tiểu luận về châu Âu hôm qua và hôm nay) mà Semprun từng trình bày bằng tiếng Đức trước đó.

Trong bài phỏng vấn dài thực hiện không lâu trước khi ông qua đời cho trang web nonfiction.fr, Semprun nhắc lại những năm tháng hoạt động bí mật, luôn luôn mang tên giả đến mức không có phản ứng gì khi nghe người khác gọi tên thật của mình, và kết quả là ông tự rèn luyện được một trí nhớ vượt trội, nó vừa đắc lực trong sự sống còn của cuộc đời lại vừa rất có ích cho công việc sáng tác văn học; Semprun là huyền thoại về thuộc lòng nhiều bài thơ. Với ông, trí nhớ thậm chí còn là “một dấu hiệu căn cước rất mạnh”.

Cái đáng nhớ nhất từ trải nghiệm trại tập trung với Semprun không phải cái đói, bạo lực, mà là sự chung đụng, không có lấy một mảnh đời sống riêng tư nào, mọi thứ đều diễn ra dưới cái nhìn của người khác. Ông cho rằng trong bối cảnh ấy, để sống được thì khả năng ensimismarse (từ Tây Ban Nha chỉ sự khép mình lại bằng cách tự nhẩm trong đầu một bài thơ) là tuyệt đối cần thiết, và với bản thân ông, những bài thơ thuộc lòng vang vọng trong óc giống như một sự cứu rỗi. Thế nhưng ở trại Buchenwald, ngoài tự khép mình, Semprun còn có cơ hội gần gũi, trò chuyện với một số trí thức nổi tiếng của châu Âu như Maurice Halbwachs, một nhân vật trọng yếu của trường phái xã hội học Durkheim, từng nghiên cứu về nguyên nhân của tự tử (mà Émile Durkheim là người khai mở) và nổi tiếng nhất với đề tài “ký ức tập thể”; người kia là Henri Maspero, một chuyên gia rất lớn về Trung Quốc và có một số nghiên cứu liên quan tới Việt Nam. Cả Halbwachs và Maspero đều chết trong trại Buchenwald.

L’Écriture ou la vie cũng nhắc tới sự hiện diện của nhà văn, chính trị gia nổi tiếng người Pháp Léon Blum ở trại Buchenwald, kèm với sự miêu tả về mùi lò thiêu xác, một cái mùi kỳ cục, rùng rợn và ám ảnh, và Semprun nói rằng lúc nào nó cũng hiện ra “trong thực tại của ký ức”. Trong cuốn tiểu thuyết này, Semprun còn viết về một nhà văn lớn thoát khỏi trại tập trung nữa, Primo Levi, tác giả Có được là người, mặc dù quãng thời gian sau này ông hết sức cố gắng tránh đọc các tác phẩm văn chương lấy đề tài trại tập trung: “Điều này thuộc vào một chiến lược cho sự sống sót”.

Và, nhất là, con người ưa tranh đấu ở trong ông (Semprun từng tham gia kháng chiến chống Đức tại Pháp và chống chế độ Franco ở Tây Ban Nha) nhận ra rất rõ ràng rằng mọi điều thật vô lý khi mà Weimar, quê hương của Goethe vĩ đại, hiện thân của tinh thần Đức, biểu tượng cho ánh sáng trí tuệ, nghệ thuật và khoa học không chỉ của nước Đức, lại cận kề với trại tập trung Buchenwald, nơi thường xuyên bốc lên mùi thiêu xác ám ảnh.

Jul 19, 2011

Cúc cu

Hôm trước ra hiệu sách, thấy có một quyển sách mới, cầm lên rồi lại đặt xuống. Bìa sách ghi tên tác giả Phan An (hic, mình xin thú nhận với bác Phan An Giường là đã từng lén lút không mua sách của bác :p) và nhất là lại là sách của Thaihabooks. Đùa chứ có mỗi sách của Thaihabooks là tôi chưa bao giờ mua được quyển nào, có mỗi một lần cầm lên cầm xuống mãi rồi cũng tặc lưỡi mua quyển Cha và con và điện ảnh của David Gilmour vì chủ đề hay hay, lại có nhân vật con bé người gốc Việt rất là bitchy, nhưng cũng chỉ đọc được nửa quyển là bỏ vì chịu không thấu.

