Showing posts with label milan-kundera. Show all posts
Showing posts with label milan-kundera. Show all posts

Jan 5, 2021

về khó

đã nhiều lần nói đến dễ (nhất là ởkia, và cũng xem ởkia), giờ ta đến với khó


George Steiner qua đời (cách đây gần tròn một năm) cũng đồng nghĩa với việc một trong hai nhân vật lớn cuối cùng trong số những người sinh năm 1929 đã ra đi: thế kỷ 20 của họ kết thúc cùng những cá nhân lớn lao nhất của nó.

Jun 28, 2019

Witold Gombrowicz

Tiếp tục câu chuyện Gombrowicz - nhà văn Ba Lan lớn nhất của thế kỷ 20: đã thực sự bắt đầu bản dịch Ferdydurke; nhân tiện, cũng tiếp tục luôn kỳ thứ nhất về năm 1969, về B. Traven.

Ferdydurke là tác phẩm thời trẻ của Gombrowicz. Cuốn tiểu thuyết gây ra không biết bao nhiêu ồn ào, chối bỏ, lên án, chỉ trích, và cũng thuộc vào những gì văn chương từng tạo ra khiến người ta hiểu nhầm nhiều hơn cả.

Jun 12, 2019

Pasenow-Esch-Huguenau

Tuy tên như vậy ("Pasenow-Esch-Huguenau") nhưng đây chính là kỳ thứ hai của "Trong lúc đọc Hermann Broch" (nhân tiện, cũng tiếp tục luôn kỳ 1; cũng đã tiếp tục "Thể động và hành động"). Và đây cũng là lần đầu tiên có một bộ ba không phải người thật mà là các nhân vật tiểu thuyết.

May 30, 2019

Trong lúc đọc Hermann Broch (1)

đấy, cuối cùng đã tưởng mục "trong lúc đọc" sẽ tiếp tục với Sainte-Beuve, hóa ra vẫn chưa

quay trở lại với Joseph Roth gần đây đã làm cho tôi thấy là không thể không thực hiện điều tương tự với Hermann Broch: văn chương tiếng Đức của những người bên lề vĩ đại như thế nói về thế giới của cách đây đúng một thế kỷ - cái thế giới ấy vẫn tiếp diễn

Jun 24, 2018

de Bragelonne

Madame Bovary bản dịch Trọng Đức (cả bản dịch Bạch Năng Thi, nhưng tôi sẽ nhấn mạnh vào bản dịch Trọng Đức Đỗ Đức Dục) là một trong mấy cái tôi hay dùng để xem khả năng đọc. Nó thuộc vào những gì hữu hiệu nhất: giới nghiên cứu văn học Pháp rất nhiều lần phân tích nó, từ đủ mọi hướng - không bản dịch nào có vị thế lớn hơn Bà Bôvary, không bản dịch riêng biệt nào được hưởng nhiều ưu tiên như thế. Và chính ở đây, sự sụp đổ của nghiên cứu văn học nước ngoài tại Việt Nam (thể hiện ở biểu hiện cao nhất của nó) hiện ra lồ lộ, bởi vì không một ai chỉ ra nổi điều hiển nhiên: Trọng Đức (và cả Bạch Năng Thi) không hề là độc giả của Flaubert.

Apr 3, 2018

Isaac Bashevis Singer

píp

(về hồi ký của Singer: xem ở kia; và cũng cần cẩn thận kẻo nhầm sang "Singer" khác, hoặc cũng có thể nhầm sang đủ loại ca sĩ)


