Showing posts with label nguyen-huy-thiep. Show all posts
Showing posts with label nguyen-huy-thiep. Show all posts

May 22, 2017

Nguyễn Huy Thiệp: một lần nữa

Tôi đã chờ rất lâu (như đã nói ở kia) vì tôi muốn một ai đó khác chứ không phải tôi nói được chính xác về Nguyễn Huy Thiệp (cũng như văn chương cần đúng chứ không phải hay, phê bình trước hết phải chính xác, trong nhìn nhận, cũng như trong sắp xếp - đây là câu chuyện của giá trị, đây cũng là câu chuyện của ý nghĩa). Một số văn chương không thuộc về lối của tôi (Borges, Nabokov hay Nguyễn Huy Thiệp), tôi giữ khoảng cách với những văn chương ấy và không bao giờ thực sự muốn chạm đến những văn chương ấy.

Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.

Dec 18, 2016

Nguyễn Tuân đọc sách (tiếp)

"Nguyễn Tuân đọc sách": đề tài này, mỗi lúc tôi lại thấy thêm quan trọng, chứ không chỉ là "thú vị" hay "hấp dẫn". Sự đọc sách của Nguyễn Tuân không thể coi là một phương diện "trivia", thêm nếm, hoa lá cành cộng thêm vào cho dày thêm văn nghiệp của Nguyễn Tuân, mà sự đọc này là cả một vấn đề.

May 5, 2016

không có vua

Ngày này năm xưa: xem ở kia; đó là lần cuối cùng tôi có conference trước công chúng rộng rãi; ngay sau đó tôi ngừng hẳn công việc đó lại, vì thấy quá mức vô nghĩa. Về sau có dăm ba lần nữa nhưng chỉ là miễn cưỡng vì nghĩa vụ.

-----------

"Không có vua" đương nhiên có thể coi là phần trích ra từ một câu đầy đủ hơn, chẳng hạn "Bởi vì không có vua, cho nên...", và ở đây rất dễ dàng liên tưởng đến Nietzsche, người dường như đã tận mắt nhìn thấy Chúa bỏ đi. Nietzsche đã viết một loạt tác phẩm xoay quanh vấn đề có ý nghĩa duy nhất sau khi "Chúa đã bỏ đi": đạo đức. Có một chỗ, thuộc loạt tác phẩm xoay quanh đạo đức này, cụ thể là trong Morgenröthe (Bình minh), Nietzsche nói đến chuyện thay vào chỗ của Chúa có thể là gì, và bảo đó là tiền. Điều này không khác khi, trong truyện "Không có vua", nhân vật Khiêm trả lời nhân vật Tốn khi Tốn hỏi "Tiền là gì?": "Là vua".

Jan 11, 2016

Uông Triều và Tưởng tượng & dấu vết

Giờ đây, lúc biết là phải nhìn lại (sự nhìn lại này là một trong những điều tôi ớn nhất đấy, mặc dù cần thiết, ớn đến nỗi vào những thời điểm ấy, tôi toàn phát ốm): tôi phải nói ngay điều này vào thời điểm này, vì đã tới lúc rồi. Tôi phải trả lời một câu hỏi: toàn bộ văn chương Việt Năm dăm bảy năm vừa rồi, sẽ còn lại gì?

Tôi phải làm nhanh, đúng lúc này, vì ngay sau đây tôi sẽ chuyển sang hai vấn đề duy nhất còn lại trong phê bình văn học Việt Nam.

Jan 4, 2016

Linda Lê, năm nay

Tôi dùng lại mấy từ từng dùng cách đây gần ba năm ở đây. Một sự thể hiện của thiếu thốn ngôn từ chăng? (đấy, lại câu hỏi tu từ).


Jul 6, 2015

Đi tìm thời gian đã mất không phải là đi tìm thời gian đã mất

Cách đọc Đi tìm thời gian đã mất kém nhất là đồng hóa nó với nhan đề của nó, coi đó là một câu chuyện về sự thể "đi tìm thời gian đã mất". Tác phẩm lớn đồng thời cũng có nhan đề lớn, nhan đề ấy là một yếu tố quan trọng làm nên tổng thể, nhưng những nhan đề vĩ đại bao giờ cũng đánh lừa.

Apr 1, 2015

Tô Hoài kể chuyện (2)

Trong "Cỏ dại" (xuất bản lần đầu năm 1944), phần đầu của Tự truyện, Tô Hoài kể, khi ấy còn nhỏ, phải rời vùng Bưởi xuống Kẻ Chợ, ở khu phố hàng, nhà một người bạn của ông bố, khổ sở và cô đơn, cũng không được đi học. Đang trong tình cảnh ấy thì vớ được quyển truyện Vô gia đình:

Jan 31, 2013

Nguyễn Huy Thiệp

Giờ, đã nói đến hai người rất khó "chạm" vào rồi, Vũ Trọng PhụngNguyễn Bình Phương, còn cần một nhân vật thứ ba nữa ở giữa hai người ấy. Người này đương nhiên phải là Nguyễn Huy Thiệp, cũng là một đối tượng tôi chưa bao giờ tìm được gì để phân tích, chưa tìm được một lối vào khả dĩ, nhưng đã lờ mờ nhận ra, với sự giúp đỡ của Nabokov, như tôi từng đặt gạch :p

Để nhìn nhận văn chương Nguyễn Huy Thiệp, tôi đề xuất một cách thức như sau: đặt ra một bộ ba nữa để cùng phân tích. Bộ ba này là Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Quang Lập.