Sau mới biết không phải Phan An ấy mà là Phan An lacai.org tức CB tức BH. Quyển sách tên là Quẩn quanh trong tổ, bìa của Bút Chì Đỗ Hữu Chí, Thaihabooks và NXB Thời Đại. Tên sách lấy cảm hứng từ Bay trên tổ chim cúc cu, đề từ cũng từ đấy: "Ai đi đâu ai về đâu/Ai bay trong tổ vỡ đầu cúc cu", nhưng hai nguồn cảm hứng chính lại là Lưu Quang Vũ và Aziz Nesin.

À nhân tiện đố các bác phát: Orhan Pamuk có nhắc đến Aziz Nesin không, và nếu có nhắc thì là ở đâu :p

Quẩn quanh trong tổ đọc rất là phăn lỳ, ngôn từ rụng tá lả, lại có cả minh họa chẳng hạn như vẽ mặt anh Brad Pitt rồi ghi rõ anh í có má anh í có mắt anh í có mũi etc.

Bạn Phan An tuần trước chịu chung số phận bị bóc bài với tôi hehe, mục của bạn í là "Phát ngôn", và sau khi bị bóc bài thì cũng cười hớn hở giống như tôi hề hề.

Câu hỏi hôm trước về Nguyễn Hiến Lê chả ai bị lừa cả hic. Nó đây này:






Tác giả ghi là Han Suyin trông như tên Hàn Quốc nhưng thật ra là Hàn Tú Anh, người Tàu :)

Jul 18, 2011

Jul 17, 2011

Sách (XXXIX) mông múc :p

Ba quyển của Pamuk này đều chưa có trong tiếng Việt, và chắc là còn lâu mới có:


Đố các bác biết tôi thích nhất quyển nào trong ba quyển này :)


Cả Tên tôi là đỏ, Tuyết và Pháo đài trắng tôi đều không thực sự thích, may mà có Istanbul chứ không thì chắc tôi từ bỏ ý định đọc bác Pamuk này.


Còn đây là... hehe bạn gì ơi bới trúng được zồi này:


Hôm trước nói chuyện với một bạn, thấy bảo bộ này từng bị thu hồi vì nhắc đến Bắc Hàn này nọ, chẳng biết có đúng không. Văn học Hàn Quốc gần đây có quyển Hãy chăm sóc mẹ được nhắc tới trong mấy trang ở quyển màu trắng bên tay phải.

Jul 16, 2011

những điều kinh hãi

Tôi ước mình đủ tài sức để bình luận về những điều kinh hãi như là đội tuyển bóng đá nam của Việt Nam bị loại ngay từ vòng bảng một giải đấu lớn, như là chuyện nhà đầu ngõ bán được những 500 triệu một mét vuông đất, hoặc như là các hiểm họa vệ sinh thực phẩm khiến cho người ta nghĩ đến món thịt bò (hay đuôi bò, lưỡi bò) là ớn, nhưng thật không may tôi chỉ được quanh quẩn với mấy vấn đề văn hóa (giờ đây hay được gọi là “văn hóa-giải trí”).

Tôi cũng ước mình đủ thời gian để xem cái hiện tượng báo lá cải mới manh nha ở Việt Nam tệ hại đến mức độ nào, nhưng vì hơi bận rộn kiếm sống và còn phải đi uống bia nên tôi mới chỉ đọc lướt qua được một ít, hiểu biết chưa dày dặn, chắc vì thế mà chưa thấy thấm thía được nông nỗi nguy hiểm mà các tờ báo đứng đắn nghiêm ngắn gần đây dõng dạc tố cáo. Chưa thấm thía, tôi chỉ rụt rè nêu lên nhận xét riêng của mình, là hình như báo lá cải nước mình thực sự là lá cải, chứ không phải lá su hào, càng không phải lá bồ đề lá diêu bông gì cả. Còn rụt rè hơn, tôi xin nêu nhận xét thứ hai là đọc báo lá cải thấy rất buồn cười, chẳng biết sự hài hước ấy là được tạo ra có chủ đích hay tình cờ mà gây buồn cười, nhưng nếu không bận rộn kiếm sống và uống bia, dám chắc tôi cười to hơn và cười lâu hơn.