Dec 9, 2017

McDonald's ở Bờ Hồ Hà Nội

Một điều gì đó rất ngu xuẩn chợt chạy qua óc tôi,  nói rằng: Có một điều gì đó rất ngu, nhưng xét cho cùng lại không thực sự ngu. Tôi không hoàn toàn hiểu được, ít nhất là không hiểu được ngay. Quá nhanh, và cũng quá mơ hồ. Điều gì nhỉ? xét cho cùng cũng không có gì: một góc phố (Hàng Bài cắt với Hàng Khay, tức là cuối phố Tràng Tiền, tức là Paul Bert: Bert là một toàn quyền Đông Dương xưa kia, xưa kia của một quãng "Đông Dương thuở ấy"), mấy thanh gỗ thưa ghép lại bằng mấy thanh gỗ đặt theo chiều dọc, trên đó có dòng chữ "MCDONALD'S" và hình hai đường cong màu vàng (giống viền mắt con vịt Donald, rất có thể, nhưng cũng không hoàn toàn). Ở Trung Quốc, đó là "Jin Gong Men"; từng có thời điểm McDonald's ở sát sạt Thiên An Môn gây ra rất lắm chuyện; một bản tin gần đây cho thấy, đã có 2.500 quán McDonald's ở Trung Quốc, và theo dự định, từ nay đến 2022, mỗi năm sẽ có thêm 500 quán mới.

Vậy là quán cà phê Ciao đã xóa sổ: quán cà phê dường như đã làm nên chủ đề cho một bài hát thuộc thể loại pop trước đây. Ciao nhường chỗ cho McDonald's, ở đúng đối diện (xiên chéo qua một ngã tư đặc biệt tấp nập) với nơi đặt những câu khẩu hiệu đặc trưng nhất cho Hà Nội một thời. Nhìn toàn thể, không có gì đáng nói. Nhưng không, đã có một cái gì đó được hoàn thành. Một cái gì đó hoàn thành, đủ một biểu nghĩa rất lớn - ít ra là không nhỏ: cuối phố Tràng Tiền là McDonald's, còn đầu phố Tràng Tiền? Dĩ nhiên là Nhà Hát lớn Hà Nội.

Feb 27, 2017

Trở về cổ điển: Balzac - Vở kịch con người

Tôi không hoàn toàn thấy cái tên chung bộ tác phẩm của Balzac, La Comédie humaine, được dịch sang tiếng Việt thành Tấn trò đời thì có gì đáng chê trách, cho tới lúc đọc lại và đọc thật kỹ tác phẩm của Dante Alighieri (xem ở kia); đặc biệt, trong đường link ấy có một cái comment nhắc ngay tới La Comédie humaine, nó đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều trong cái lần tôi đọc lại và đọc thêm những gì của La Comédie humaine mà trước đây tôi còn chưa đọc. Những năm thời niên thiếu của tôi, Balzac là tác giả "thôi miên" tôi (có phải là ngẫu nhiên không, khi sự thôi miên đã được Balzac trình bày một cách sâu sắc và thiên tài trong phần thứ nhất cuốn tiểu thuyết Ursule Mirouët?) Văn chương của Balzac thực sự có thể thôi miên; ngày ấy, tôi đọc đến cả Nông dân (Les Paysans), tác phẩm chưa hoàn thành, và tôi thú nhận đã thấy nó cực kỳ buồn ngủ. Nhưng Vỡ mộng (Illusions perdues), Bước thăng trầm của kỹ nữ (Splendeurs et misères des courtisanes) hay Miếng da lừa (Peau de chagrin), Eugénie Grandet thì không chút nào; ngày ấy, đọc xong Bette, vì không biết cuốn tiểu thuyết đi cặp đôi với nó tạo thành "Les parents pauvres" tức là "Họ hàng nghèo", Pons, cũng đã có bản dịch tiếng Việt, tôi đã lao vào bản tiếng Pháp của Pons với một sự háo hức trộn lẫn rất nhiều hoảng sợ.

Dec 4, 2016

Maldoror: I, 9

Khi gặp Milan Kundera hồi năm ngoái, tôi nhận ra ông già chín mươi tuổi gầy guộc cao lớn lưng hơi còng không một chút râu ria, vận toàn đồ đen, ánh mắt và nụ cười rất Trung Âu kia, xuống tận chân cầu thang để đón tôi, quan trọng đối với tôi đến như thế nào. Về đọc, về viết, về văn chương, về sự sắp xếp giá trị (Musil, Broch, Roth, Kafka, Gombrowicz, và cả Rabelais), về đọc thì phải như thế nào, viết thì phải ra sao, văn chương nghĩa là gì, nhưng là còn cả một điều nữa: về việc quê hương đích thực có thể nằm ở đâu.