Với người biết lịch sử văn chương Việt Nam giai đoạn gần đây, bộ ba này là hữu lý.

Nhưng với người hiểu lịch sử văn chương Việt Nam giai đoạn gần đây, bộ ba này lại rất phi lý.

Năm xưa, tôi cùng mấy người cầm một trang web văn nghệ, nhận được bản thảo một trong những tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi quyết định đăng và tôi được giao trách nhiệm viết lời giới thiệu. Loạt tiểu thuyết ấy, ai cũng đã biết là như thế nào rồi. Tôi đã viết đại ý Nguyễn Huy Thiệp bước chân vào văn chương lớn một cách khó nhọc bao nhiêu thì rút chân khỏi ấy dễ dàng bấy nhiêu. Người có quyền quyết định cuối cùng của trang web ấy rốt cuộc đã thay lời giới thiệu của tôi, bằng một lời ngắn gọn hơn nhiều, đơn giản giới thiệu đây là tác phẩm mới nhất của Nguyễn Huy Thiệp, mặc dù không có gì phản đối ý kiến của tôi.

Nhiều năm đã qua, tôi đã hiểu mình nhìn nhận như thế là đúng, nhưng cũng chẳng đúng. Nguyễn Huy Thiệp phức tạp hơn thế rất nhiều. Nguyễn Huy Thiệp không còn bóng dáng của một thời huy hoàng xưa kia là cả một sự kiện lớn của văn chương Việt Nam. Vấn đề là tại sao Nguyễn Huy Thiệp chấp nhận như vậy, vấn đề là ở chỗ ấy. Không giải thích được thì coi như mới chỉ là nhìn mọi thứ trên bề mặt.

Nhà văn có thể thôi viết luôn, lựa chọn ấy là của Bảo Ninh. Lựa chọn ấy có thể gây khó chịu, hồ nghi, nhưng trong tâm thức chung là hiểu được, cho dù người ta có thể giải thích loạn xạ theo đủ mọi hướng, như là "hết vốn", "sợ" hay thậm chí "hèn nhát". Lựa chọn ngừng viết có ở vô số nhà văn trên thế giới, là đề tài cho cả một cuốn tiểu thuyết của Enrique Vilas-Matas (đâyđây).

Nhưng lựa chọn kiểu Nguyễn Huy Thiệp lại rất khó hiểu.

Cho đến khi biết nhiều hơn về Nabokov tôi mới bắt đầu lờ mờ hiểu ra. Không ở đâu khác, ngạo khí và nộ khí nhà văn thể hiện rõ hơn như ở Nabokov. Nabokov là hiện thân sống động của sự khinh bỉ.

Với Nabokov, Conrad là cửa hiệu đồ lưu niệm, Hemingway có dăm ba thứ lẻ tẻ tí chút ý vị nhưng cũng chỉ đến thế, và Dostoevsky là cả một đối tượng để Nabokov không chỉ châm chích mà còn đến mức sỉ nhục. Danh sách ấy là vô tận.

Jan 14, 2013

Vũ Trọng Phụng



Troll các bác nhiều quá rồi, mệt ghê :p giờ không troll nữa mà chuyển sang những cái vấn đề có tầm nghiêm túc và thời đại nhé.

Vũ Trọng Phụng: thật ra thì có thể “sờ” vào Vũ Trọng Phụng như thế nào, thật ra thì bao nhiêu điều, cả núi bài viết, cuốn sách về Vũ Trọng Phụng đã thực sự chạm được vào ông ấy chưa? Khó nói lắm. Nguyễn Huy Thiệp từng có một cách nhìn, cách diễn giải vô cùng độc đáo về Vũ Trọng Phụng, trong một cái truyện ngắn, mà tôi đã quên mất tên, có phải “Thương cả cho đời bạc” không nhỉ?