Chẳng hiểu làm sao phóng viên báo nghiêm túc không viết buồn cười bao giờ, thế mà vài lần gặp họ đông đông, tôi thấy rõ ràng họ nói chuyện rôm rả buồn cười lắm, nội dung câu chuyện theo thiển ý của tôi còn lá cải hơn lá cải xịn. Vậy nhưng hễ cầm lấy bút viết (à, nhấc tay gõ bàn phím) là y như rằng toàn chuyện đứng đắn, nghiêm túc, đầy đạo đức, khuyên nhủ tận tình và say sưa giảng giải. Tôi thấy không có vấn đề lắm khi nhìn thấy tên bài báo sặc mùi lá cải trên báo lá cải, nhưng thấy những tên bài như “Một chuyện tình gây sốt” hay “Sao Harry Potter nổi tiếng nhưng không sa ngã” hay “Lần đầu tiên…  của Jenni Trang Lê” trên mặt một tờ báo chưa từng dính tiếng lá cải thì tôi nghĩ thà mình đi uống bia còn hơn, dẫu có nguy cơ gặp nhà báo và trở thành đối tượng bị phê phán trong một bài được giật tít “Lần thứ 1043… của XYZ”.

Có vẻ như đã thị trường, đã lá cải mà thị trường thật, lá cải thật thì lại hóa thành đứng đắn, và sẽ là không đứng đắn nếu làm lá cải mà không ra lá cải, hoặc không định lá cải mà cuối cùng lại thành lá cải; hình như không ai chập mạch đến mức ngồi xổm ăn trứng vịt lộn trên vỉa hè mà lại đòi chủ quán đưa khăn vuông kích cỡ chuẩn 38 xăng ti mét mỗi chiều để đặt lên hai đùi.

Cô ca sĩ nào đó hát “Em có một ước ao, em có một khát khao” trở thành luôn hiện tượng “té ghế” báo chí thuộc phe đứng đắn um xùm cả lên, còn tôi thấy kinh hãi khi nghe lời ca của nhiều nhạc sĩ không bị xếp vào hàng ngũ “té ghế”, chẳng hạn như của một nhạc sĩ hiện nay rất hot: “dù chỉ một lần khi anh được nói với em, rồi hẹn em đi chơi và hứa đi xem phim, này người ơi biết anh chờ mong”, và nói vô phép, có những câu thậm chí còn hơn té ghế như “Nay da em nâu tươi màu suy nghĩ” vân vân và vân vân. Nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến từng miêu tả nhạc của mình và nhiều đồng nghiệp của anh rất chính xác: “có sợi rơm khô”. Các nhạc sĩ của chúng ta tạo ra không phải một mà nhiều sợi rơm khô rất khó nhá.

Tôi uống thêm liền mấy cốc bia để rón rén nêu lên những sự kinh hãi nữa (cũng hãi, thế nào cũng bị ghét lắm), như là nhà phê bình mơ có trại sáng tác đã nhắc tới ở bài trên số tuần trước; như là đi xem triển lãm sắp đặt của một họa sĩ trẻ không phải không có chút tiếng tăm mà thấy ngay bản sao tác phẩm mình vừa nhìn thấy hai tháng trước trong một chuyến đi nước ngoài; như là thấy mấy nhà văn nổi tiếng cả ngày ôm lấy laptop trả lời “còm”, hồi đáp cả những “còm” thuộc dạng “póc tem nha”, mà câu trả lời nào cũng xứng đáng xếp hàng chung với trao đổi ở Quốc hội về mức độ vô vị và gây buồn ngủ; như là đọc một tản văn nào đó của Lê Hoàng viết trong vài năm trở lại đây: sau một quãng vừa đanh đá vừa duyên dáng giờ đây Lê Hoàng trở nên giống bà mẹ chồng có quá khứ nhiều bất hạnh đã quá tuổi hồi xuân, và gần đây Lê Hoàng lên báo tuyên bố báo chí phải hấp dẫn bằng trí tuệ (bia, nhất định lại phải bia thôi!); như là xem ảnh chụp của những người hay được gọi là nhiếp ảnh gia, giờ đây đông đảo đến không tưởng tượng nổi.

Điều kinh hãi nhất mà tôi nhận ra là để kể ra được những thứ trên đây, tôi đã uống hết một can bia Hà Nội mua tận gốc, số 183 phố Hoàng Hoa Thám. Cứ thế này, khéo mà tôi sớm kinh hãi cả bia.