Nov 30, 2016

Thơ: Paul Celan

Cái sự đọc được thơ, như mới nói gần đây, không hề là một sự đương nhiên, ít nhất là đối với tôi. Không phải cứ biết chữ là đọc được, không phải đọc được là có thể đọc được mọi thứ, và cũng thế, không phải đọc được văn chương, thậm chí triết học, nghĩa là đọc được thơ. Thơ, ở phương diện đọc, thuộc một nơi nào đó rất khó dò.

Oct 14, 2016

Sức mạnh của sự vắng

Cách đây chừng năm, sáu năm, Linda Lê đọc tại vài thành phố Việt Nam một bài tiểu luận, "Étranges Étrangers". Khi ấy, bản dịch Lại chơi với lửa của anh Nguyễn Khánh Long (nay đã qua đời) mới xuất bản, một thời gian sau bản dịch Vu khống cũng của Nguyễn Khánh Long. Trong sự viết của Linda Lê, các tiểu luận không kém quan trọng so với tiểu thuyết và truyện ngắn; ngày ấy, tôi ngồi trong số thính giả của buổi nói chuyện tại Hà Nội, phải có mặt ở đó mới thực sự cảm nhận được sức mạnh của ngôn từ do Linda Lê tạo ra. Lần đó, chỉ nghe bài tiểu luận đối với tôi đã là đủ rồi, nên suốt đợt Linda Lê ở Việt Nam, tôi không hề gặp.

Dưới đây là một tiểu luận khác của Linda Lê, sẽ in trong một tập sách tương lai.


Sức mạnh của sự vắng
(“Tôi viết cho bạn từ một đất nước xa xôi”)
Linda Lê

Jul 28, 2016

Tabucchi về Pessoa

Antonio Tabucchi là nhân vật tạo ra một văn chương tương đối tầm thường, nhưng sự tầm thường ấy ở Tabucchi, rất kỳ lạ, tan biến hoàn toàn những khi nào Tabucchi bàn đến Pessoa

dẫu cũng rất dị ứng với các hình ảnh, ở trường hợp Tabucchi-Pessoa tôi thấy cần miêu tả một hình ảnh theo tôi là thích ứng, ít nhất là trên một bình diện không nhỏ

Feb 9, 2016

Kundera và tôi

Giờ đây, khi Kundera đã quen thuộc, thậm chí quá quen thuộc ở đây (trong cuộc phổ biến hơi có chút tràn lan ấy, tất nhiên có phần đóng góp của tôi, một phần đóng góp không đáng kể), một vài điều nên được nói.

Nov 11, 2015

Hai người Ba Lan

Ngày 11 tháng Mười một năm 1918, vào đúng 11 giờ sáng, một cách biểu tượng, Thế chiến thứ nhất đã kết thúc: Đình chiến (armistice) được ký kết; ngày nay, 11/11 là Ngày Tưởng niệm của châu Âu, một ngày lễ lớn. Trong khu rừng Compiègne không xa Paris năm ấy, trên một toa tàu, mọi sự đã được giải quyết. Nhân vật chính là Thống chế Foch của nước Pháp, được đặt tên cho một đại lộ lớn ở khu Trocadéro, Paris. Nhưng người ta còn chưa biết, đây mới chỉ là màn dạo đầu cho sự suy sụp còn lớn hơn nhiều, ở một tầm vóc không thể tưởng tượng nổi, của cả một thế giới.

Oct 21, 2015

Rất nhiều thơ, quá nhiều thơ

Có thể có một thái độ nào đối với thơ, ở trong hoàn cảnh Việt Nam?