Oct 25, 2012

Một kiểu khác, một dạng khác

(bài thứ năm trong loạt, bài thứ ba là bài này, viết như một phản ứng lại hiện tượng bỗng đâu xuất hiện một lúc lắm chuyên gia về Nabokov thế; giờ thì hiểu ra thêm: không phải bỗng dưng Nabokov xuất hiện, vì ngoài Nabokov thời Thanh Tâm Tuyền, thời này cần phải đọc Nabokov mới mong hiểu được một số nhà văn, ví dụ Nguyễn Huy Thiệp (đặt cục gạch :p))




Họ quá nghịch ngợm và ngỗ nghịch, họ viết quá nhiều và luôn luôn tạo cảm giác thật dễ dàng, thậm chí dễ dãi trong viết văn, họ lại lặn ngụp quá sâu và theo một lối quá sức tự nhiên vào cuộc đời; những điều ấy dường như đi ngược lại quan niệm thông thường vẫn coi nhà văn là những con người hoặc sống trên tháp ngà hoặc vô cùng chắt bóp, dè sẻn thiên tài sẵn có, người đời lại hay đồng lòng miêu tả những con người đó như những kẻ nhiều mộng tưởng, lắm sầu muộn, đau đớn cho cõi người, nếu không thì ít ra cũng phải hết sức tập trung vào bản thân mình, vân vân và vân vân.

Nhưng các nhà văn “thuộc một kiểu khác, một dạng khác” vẫn tồn tại, thường là một cách phong lưu vượt xa các hạng nhà văn khác, và giờ đây nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, với sự tái xuất hiện của một số tác giả kiểu ấy (trong những năm vừa rồi là Lê Văn Trương, Lan Khai, Ngọc Giao, Phạm Cao Củng, Sơn Vương…), đã hiện ra chân dung một số nhân vật vừa lạ lùng vừa “bình dân”, lạ lùng cả trong sự bình dân của họ, như một sự tồn tại lẽ ra phải dễ hiểu nhưng lại tương đối khó chấp nhận trong một môi trường tương đối nhiều ý tưởng chung lệch theo hướng khác và được chấp nhận rộng rãi.

Mấy nhà văn tương đối cùng thế hệ: Lê Văn Trương, Phạm Cao Củng và Ngọc Giao là những người như vậy. Về sự ngỗ nghịch của mình, bản thân Ngọc Giao từng viết trong một bản tự miêu tả: “một thằng như tôi, ham chơi, nghịch ngợm, hiếu để tâm, lễ độ tùy lúc, lại hay làm đỏm, hay vòi tiền đi xem chiếu bóng” (Đốt lò hương cũ, Phương Nam & NXB Văn học, 2012, tr. 31). Phạm Cao Củng thì khi còn rất trẻ ký tên “Phạm Thị Cả Mốc” trêu chọc Tú Mỡ lừng danh của báo Phong Hóa và Lê Văn Trương thì lưu lạc bất tận trước khi “vào làng văn, báo”.

Cả Lê Văn Trương lẫn Phạm Cao Củng đều thích “giỡn chơi” với cả cuộc đời lẫn văn chương đến nỗi từng sai “đồ đệ” và “đàn em” cùng tham gia công cuộc sáng tạo với mình, nói nôm na là thay vì tự viết sách thì họ “nhờ” người khác viết giùm cho những đoạn mà họ đánh giá là dễ viết, để có đủ số trang sách, kịp giao cho báo chí hay nhà xuất bản. Đã có thời Lê Văn Trương bị các nhà xuất bản từ chối bản thảo, phải nhờ đến Ngọc Giao do nhìn thấy tên bạn mà tuy biết trong đó có khối thứ viết cho xong, thậm chí còn là người khác viết nhưng vẫn ký duyệt để đưa Tân Dân Vũ Đình Long in. Sau này vào Sài Gòn rồi, Lê Văn Trương cũng bị tẩy chay, có lẽ một phần cũng bắt nguồn từ chuyện này. Nhưng từ một khía cạnh nhìn nhận khác, cũng nhờ có cách suy nghĩ đơn giản với văn chương như vậy mà Phạm Cao Củng lại giúp được báo chí và sách vở bán chạy, còn Lê Văn Trương suốt một thời gian dài có tiền “tụ họp Lương Sơn Bạc văn chương” tại nhà mình.

Điều thể hiện rõ nhất ở những nhà văn kiểu “giỡn chơi” như Lê Văn Trương và Phạm Cao Củng là họ rất hiểu độc giả muốn đọc gì. Họ thực sự hiểu, đến mức có thể bán được sách thông qua “hệ thống hàng xén”, điều mà chắc không một nhà văn nào thuộc “một kiểu khác, một dạng khác” với họ có thể làm được. Sự “hiểu cuộc đời” này, chẳng hạn ở Phạm Cao Củng, hoàn toàn khác xa và vượt trội hơn hẳn so với những cuộc đi thực tế, một cách thực hành sáng tác văn học rất thịnh hành sau này mà vô số nhà văn đã trải qua nhưng hầu như không để lại được nổi tác phẩm sáng giá nào thực sự bám vào cuộc đời.