Jul 15, 2011

Sách (XXXVIII) you do an awfully good impression of yourself

Hôm qua ở Sài Gòn, lần đầu tiên đi Sài Gòn mà không kiếm được quyển sách nào. Mà nói cho đúng thì không đi tìm sách. Ngồi nói chuyện với mấy bạn, mấy bạn than phiền trong SG mua đĩa phim rất khó tìm được phim hay mà chỉ toàn phim nhảm, mới nhận ra mấy lần vào hiệu sách Nguyễn Huệ cũng phải cố gắng mà mua lấy dăm quyển cho gọi là có chứ chẳng hiểu ở đó chọn sách theo tiêu chí nào nữa.


Hà Nội tiếp tục mưa. Sperm rỏ tong tỏng hehe.


Đợi mãi quyển thứ hai của Desmond Morris mới ra được:


http://nhanam.vn/Desktop.aspx/Khoa-Hoc-Tu-Nhien-Nhan-Van/Sinh_hoc/VUON_THU_NGUOI-130711-4/


Và cũng phải đợi mãi mới thấy có bìa A Most Wanted Man của John Le Carré:


http://nhanam.vn/Desktop.aspx/Van-hoc-nuoc-ngoai/Trinh-tham/KE_BI_TRUY_NA-1/


Mọi thứ diễn ra thật chậm, rề rà rề rà như nước giỏ mái ranh, từng giọt từng giọt một.


Ngày ở Sài Gòn, gặp bao nhiêu người lâu lắm rồi không gặp, chợt nhận ra xét đến cùng có lẽ đặc điểm lớn nhất của đời tôi là cuộc đời một đứa con hư :p

Jul 12, 2011

RIP

Bốn mươi ngày của linh hồn bắt đầu vào buổi sáng sau khi chết. Đêm đầu tiên ấy, trước khi bốn mươi ngày của nó bắt đầu, linh hồn nằm im lìm trên gối đẫm mồ hôi mà nhìn những người sống nắm hai bàn tay rồi nhắm mắt lại, làm căn phòng ngập tràn khói và sự im lặng nhằm ngăn linh hồn mới kia cách xa khỏi cửa ra vào, cửa sổ và khe sàn để nó không trào khỏi ngôi nhà như một dòng sông. Những người sống biết rằng khi trời sáng linh hồn sẽ rời khỏi họ mà đi tới những nơi thuộc quá khứ của nó - những trường học và ký túc xá hồi nhỏ, các doanh trại quân đội và khu ở của lính, những ngôi nhà bị phá đến tận nền móng rồi được xây lại, những nơi gợi nhớ tình yêu và tội lỗi, những khó khăn và niềm hạnh phúc trọn vẹn, lòng lạc quan và sự hưng phấn, những ký ức về ân sủng chẳng một chút nghĩa lý gì với bất kỳ ai khác - và đôi khi chuyến đi này kéo thật dài, vươn thật xa đến nỗi nó quên mất quay trở về. Vì lý do ấy, người sống thực hiện các nghi thức ngưng đọng: để chào đón hồn vừa thoát ra, người sống sẽ không dọn dẹp, sẽ không rửa hoặc sắp xếp, sẽ không dịch chuyển những gì thuộc về linh hồn trong vòng bốn mươi ngày, hy vọng rằng tình cảm và lòng nhớ thương sẽ đưa nó về nhà, khuyên nhủ nó trở về cùng một thông điệp, một dấu hiệu, hoặc sự tha thứ.

Nếu dụ dỗ thật đúng cách, linh hồn sẽ quay trở về khi ngày tháng qua đi, sẽ lục lọi các ngăn kéo, ngó vào mấy cái tủ, tìm kiếm sự thoải mái sờ nắn được ở căn cước của nó lúc còn sống bằng cách chỉnh lại cho ngay ngắn kệ đĩa, chuông cửa và điện thoại, tự nhắc nhở mình về các công dụng, không ngừng chạm vào những thứ tạo ra tiếng động và làm cho những người sống trong nhà nhận ra sự hiện diện của nó.


(trích chương "The Coast" trong The Tiger's Wife của Téa Obreht, Random House, 2011, tiểu thuyết vừa đoạt giải Orange)


Bài về Cô gái lai da trắng của Kim Lefèvre. Hình như trước đây đã có một bản dịch cùng quyển này in tại Việt Nam:


http://nhanam.vn/Desktop.aspx/Nguoi-doc-sach/Nguoi-doc-sach/Vuot_thoat_khong_cung_exclusive/