Kể từ ngày nhận ra là cần phải khinh bỉ thơ, cần phải nuôi dưỡng một niềm khinh bỉ đích thực về phía thơ, tuyệt giao với niềm hứng khởi ca hát nhảy múa của thơ, tôi mới bắt đầu thấy rõ thơ hơn. Ví dụ, Xuân Diệu không thể so nổi với Huy Cận. Có một cuốn sách rất nổi tiếng về Thơ Mới, nói đến các đỉnh cao của Thơ Mới, trong đó Xuân Diệu đứng đầu. Nhưng không thể coi Xuân Diệu là một nhà thơ rất lớn được.

Jul 15, 2015

Cioran và tôi

Borges, khi bình luận Kafka, đã nói một điều lóe chớp về các precursor, các tiền thân: Kafka tự chọn lấy các precursor của mình (tức là tưởng tượng ra chiều thời gian đảo ngược hẳn lại). Khó có thể nói hay hơn Borges ở lĩnh vực này. Thế nhưng vẫn có người nói còn hay hơn, ít nhất là không kém: Cioran bảo rằng viết không phải là để làm kinh thiên động địa người cùng thời hay hậu thế, mà viết là làm sao để các precursor của ta phải đỏ mặt xấu hổ.

Jul 3, 2015

Một lời biện hộ cho Milan Kundera

Thấy các trí thức Việt Nam bỗng rộ lên nói chuyện Milan Kundera, tôi muốn hỏi các vị một câu nghe thì như hỏi đểu, nhưng rất thành thực: các vị đã đọc cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông ấy, La Fête de l'Insignifiance, chưa? Chẳng cần câu trả lời thì tôi cũng biết thừa: gần như chưa ai đọc hết, vì La Fête đã in một thời gian rồi, có ai nói gì đâu, giờ vì có bản dịch tiếng Anh, báo chí Anh-Mỹ rộn lên, nên các vị hùa vào ùa ạt thôi.

Jun 20, 2013

Cái ác


Một vài nhà phê bình văn học, không hiểu vì lý do gì, có thể chẳng vì lý do gì hoặc do nội tâm thiếu thốn tình yêu, lâu nay cứ duyên dáng kiên nhẫn và nhảm nhí nhắc đi nhắc lại rằng văn chương không có tình yêu là văn chương vứt đi. Nhiều nhà phê bình khác thì bảo văn chương không có tư tưởng lớn là văn chương thời vụ, chẳng đáng tính đến. Lại có cả một lý thuyết rất nghiêm chỉnh chứng minh văn chương có thể không cần câu chuyện nhưng nhất định tác giả phải miêu tả, không miêu tả cái này thì miêu tả cái khác.

Tức là, dường như mọi thứ đang minh họa một cách phong phú cho lời nhận xét rất nhiều độc địa của Milan Kundera, đại khái theo đó nghệ thuật thì có thể chết, nhưng những làm xàm về nghệ thuật thì lại bất tử.

Apr 14, 2013

Âm nhạc


Năm 16 tuổi, tôi đinh ninh sau này mình chỉ có thể trở thành một nhà thơ. Một Xuân Diệu mới của thi ca Việt Nam. Sang đến năm 17 tuổi, tôi bỏ nốt một niềm đam mê lâu dài nữa: âm nhạc, quyết định chỉ vài ngày trước hạn nộp đơn thi vào Nhạc viện.

Quyết định đầy đau đớn ấy - chấp nhận mình sẽ không bao giờ trở thành một nhạc sĩ, thậm chí một nhạc công solist - đã khiến tôi nuôi dưỡng thật lâu dài một cảm giác rất khó tả với âm nhạc, cái cảm giác cho đến giờ vẫn còn sống động ở đâu đó góc tối tăm nào của tâm hồn. Tôi đặc biệt đồng cảm với Milan Kundera chủ yếu vì lẽ này: một thái độ vô cùng phức tạp đối với một thứ lẽ ra đã trở thành sự nghiệp chính yếu của cuộc đời nhưng đã không như vậy, tôi cũng rất hiểu những khi nhà văn Tiệp viết tiếng Pháp “lên cơn” mà châm biếm hay sổ toẹt những thứ âm nhạc giống như tiếng ồn láo lếu; xét cho cùng, con người ta không thoát được một thứ được gọi rất hay là “boutade”, sự hờn dỗi nội tâm nhiều khi rất dai dẳng. Mà lại không thể đổ lỗi cho ai, càng không thể tự đổ lỗi cho chính mình. Chúng ta vô can với những gì không xảy ra cơ mà.