Đọc những gì Ngọc Giao viết về Hà Nội, có thể dễ dàng thấy ông biết từng ngóc ngách của cuộc sống, quan tâm đến cả sân khấu, võ thuật, in ấn, cùng trăm nghìn thứ rất hay bị coi là vớ vẩn trong mắt không ít người. Phạm Cao Củng thì “như không” mà lập đoàn kịch diễn ở quê, tham gia hoạt động phản gián, tình báo, mở nhà in… Lê Văn Trương thì nổi tiếng là một cao thủ “gồng trà kha”. Đây là những con người biết cách xoay xở hoạt náo trong cả cuộc đời lẫn văn chương. Và những tác phẩm của họ, giờ đây để lại, rất nhiều đã được thời gian minh chứng giá trị, như loạt truyện trinh thám Kỳ Phát của Phạm Cao Củng, những tiểu thuyết Trường đời, Lòng mẹ, Người anh cả của Lê Văn Trương, những Đất, Cầu sương, Cô gái làng Sơn Hạ của Ngọc Giao.

Bản thân Ngọc Giao cũng có ý thức rõ rệt về “kiểu” của mình, trong Đốt lò hương cũ, ông nói đến “cái kiểu người Hà Nội”, mà ông mô tả: “Tôi tự cho mình có cái thói quen lẩm cẩm là cứ thích ra đường dưới những cơn mưa, cơn gió” (tr. 72). Những hứng mưa, hứng gió cuộc đời ấy phản ánh thái độ sống của những con người như vậy.

Họ không được nói đến nhiều, nhưng sự đồng thanh tương khí giữa họ hé lộ một cái tình rất đáng nói đến. Đây là Ngọc Giao viết về Lê Văn Trương: “Số lượng tác phẩm khổng lồ của Lê Văn Trương, trước khi in, tôi đều đọc bản thảo, thật tình, chưa hề bắt gặp một truyện nào thiếu đạo đức, vắng cái hào khí của con người đất Việt”. Điều này rất khác với nhiều đánh giá ta vẫn thấy không ít ở trong chuyên ngành văn học sử Việt Nam sau này. Mặc kệ người ta có thể nghĩ gì, những người thuộc “cùng một lứa bên trời lận đận” đó hiểu nhau và thực tình yêu quý nhau.

Vì nhiều lý do, suốt một thời những con người như thế này phải gánh chịu rất nhiều nghi kỵ. Những liên lụy do bút mực, những tai hại của đời văn chương chữ nghĩa, những hậu quả của “trường văn trận bút” nơi “tối hạ thị văn chương” thì được nhắc tới nhiều, nhưng là chủ yếu trên bình diện một số “án văn tự” được lựa chọn, những lừng danh kiểu “Nhân Văn-Giai Phẩm” hay “xét lại”, nhưng vẫn còn đó nhiều “vụ án” thuộc kiểu khác, thuộc dạng khác. Ngọc Giao từng “dính” những sự việc nhìn lại thì nhỏ bé nhưng phương hại không nhỏ đến cuộc đời ông, như vụ việc “Nam Cao trộm gà”. Cũng một thời, Lê Văn Trương gần như bị giới nghiên cứu, phê bình lờ đi, thảng hoặc có nhắc đến trong một chuyên luận về một đề tài rộng thì người ta cũng hay gài vào vài lời cảnh báo đến thứ văn chương nguy hại và mỉa mai “triết lý sức mạnh” (nhan đề một cuốn sách của Lê Văn Trương in ở nhà Hương Sơn vào năm 1941) của ông. Phạm Cao Củng thì mắc “tai nạn” theo một kiểu khác: đơn giản là ông gần như hoàn toàn bị lờ đi trong suốt một thời gian dài.

Nhưng mọi thứ qua đi rồi, ít nhất những con người ấy, bằng cách thức khiêm tốn của mình (họ có những hành động rất bất thường nhưng càng đọc càng thấy họ khiêm tốn, chừng mực), cho ta thấy rằng văn chương rộng lớn đến mức bao chứa được rất nhiều “kiểu khác” và “dạng khác” như vậy. Tuy thế, có cảm giác văn chương Việt Nam bề ngoài có vẻ mở rộng ra nhưng thực chất lại thu hẹp lại không ít, và thời nào qua là đã qua hẳn, đúng như một ngậm ngùi của Ngọc Giao: “nhưng thời ấy qua rồi” (Đốt lò hương cũ, tr. 148).

Feb 13, 2012

giễu với cả nhại

tôi thấy rất nực cười vì giới phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam rất hay chạy theo một số cái mốt, nhất là một số cách nói; một thời gian cứ nói đến thơ, để ca ngợi là người ta bảo "nhà thơ ấy thật vâm váp", rồi đến mấy đồng chí mở miệng là nói "tiểu tự sự" mặc dù chẳng hiểu "đại tự sự" là cái gì; nhưng tràn lan hơn cả là cụm từ "phong cách giễu nhãi", "lối viết giễu nhại" etc., đặc biệt tập trung ở các bài viết về văn chương Nguyễn Huy Thiệp; nhưng cái "phong cách giễu nhại" này thật ra lại rất thường xuyên là để chỉ "giọng văn mỉa mai/châm chọc" etc. trong khi muốn nói đến nhại và giễu thì nhất định phải chỉ ra được là nhại cái gì, giễu cái gì