Feb 2, 2012

Malaparte, Thượng đế etc.

Đây Malaparte:


Trên là Thượng đế đã chết trong thành phố, bản dịch Nguyễn Quốc Trụ, không còn bìa nhưng trông vẫn Vàng Son lắm :p

Dưới là Mặt trời mù, một tiểu thuyết khác của Malaparte, bên cạnh là nguyên bản tiếng Ý.

Nhân Mr. Tin Văn nhắc tới Dieu est né en exil (Thượng đế sinh ra nơi lưu đày) của Horia, nhớ ra tôi từng nói đến nó, search mãi thì ra cái này, viết ngày 29 tháng Năm 2007. Kỳ quặc là đoạn này được viết nhân nói đến Màn của Kundera :p



Tại sao Le Rideau là một cuốn sách không tốt? Là bởi vì so với Kundera nhà viết tiểu luận (Kundera l’essayiste: đề phòng các nhà văn viết tiểu luận nhé. Đặc biệt là giọng điệu áp đặt. Tất nhiên là họ có quyền. Quyền của tài năng, phủ nhận làm sao được. Các trường hợp thuộc dạng này: Nabokov, Calvino, Nguyễn Huy Thiệp) của trước đây Kundera của Le Rideau khác lắm rồi. Nó phản ánh rất chính xác cái vị thế mà một nhà văn không được vinh hạnh chết trẻ nhưng nổi danh từ rất trẻ phải lâm vào (cứ nghĩ Vũ Trọng Phụng 28 tuổi đã kịp làm cả việc rất khó là chết!): đến cuối đời ông ta trở thành một kiểu bù nhìn cho những vinh quang trước đó giật dây. Kundera về cơ bản là không có gì thay đổi trong suốt cả đời (đời này là cái đời tính từ sau khi chàng kịp trốn được thoát khỏi cái danh hiệu nhà thơ ca ngợi Stalin. Bọn phê bình Pháp đểu lắm: khi không chịu đựng nổi mấy cái nhân vật từ xa đến cứ tưởng là chễm chệ ở đó một thời gian ngắn thôi thì hóa ra là cứ đàng hoàng tiên chỉ suốt mãi, chúng nó sẽ chơi thôi. Mới gần đây là hồ sơ chơi gọn cả ba đồng chí Rumani: Cioran, Ioncesco và Eliade, tất tật đều dính dáng đến Đoàn thanh niên Quốc xã ngày xưa. Trong những gì liên quan đến Kundera cũng thế: một luận án tiến sĩ làm ở Thụy Sỹ của Martin Rizek xuất bản mấy năm trước đã lôi tuốt tuột những thứ bị chàng giấu kín tưởng mất tăm mất tích. Hehe, bây giờ mà lục ra được những bài thơ ngày xưa Phạm Thị Hoài viết trong công cuộc chịu sự đào tạo để trở thành Trần Đăng Khoa thứ hai nhể. Những người may mắn không rơi vào trường hợp đó đều là những người có thời gian sống không lâu ở chốn phồn hoa đô hội không thể nào không nhắc đến đó (reference: Hemingway: Paris est une fête. Quel con de fêtard!) Đó là những ai: Tourgueniev, Witord Gombrowicz (đồng chí này sau Ba Lan sống một thời gian dài ở Buenos Aires rồi cuối đời mới sang Paris. Bao giờ Paris cũng cần mấy gương mặt rợ di man mọi cho nó nổi bật. Vua Đồng Khánh như một con khỉ nhé, công chúa Brancovan từ xứ Lỗ Ma Ni nhé. Milosz nhà thơ may mà không sang ở hẳn đó, chứ còn ông anh của đồng chí, cũng nhà thơ – Oskar thì phải – đời có ra gì đâu. Chính Gombrowicz một thời là khuôn mặt Trung Âu nổi bật nhất của Paris, sau khi đã tàn lụi những Kournofski, Maiakovski vân vân và vân vân. Một dạng đại sứ thiện chí/văn hóa của khối các nước láng giềng nhưng xa xa. Khi Kundera lừa lừa chạy khỏi Tiệp mang tiếng sang Rennes dạy học rồi ở lại luôn thì người ta vẫn thích, vì có một người thay thế Gombrowicz. Nhưng thay thì thay cho nó nhanh nhanh chóng chóng, ngờ đâu chàng ở lại luôn một mạch kể từ năm 1981 cho đến giờ, nghĩa là 26 năm phéng nó rồi, thời gian đúng là như bóng câu, không những thế còn lăng nhăng cả lên mấy cái tạp chí như L’Atelier du roman, kết bè kéo cánh đủ mọi loại, và không những thế còn định vươn lên làm nhà văn lớn của tiếng Pháp. Thành ra ba quyển tiểu thuyết gần đây nhất, La Lenteur, L’IdentitéL’Ignorance giới phê bình Pháp mang ra bổ cho một trận, quy cho cái tội dốt tiếng Pháp. Mà thật ra tiếng Pháp của Kundera đâu có tồi. Mặc dù nói thì kinh khủng, không thể hiểu đồng chí nói gì, giống kiểu mấy anh dân tộc Tà Lù trên miền núi nói người Kinh chúng ta hiểu làm sao cho nổi bây giờ. Nói đi cũng phải nói lại: mấy quyển đó Kundera khôn kinh, viết toàn câu đơn, mỗi câu như một mệnh đề, từ vựng quanh quẩn, nói chung là giống như trẻ con học sắp xong Abitur viết, nhưng có một cái trí tưởng tượng và lập luận của một ông già. Cũng chính vì hiện tượng kiểu đó một phần nên mới có sự di chuyển tích cực của ba nhân vật kiệt xuất nhất: James Joyce, Elias Canetti và Wladimir Nabokov). Vị thế của Kundera giống như là lưng dựa vào chân tường: nói đi nói lại những điều đã cũ để đỡ mang tiếng nhà văn nhớn mà không mở nổi miệng. Lại còn phải tích cực theo dõi tình hình tendency xem cái gì trendy thì theo ngay. Mà theo không phải lối nghiên cứu tích cực tìm tòi ý tưởng mới mẻ lần tìm về tận nguồn mà cứ búa bổ nói như phán bảo, như rút từ một quyển từ điển bách khoa toàn thư tầm vũ trụ ra. Thời gian ngay trước khi Le Rideau ra đời ở Pháp đang có phong trào theo lối sách của Pascale Casanova, La République mondiale des Lettres, các khoa văn học so sánh Sorbonne đang tìm đến một tầm khái quát hóa cao độ, văn chương thế giới etc. Thế nên có Weltliteratur. Goethe lại được phục sinh. Phía sau bức tường của các nghiên cứu hàn lâm người ta bắt đầu sờ đến các vấn đề như là bắt đầu và kết thúc của văn bản, của tác phẩm, và của văn chương. Thế nên Rimbaud ngóc đầu dậy. Thế là chàng cũng… Vấn đề là những cái kia mấy ai biết, còn Kundera đã viết thì nhiều người đọc. Một mẻ lưới chàng lười của chúng ta quơ được không biết bao nhiêu cá. Kundera là một người đầy chiến lược. Phải theo dõi từng bước cuộc đời của đồng chí mới có thể thấy được. Dĩ nhiên là Kundera đầy tài năng, đầy năng lực, và đầy sự tò mò trí thức. Nhưng nhiều cái chàng có được là nhờ tính toán chính xác. Kundera đang ở chỗ đó: một nhà văn già trở nên bảo thủ và hay nói lại những gì đã nói, nhưng vẫn cố gắng tạo ra một thứ mà anh giai ác khẩu Frédéric Badré (chính ra tôi rất quý đồng chí này) gọi là “chủ nghĩa phản chính thống thời thượng” (trong bản dịch tiếng Việt dịch ra một cách hết sức nhố nhăng là “chủ nghĩa theo thời phái sinh” hốc hốc). Một trong những quyển gần đây nhất tôi có xem qua, Les Revenances de l’histoire của Hamel (mấy đồng chí chuyên nghiệp chú ý: đây là quyển sách chứng minh một cách hết sức chặt chẽ rằng các thứ lý thuyết rất hot cho đến tận bây giờ, và sẽ còn hot ở Việt Nam trong thời gian tới, cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta bẽ bàng nhận ra là mình lại chậm chân mất rồi, đã xong rồi, và cũng đã kịp sai rồi. Tất nhiên sai đúng cần phải hiểu đừng chân phương quá. Các thứ tiểu tự sự bây giờ không còn ở trung tâm nữa, nó quay trở về chỗ vốn có của nó: bên lề. Và tiếp tục rình rình đến lúc nào đó sự buồn chán của người ta lên đến cao độ thì lại nhảy vào. Nhìn chung mọi thứ sẽ cứ như thế thôi. Cái giỏi của người theo dõi là biết được lúc nào là lúc nào. Yes. Còn không thì đến giờ vẫn cứ xưng tụng Bakhtine là thánh nhân. Tôi chả có gì nghi ngờ sự hâm mộ thực sự một số người đặt vào một số chỗ, và ý nghĩa dài lâu của một số học thuyết, nhưng hâm mộ thì cũng phải biết được thực sự là chúng nó đang ở đâu) nói đến một ý thế này: người nào cũng ra sức phát ra những diễn ngôn theo kiểu tôi ở ngoài lề tôi hẻo lánh lắm… Vấn đề này cần suy nghĩ thêm, giờ chỉ làm reference thế thôi.