Ở độ thứ hai

Các nhà văn (và cả các chuyên gia tâm linh) nằng nặc bắt chúng ta tin rằng thế giới nơi chúng ta đang sống không hoàn toàn là “cái thế giới ấy”, tức là biết về thế giới xung quanh mình là chưa hoàn toàn đủ cho nhận thức. Trong tiểu thuyếtKafka bên bờ biển”, nhà văn Haruki Murakami danh tiếng của nước Nhật cả quyết miêu tả một cánh cửa mở ra thế giới khác, nối dài danh mục tác phẩm văn học khẳng định tồn tại một thế giới song song với thế giới của chúng ta, còn các nhà phân tâm học thì không tin con người hiểu được gì nếu chỉ biết đến phần hữu thức mà bỏ bẵng đi những tầng sâu của vô thức, và các biểu hiện bên ngoài thực chất là được (hoặc bị) thúc đẩy từ mãi bên trong, từ mãi nơi nào đó không thuộc về trí óc, suy nghĩ. Hay nói một cách khác, cuộc đời chúng ta nằm ở một “độ thứ hai” nào đó, chứ không phải “nguyên gốc”, chỉ là một phản chiếu của những gì vô hình nằm đâu đó, có một nguyên mẫu cho tất cả những gì đang tồn tại, và thật ra mọi thứ đều là “tái hiện” cái có sẵn.

Feb 2, 2012

Malaparte, Thượng đế etc.

Đây Malaparte:


Trên là Thượng đế đã chết trong thành phố, bản dịch Nguyễn Quốc Trụ, không còn bìa nhưng trông vẫn Vàng Son lắm :p

Dưới là Mặt trời mù, một tiểu thuyết khác của Malaparte, bên cạnh là nguyên bản tiếng Ý.

Nhân Mr. Tin Văn nhắc tới Dieu est né en exil (Thượng đế sinh ra nơi lưu đày) của Horia, nhớ ra tôi từng nói đến nó, search mãi thì ra cái này, viết ngày 29 tháng Năm 2007. Kỳ quặc là đoạn này được viết nhân nói đến Màn của Kundera :p



Tại sao Le Rideau là một cuốn sách không tốt? Là bởi vì so với Kundera nhà viết tiểu luận (Kundera l’essayiste: đề phòng các nhà văn viết tiểu luận nhé. Đặc biệt là giọng điệu áp đặt. Tất nhiên là họ có quyền. Quyền của tài năng, phủ nhận làm sao được. Các trường hợp thuộc dạng này: Nabokov, Calvino, Nguyễn Huy Thiệp) của trước đây Kundera của Le Rideau khác lắm rồi. Nó phản ánh rất chính xác cái vị thế mà một nhà văn không được vinh hạnh chết trẻ nhưng nổi danh từ rất trẻ phải lâm vào (cứ nghĩ Vũ Trọng Phụng 28 tuổi đã kịp làm cả việc rất khó là chết!): đến cuối đời ông ta trở thành một kiểu bù nhìn cho những vinh quang trước đó giật dây. Kundera về cơ bản là không có gì thay đổi trong suốt cả đời (đời này là cái đời tính từ sau khi chàng kịp trốn được thoát khỏi cái danh hiệu nhà thơ ca ngợi Stalin. Bọn phê bình Pháp đểu lắm: khi không chịu đựng nổi mấy cái nhân vật từ xa đến cứ tưởng là chễm chệ ở đó một thời gian ngắn thôi thì hóa ra là cứ đàng hoàng tiên chỉ suốt mãi, chúng nó sẽ chơi thôi. Mới gần đây là hồ sơ chơi gọn cả ba đồng chí Rumani: Cioran, Ioncesco và Eliade, tất tật đều dính dáng đến Đoàn thanh niên Quốc xã ngày xưa. Trong những gì liên quan đến Kundera cũng thế: một luận án tiến sĩ làm ở Thụy Sỹ của Martin Rizek xuất bản mấy năm trước đã lôi tuốt tuột những thứ bị chàng giấu kín tưởng mất tăm mất tích. Hehe, bây giờ mà lục ra được những bài thơ ngày xưa Phạm Thị Hoài viết trong công cuộc chịu sự đào tạo để trở thành Trần Đăng Khoa thứ hai nhể. Những người may mắn không rơi vào trường hợp đó đều là những người có thời gian sống không lâu ở chốn phồn hoa đô hội không thể nào không nhắc đến đó (reference: Hemingway: Paris est une fête. Quel con de fêtard!) Đó là những ai: Tourgueniev, Witord Gombrowicz (đồng chí này sau Ba Lan sống một thời gian dài ở Buenos Aires rồi cuối đời mới sang Paris. Bao giờ Paris cũng cần mấy gương mặt rợ di man mọi cho nó nổi bật. Vua Đồng Khánh như một con khỉ nhé, công chúa Brancovan từ xứ Lỗ Ma Ni nhé. Milosz nhà thơ may mà không sang ở hẳn đó, chứ còn ông anh của đồng chí, cũng nhà thơ – Oskar thì phải – đời có ra gì đâu. Chính Gombrowicz một thời là khuôn mặt Trung Âu nổi bật nhất của Paris, sau khi đã tàn lụi những Kournofski, Maiakovski vân vân và vân vân. Một dạng đại sứ thiện chí/văn hóa của khối các nước láng giềng nhưng xa xa. Khi Kundera lừa lừa chạy khỏi Tiệp mang tiếng sang Rennes dạy học rồi ở lại luôn thì người ta vẫn thích, vì có một người thay thế Gombrowicz. Nhưng thay thì thay cho nó nhanh nhanh chóng chóng, ngờ đâu chàng ở lại luôn một mạch kể từ năm 1981 cho đến giờ, nghĩa là 26 năm phéng nó rồi, thời gian đúng là như bóng câu, không những thế còn lăng nhăng cả lên mấy cái tạp chí như L’Atelier du roman, kết bè kéo cánh đủ mọi loại, và không những thế còn định vươn lên làm nhà văn lớn của tiếng Pháp. Thành ra ba quyển tiểu thuyết gần đây nhất, La Lenteur, L’IdentitéL’Ignorance giới phê bình Pháp mang ra bổ cho một trận, quy cho cái tội dốt tiếng Pháp. Mà thật ra tiếng Pháp của Kundera đâu có tồi. Mặc dù nói thì kinh khủng, không thể hiểu đồng chí nói gì, giống kiểu mấy anh dân tộc Tà Lù trên miền núi nói người Kinh chúng ta hiểu làm sao cho nổi bây giờ. Nói đi cũng phải nói lại: mấy quyển đó Kundera khôn kinh, viết toàn câu đơn, mỗi câu như một mệnh đề, từ vựng quanh quẩn, nói chung là giống như trẻ con học sắp xong Abitur viết, nhưng có một cái trí tưởng tượng và lập luận của một ông già. Cũng chính vì hiện tượng kiểu đó một phần nên mới có sự di chuyển tích cực của ba nhân vật kiệt xuất nhất: James Joyce, Elias Canetti và Wladimir Nabokov). Vị thế của Kundera giống như là lưng dựa vào chân tường: nói đi nói lại những điều đã cũ để đỡ mang tiếng nhà văn nhớn mà không mở nổi miệng. Lại còn phải tích cực theo dõi tình hình tendency xem cái gì trendy thì theo ngay. Mà theo không phải lối nghiên cứu tích cực tìm tòi ý tưởng mới mẻ lần tìm về tận nguồn mà cứ búa bổ nói như phán bảo, như rút từ một quyển từ điển bách khoa toàn thư tầm vũ trụ ra. Thời gian ngay trước khi Le Rideau ra đời ở Pháp đang có phong trào theo lối sách của Pascale Casanova, La République mondiale des Lettres, các khoa văn học so sánh Sorbonne đang tìm đến một tầm khái quát hóa cao độ, văn chương thế giới etc. Thế nên có Weltliteratur. Goethe lại được phục sinh. Phía sau bức tường của các nghiên cứu hàn lâm người ta bắt đầu sờ đến các vấn đề như là bắt đầu và kết thúc của văn bản, của tác phẩm, và của văn chương. Thế nên Rimbaud ngóc đầu dậy. Thế là chàng cũng… Vấn đề là những cái kia mấy ai biết, còn Kundera đã viết thì nhiều người đọc. Một mẻ lưới chàng lười của chúng ta quơ được không biết bao nhiêu cá. Kundera là một người đầy chiến lược. Phải theo dõi từng bước cuộc đời của đồng chí mới có thể thấy được. Dĩ nhiên là Kundera đầy tài năng, đầy năng lực, và đầy sự tò mò trí thức. Nhưng nhiều cái chàng có được là nhờ tính toán chính xác. Kundera đang ở chỗ đó: một nhà văn già trở nên bảo thủ và hay nói lại những gì đã nói, nhưng vẫn cố gắng tạo ra một thứ mà anh giai ác khẩu Frédéric Badré (chính ra tôi rất quý đồng chí này) gọi là “chủ nghĩa phản chính thống thời thượng” (trong bản dịch tiếng Việt dịch ra một cách hết sức nhố nhăng là “chủ nghĩa theo thời phái sinh” hốc hốc). Một trong những quyển gần đây nhất tôi có xem qua, Les Revenances de l’histoire của Hamel (mấy đồng chí chuyên nghiệp chú ý: đây là quyển sách chứng minh một cách hết sức chặt chẽ rằng các thứ lý thuyết rất hot cho đến tận bây giờ, và sẽ còn hot ở Việt Nam trong thời gian tới, cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta bẽ bàng nhận ra là mình lại chậm chân mất rồi, đã xong rồi, và cũng đã kịp sai rồi. Tất nhiên sai đúng cần phải hiểu đừng chân phương quá. Các thứ tiểu tự sự bây giờ không còn ở trung tâm nữa, nó quay trở về chỗ vốn có của nó: bên lề. Và tiếp tục rình rình đến lúc nào đó sự buồn chán của người ta lên đến cao độ thì lại nhảy vào. Nhìn chung mọi thứ sẽ cứ như thế thôi. Cái giỏi của người theo dõi là biết được lúc nào là lúc nào. Yes. Còn không thì đến giờ vẫn cứ xưng tụng Bakhtine là thánh nhân. Tôi chả có gì nghi ngờ sự hâm mộ thực sự một số người đặt vào một số chỗ, và ý nghĩa dài lâu của một số học thuyết, nhưng hâm mộ thì cũng phải biết được thực sự là chúng nó đang ở đâu) nói đến một ý thế này: người nào cũng ra sức phát ra những diễn ngôn theo kiểu tôi ở ngoài lề tôi hẻo lánh lắm… Vấn đề này cần suy nghĩ thêm, giờ chỉ làm reference thế thôi.

Tại sao Le Rideau là không tốt (sẽ còn quay trở lại sâu hơn để đi vào văn bản một cách chính danh. Bây giờ lười đứng lên lấy sách trên giá quá. Thật ra là không rõ nó nằm ở đâu nữa. Sách này tôi đọc vài ngày sau khi in. Sau này còn nhìn thấy một quyển có chữ ký tặng của đồng chí Kundera. Ghét nhất là cái thói huyền thoại hóa vô thức thể hiện qua lối gọi tên: Kun, Che…)

Giờ thì chỉ tạm thời thế này thôi. Thêm bonus một cái cuối cùng: trước đây người ta quý Kundera còn ở chỗ đồng chí khai quật mấy Broch, Musil (Kafka thì khỏi kể, trong những năm 50, trước khi Kundera kịp nhớn để thoát khỏi cái bóng của Stalin, Alexandre Vialatte đã có những bản dịch kinh điển, và sau đó Marthe Robert, rồi Roland Barthes đã kịp chiêu tuyết nặng đô cho Kafka rồi). Tôi còn bị lừa, đâm đầu đọc Les Somnambules của Broch, chán suýt ngất. Chính ra cái hay chắc phải là La Mort de Virgile. Đến đây lại là chiều ngược lại của sự dịch chuyển các nhân vật kiệt xuất của Đông và Trung Âu sang Tây Âu (nhớ lại chi tiết “xuất khẩu các nhà thơ trữ tình” từ Tiệp ra nước ngoài nhé): các đồng chí ở các chốn hẻo lánh (có ai biết quê của Cioran, Sibiu, là nằm ở đâu không?) rất hay quan tâm đến các ông lớn ở các chốn trung tâm: ngoài Broch viết La Mort de Virgile như vừa nói còn có Horia, một Lỗ Ma Ni nhân, viết Le dieu est né en exile về đời Horace (đồng chí đại thi sĩ này bị hoàng đế nào đày đi ấy nhỉ, Claude à?) Hoặc gần đây là Hồ Anh Thái với cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi (sẽ có entry riêng về cái vụ vui vẻ này).

-----------
Tôi vẫn muốn có quyển này, vẫn chờ được tặng hehe.

Bonus:



Jun 12, 2011

đời bọn khác

Nguyễn Huy Thiệp viết: "Sống dễ lắm", nhưng thật ra là ông ấy nói mỉa đấy :p sống chả dễ chút nào; vì quanh đời ta còn có đời bọn khác, và khi đặt câu hỏi "ta đã làm chi đời ta" thì bọn khác cũng đặt câu hỏi ấy, rồi đâm ra mọi thứ rối tinh rối mù lên

nhưng chuyện văn chương cũng không phải lúc nào cũng hư cấu, kể cả truyện Kim Dung; những vụ như Kiều Phong vì không ngó gì đến Mã phu nhân phó bang chủ Cái Bang mà mang họa, thật ra nhan nhản chứ không ít; vì quanh ta còn có bọn khác, ngó ngàng cũng chết, mà không ngó ngàng cũng chết; có những điều (câu này tương truyền cũng của Nguyễn Huy Thiệp) đúng, rất đúng, nhưng "đúng một cách khốn nạn"

đời tôi cũng có những lúc lông bông lang bang (thật ra lúc nào cũng lông bông lang bang hehe), từng có lúc nghĩ hay là thành béng đạo diễn điện ảnh, làm những bộ phim theo kiểu Ingmar Bergman, dạng như Cris et chuchotements hay Scènes de vie conjugale, tôi sẽ viết một kịch bản dạng như đồng chí vợ phạm một lầm lỗi nho nhỏ nào đó từ xa xưa rồi muốn gỡ gạc, cùng lúc đồng chí chồng cũng vừa có một hành động đần độn không lớn lắm (những điều không lớn mới kinh, lớn quá thì lại chả sao, như kiểu too big to die); vừa hay những lầm lỗi xờ tu pít này cùng liên quan đến một đối tượng, thế là bỗng trong thoáng chốc họ trở thành đồng chí, bao nhiêu shit sẵn có bỗng tiêu biến trước một đống shit mới, công cuộc bới shit bận rộn làm họ quên đi điều mình làm và lờ đi điều partner của mình làm; cái này người ta gọi là shit mới đuổi shit cũ ra khỏi đời sống, như định luật Gresham lừng danh, "tiền cũ đuổi tiền mới khỏi lưu thông"

trong quyển Bản đồ và vùng đất của Michel Houellebecq, có nhân vật nói một câu đại ý thế giới đã tầm thường lắm rồi, thêm một cái việc đó (một vụ án mạng) thì nó lại tầm thường thêm chút nữa; trong một bối cảnh đầy shit, thêm một lượng shit nữa thì shit vẫn cứ là shit, mà lại còn nhiều lên :p chính vì thế cho nên những lúc chả may thấy có shit thì tôi cố mà nín thở; nhưng mà công nhận nhiều shit hehe, biết nhiều đến khổ

tôi không hiểu sao đến tuổi này rồi :p mà nhiều người vẫn không hiểu mấy điều cơ bản, chẳng hạn: cuộc đời về cơ bản ít thứ vui lắm, và, thứ hai, đời ai cũng đầy shit; bới shit của bọn khác mà tưởng như làm đỡ đi mùi shit của mình cũng là một lựa chọn thôi, nhưng đã shit thì vẫn cứ là shit, chả thể nào khác được

Aug 1, 2009

Suite

+ "Ta mới có thêm một Nguyễn Huy Thiệp. Vừa đọc xong một cái 29 trang của ông ấy tên là "Giọt máu" do Nguyễn Khải đưa, bảo đọc. Nhìn bản thảo đánh máy, lại nhìn cách chữa một vài chữ trong bản thảo rồi đọc. Chợt nghĩ: Người cầm bút này trọng chữ. Một nong thóc không to nhưng hột nào ra hột nấy, thường hột nào cũng chắc. Lại nghĩ: Người cầm bút mới xuất hiện này đã làm chú mục thiên hạ vì có một giọng điệu văn. Tôi không muốn bình phẩm sâu vào giọng điệu văn của Nguyễn Huy Thiệp (tôi có nghe Khải bàn và có góp bàn nhưng thôi, không nên cướp việc các nhà phê bình) mà chỉ muốn nói rằng: Cái nghề này, xét cho cùng nó có cái gì na ná công việc người làm hương. Cả một đời toát mồ hôi giã giã, nghiền nghiền, lại chẻ tre, phơi sương nhuộm sương, quần quật, vất vả thế mà rồi cuối cùng chỉ để nhằm mục đích thu hoạch lấy một chút mùi hương tan vào trong không khí. Mà rồi cả người mua cũng thế, cầm đồng tiền đi mua một cái gì vô hình. Vì là vô hình cho nên nó tinh vi. Có người suốt đời chỉ mua hương của một nhà hàng. Cũng như có những nhà văn người đời chỉ đọc thấy tên đã cầm lấy đọc, bất kể viết về cái gì, thể loại gì, dù đó chỉ là một bài báo.

Giọng điệu văn cũng chẳng phải là tất cả nhưng nó lại là cái ánh phản chiếu của tất cả, nó vừa là cái hiện ra bề ngoài, hiện ra một cách thường xuyên, vừa là cái kết tinh lại của tất cả mọi yếu tố làm nên một cái thể nhà văn, từ quan niệm, triết lý đến trình độ học vấn, thể trạng cơ thể, cho đến cái quan trọng nhất là tài năng."

(Di cảo Nguyễn Minh Châu, NXB Hà Nội 2009, tr. 393-394)

+ Hôm trước viết linh tinh về các bài hát Pháp, viết một lúc thì quên phéng mục đích ban đầu là giới thiệu một ban nhạc mà tôi mới biết.

Hồi ấy hỏi Manolito, à quên Marcelino :) (là người vẽ cái tranh trên bìa quyển Lần đầu tiên - của ai đố các bác :) là có gì gần đây đáng nghe không. Sau một thời gian, giờ cũng không nhớ bằng con đường lắt léo nào nữa, Marcelino gửi cho tôi đĩa nhạc Chevrotine của Holden. Quả thực là nhạc hay, nhất là bài này ("Madrid"), nghe không khác gì ma túy, như là nghe Lou Reed (ý tôi là cảm giác như ma túy chứ không định so sánh gì).

Serge Gainsbourg không phải là một người dễ nghe, thành thử nếu muốn tìm hiểu các bác nên nghe những bài hấp dẫn một chút, theo tôi có thể là bài này.