Tại sao Le Rideau là không tốt (sẽ còn quay trở lại sâu hơn để đi vào văn bản một cách chính danh. Bây giờ lười đứng lên lấy sách trên giá quá. Thật ra là không rõ nó nằm ở đâu nữa. Sách này tôi đọc vài ngày sau khi in. Sau này còn nhìn thấy một quyển có chữ ký tặng của đồng chí Kundera. Ghét nhất là cái thói huyền thoại hóa vô thức thể hiện qua lối gọi tên: Kun, Che…)

Giờ thì chỉ tạm thời thế này thôi. Thêm bonus một cái cuối cùng: trước đây người ta quý Kundera còn ở chỗ đồng chí khai quật mấy Broch, Musil (Kafka thì khỏi kể, trong những năm 50, trước khi Kundera kịp nhớn để thoát khỏi cái bóng của Stalin, Alexandre Vialatte đã có những bản dịch kinh điển, và sau đó Marthe Robert, rồi Roland Barthes đã kịp chiêu tuyết nặng đô cho Kafka rồi). Tôi còn bị lừa, đâm đầu đọc Les Somnambules của Broch, chán suýt ngất. Chính ra cái hay chắc phải là La Mort de Virgile. Đến đây lại là chiều ngược lại của sự dịch chuyển các nhân vật kiệt xuất của Đông và Trung Âu sang Tây Âu (nhớ lại chi tiết “xuất khẩu các nhà thơ trữ tình” từ Tiệp ra nước ngoài nhé): các đồng chí ở các chốn hẻo lánh (có ai biết quê của Cioran, Sibiu, là nằm ở đâu không?) rất hay quan tâm đến các ông lớn ở các chốn trung tâm: ngoài Broch viết La Mort de Virgile như vừa nói còn có Horia, một Lỗ Ma Ni nhân, viết Le dieu est né en exile về đời Horace (đồng chí đại thi sĩ này bị hoàng đế nào đày đi ấy nhỉ, Claude à?) Hoặc gần đây là Hồ Anh Thái với cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi (sẽ có entry riêng về cái vụ vui vẻ này).

-----------
Tôi vẫn muốn có quyển này, vẫn chờ được tặng hehe.

Bonus: