Showing posts with label xversusy. Show all posts
Showing posts with label xversusy. Show all posts

Feb 17, 2019

Khái Hưng vs Vũ Đình Long

Các bài báo của Khái Hưng đoạn 1945-1946: tiếp tục ởkia (trong đó cũng đã mới thêm một bài).

Ở quãng 45-46 mà xảy ra chiến sự giữa Khái Hưng và Vũ Đình Long thì giống như là nối dài của cuộc đối đầu giữa Tự Lực văn đoàn và Tân Dân từng bùng nổ trước đó chừng mười năm.

Dec 30, 2016

Khái Hưng vs Phạm Quỳnh

Chúng ta quay trở lại với tờ báo Bình minh mới chỉ nhắc qua gần đây.

Bình minh là một tờ nhật báo (hai mặt giấy, khổ tương tự giấy A3), ra gần như ngay lập tức sau ngày Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương (tức là ngày 9 tháng Ba năm 1945). Gần như chắc chắn số 1 của tờ Bình minh ra ngày 12 tháng Ba năm 1945. Tờ báo sẽ còn tồn tại tận đến khoảng tháng Tám 1945.

Jun 22, 2015

Phan Cự Đệ vs Khái Hưng

Tiếp tục câu chuyện Khái Hưng: mười năm sau khi Khái Hưng qua đời (1947) là mười năm loạn lạc. Hết quãng thời gian đó rồi, Khái Hưng bắt đầu quay trở lại với tư cách đối tượng của nghiên cứu văn học.

Dưới đây là thời điểm 1957, ở Hà Nội.

May 25, 2015

Khái Hưng vs Nguyễn Tuân

Năm 1946

Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.

Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.

Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng ChươngĐinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.

Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.

Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.

Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.

Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.


Mar 12, 2015

Trần Lê Văn vs Xuân Diệu trên Trăm Hoa

Xem trong lịch sử văn học, thỉnh thoảng (thật ra là thường xuyên) ta gặp những khoảng trống, có những khoảng trống rất bất ngờ.

Các nhà nghiên cứu từng đi sâu vào vụ Nhân văn-Giai phẩm đều biết đến tờ Trăm Hoa, thế nhưng tờ Trăm Hoa tồn tại như thế nào thật ra ta không rõ mấy. Bộ từ điển đầy đủ nhất về báo chí Việt Nam ghi nhận thiếu hẳn một giai đoạn của Trăm Hoa: chỉ nói đến hơn chục số Trăm Hoa (Nguyễn Bính) ở quãng cuối 1956 đầu 1957; nhưng tờ Trăm Hoa còn một giai đoạn đầu tiên nữa: 31 số ở dạng tuần báo cuối 1955 đầu 1956. Ở giai đoạn đầu này, 10 số đầu chỉ ghi tên "chủ nhiệm" là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường, anh trai của Nguyễn Bính), từ số 11 trở đi ghi "chủ nhiệm" Nguyễn Mạnh Phác và "chủ bút" Nguyễn Bính. Có một số Tết/Xuân gộp 3 số, và từ số 24 đổi khổ.

Các nhà nghiên cứu biết (qua lời kể của một số người, trong đó có bản thân Nguyễn Bính) là trên Trăm Hoa giai đoạn đầu có những bài phê phán thơ Xuân Diệu, nhưng dường như chưa ai thực sự nhìn thấy những bài viết liên quan chặt chẽ đến Nhân văn-Giai phẩm của tờ Trăm Hoa ấy.

Dưới đây là bài viết quan trọng nhất trong "chiến dịch" phê phán tập thơ Ngôi sao (Xuân Diệu) trên Trăm Hoa: bài của Trần Lê Văn đăng trên tr.5-6 rồi tiếp tục ở tr.12, Trăm Hoa số 28 ra ngày thứ Bảy 21/4/1956. Bài viết này nằm trong khuôn khổ cuộc bình luận của báo chí văn nghệ Hà Nội xung quanh giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 54-55. (NB. Chính Trăm Hoa, trên một số trước đó, đã đăng bài ca ngợi Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tác phẩm giành giải rất cao cũng trong kỳ trao giải thưởng đầy tai tiếng này.)


Đọc Ngôi sao thơ Xuân Diệu

Phê bình của Trần Lê Văn

Mar 2, 2015

Văn Hạc Lê Văn Hòe vs Thế Lữ

Dưới đây là bài thứ 20 trong cuốn Thi thoại của Văn Hạc Lê Văn Hòe, in năm 1940 hoặc 1941 (quyển sách của tôi rách đúng trang ghi năm, lần trước đã hỏi bác Vũ Hà Tuệ và biết được chính xác năm in rồi nhưng giờ đã quên, nên bác VHT có đi qua thì nhắc hộ cái nhé :p)

Bài này viết về thơ Thế Lữ :p


Aug 13, 2012

Lê Huy Oanh vs Thanh Tâm Tuyền

Trong lịch sử bình luận thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà phê bình Lê Huy Oanh tạo ra mấy điểm mốc đáng nhớ. Trên số Văn đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (năm 1973), Lê Huy Oanh nhắc lại mình từng chê bôi, thậm chí mạt sát tập Tôi không còn cô độc đến như thế nào. Bài viết ấy giờ không dễ tìm, nó nằm trên tạp chí Sinh Lực, ấn phẩm nằm dưới sự điều hành của Võ Văn Trưng (chủ nhiệm) và Tôn Nhật Huy (chủ bút). Nên nhớ bài viết dưới đây (toàn văn) đăng không lâu sau khi Tôi không còn cô độc được ấn hành.

Đọc “TÔI KHÔNG CÒN CÔ-ĐỘC” của Thanh-tâm-Tuyền

Lê-Huy-Oanh

Giữa lúc này, người ta khao khát một tập thơ hay, như những kẻ lạc lõng trên sa-mạc thèm muốn một gốc dừa xanh bên hồ nước. Thơ Thanh-Tâm-Tuyền ra đời trong khi bao người đang chờ đợi một thi nhân có tài. Chúng ta vui-vẻ đón con người đó, hy-vọng sẽ thấy trong thơ chàng một nguồn rung cảm mới, một nghệ-thuật cao đẹp.

Tôi không muốn đọc cuốn “Tôi không còn cô độc” quá trơ trẽn. Tôi thắp lên hai cây nến trắng. Chuông đồng-hồ thong thả điểm 2 tiếng. Ngoài cửa sổ, con đường vắng trải nhựa đen im lìm dưới ánh đèn đêm thấp-thoáng. Trời hơi lành lạnh.

Tôi ưa chọn giờ để đọc thơ - nhất là đọc một tác phẩm mà tôi trót gửi vào đấy biết bao nhiêu hy vọng. - Kể ra như thế cũng hơi cầu kỳ, cái cầu kỳ của những người yêu thơ.

Tôi bắt đầu lần giở những trang giấy thơm tho một cách thành kính. Một trang, hai trang, rồi chín, mười trang… Tội nghiệp chưa, đầu tôi nóng bừng; có lúc tôi bàng hoàng như vừa ngã từ mấy từng lầu cao xuống hố bùn đen: thật khó mà tìm thấy cái hay của thơ Tự-do - một thứ tự-do kiểu Thanh Tâm-Tuyền!

Lật về trang giấy sau bức chân dung tác giả, tôi đọc đi đọc lại mấy hàng chữ đầu tiên mà tôi bắt đầu e ngại rằng đây chỉ là những lời ngạo mạn:

………
Để cai trị tôi có những luật lệ tinh-thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ
Người hoàn toàn tự do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ

Tôi định ném cuốn sách ra cửa sổ thật, vì lúc đó, tôi có cảm-tưởng đã gặp phải một người khùng. Kể cũng lạ. Độc giả, yêu thơ đi tìm thơ, nghệ-thuật không thấy, thấy một chiếc ngai lạ kiểu, trên đó sừng sững một quái thai: Ông Hoàng Thanh-Tâm-Tuyền. Ông kêu lên những câu nghe rất chối tai, có lúc lại hoàn toàn vô nghĩa và ông bảo đó là thơ: một thứ thơ không cần vần, không cần âm điệu và cũng chẳng cần để ai hiểu!

Có một lúc tôi không dám phán đoán thêm nữa. Tôi lặng-lẽ nhìn ngọn lửa nến đang leo lét cháy không sao thoát khỏi cái lưới thắc-mắc, tôi cho rằng chỉ đọc một lần thì chưa thể nhận thức nổi những tinh-hoa của lối thơ này. Tôi hơi hối-hận vì đã không kìm nổi giận-dữ. Lòng dịu lại đôi chút, tôi ép má vào song cửa sổ, mặc cho gió lạnh ùa vào mặt. Cuốn thơ mầu trắng oái oăm kia nằm lệch trên bàn. Tôi trân-trối nhìn nó và tự hỏi: “nó đã lừa cảm giác tôi hay chính tôi đã lừa cảm giác tôi?

*

Suốt một tuần lễ sau tôi đọc lại cuốn thơ này. Một tuần lễ có bẩy ngày, tôi đọc lại nó tới hơn ba lần. Nghĩ mà thương cho tôi, có những đêm quá khuya, tôi vẫn còn cặm cụi trước những dòng chữ quái đản:

Tại sao em thích gọi tên hoa
Nào ngày mai của chúng ta buông từng cánh
Xuống vai trần
Viền cỏ
Bông tóc nâu
Em sẽ gọi tên anh
Mùa hoa hôm nay
Nhưng thời gian đã ngả vào lòng vô định
Chút sữa huệ ấm đời thiếu tiếng chim
Cánh hồng ngọt không gian tàn phá
Những thời gtan [sic] không rời nhau mang đến bao nhiêu mùa
Dạy em yêu phía sau cửa sổ
Thiếp điên trong chuỗi dài giấc ngủ
Rất vui
………
(Trang 32, HOA)

Tôi lật xuống những trang dưới, đọc tiếp.

………
Tôi ru chim ngủ trong cổ họng
Mặt trời kêu xuống thái dương những màu ánh sáng thơm
Tim kinh ngạc
Đời tạo câu cười thiên nhiên mãi
Hy vọng đứng ra ngoài ô ngục, ngực bâng khuâng
Lần gặp gỡ thứ nhất
Rồi kỷ niệm kim khí thủy tinh hành hạ
Đau xé trời đêm không sao bánh máy quay vũ khí
Tôi chối từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc
Dù tiếng hót đã chạm mấy hàm răng
Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường
Về quá khứ
Chim bay vào trận mưa sao
(Trang 46 - CHIM)

Trời ơi! đã trót yêu thơ thì tôi đành gian-díu [sic] với thơ chứ cứ đọc mãi cái điệu thơ này rồi cũng đến loạn óc mất thôi. Thi ca lập dĩ đến thế là cùng. Người ta bỏ hết dấu, người ta vứt vần xuống gót chân thô bạo, người ta cố tình ép uổng cho ý tứ thành bí hiểm: không phải người ta làm thơ mà định giết chết thơ. Hành hạ Nàng thơ đến như vậy thật dã man hết chỗ nói. Ấy thế mà Thanh Tâm Tuyền còn kêu là thơ anh bắt nguồn từ ca dao; ở trang 42 anh viết:

Không đa đa siêu thực
Thẳng thắn
Khởi từ ca dao sang tự do

Tôi ngờ rằng Thanh-Tâm-Tuyền nói dối. Âu cũng là một mánh-khóe lòe đời của những người cuồng chữ. Bảo rằng thơ anh chuyển từ ca-dao sang thì quả là định làm hại cái hay mộc mạc nhưng đầy vẻ quyến dũ [sic] của ca-dao. Ca-dao là một thứ văn chương bình-dân, đơn giản, phóng khoáng, sáng-sủa biết bao nhiêu, sao lại có thể chuyển nó sang một lối thơ “hũ nút” như vậy được.

*

Thật ra, tôi vẫn mến Thanh-Tâm-Tuyền vì anh là một thanh-niên tha-thiết với cách-mạng và anh đã muốn dùng thơ để ca-ngợi cách-mạng.

Nhưng nếu định dùng một lối thơ lập-dị để phát huy và truyền-bá tinh-thần cách-mạng, tôi e rằng khó mà thành-công. Tinh-thần cách-mạng cần được phát huy bằng những lời thơ sáng-sủa, nhịp-nhàng, giầu âm-điệu hơn.

Hình-thức của thơ càng linh-động, càng hấp dẫn, càng có năng lực làm người ta rung động; hình thức bí hiểm, tư tưởng cũng thành tối om, làm sao nó gây được ảnh-hưởng trong lòng người đọc.

Tôi không phủ nhận vai trò cần thiết của sự tự-do trong thơ, nhưng tôi chủ trương sự tự-do đó không tuyệt đối, nó phải được giới hạn trúng mức truyền cảm. Giới hạn đó không bắt buộc đứng yên một chỗ; nó có thể biến đổi, di-động tùy theo không gian và thời gian, tùy theo vài sáng-tạo của mỗi thi sĩ. Sự thực, chúng ta chẳng cần bàn nhiều về nó, ở đây, ta chỉ cần nêu ra một kết luận hết sức đơn giản:

Thi sĩ có toàn quyền định giới hạn cho sự tự do trong thơ ca của mình miễn làm sao thơ của họ phải đạt được mục đích chính yếu là truyền cảm. Thiếu tính chất truyền cảm nó hết là thơ”.

Buồn thay, đọc thơ Thanh-tâm-Tuyền ta hầu như không thấy tính-chất truyền cảm có nghĩa là ít khi ta thấy rung động mà phần nhiều chỉ thấy bực mình vì thơ.

*

Tuy nhiên, nếu cố giữ bình thản để đọc thơ anh, ta cũng tìm thấy đôi chỗ tạm gọi là nghe được. Những giòng hiếm hoi đó nằm trong vài bài thơ tương đối đỡ kỳ-quặc hơn. Bài TRƯỜNG-THÀNH (trang 18) đã khiến ta súc cảm [sic] nhờ ý tưởng nồng nàn của tác giả:

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Khái-Hưng.
Mỗi lần hoàng hôn tôi bước cùng đám đông
Lòng khẫn cầu [sic] cách mạng

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Phan-văn-Hùm

Mỗi lần hoàng hôn chạm mặt từng người
Có phải chúng ta đang sửa soạn

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Tạ-thu-Thâu

Mỗi lần hoàng hôn tôi cố thở cho nhiều
Các anh nhớ tôi còn sống
Quờ quạng tay dan díu
Cách-mạng nổi trong sự nín thinh.

………
Mỗi lần hoàng hôn tôi chỉ là người văn-nghệ bé nhỏ.
Hoặc tôi câm mồm hoặc tôi thét la.
Mặc chúng dụ-dỗ mặc chúng dọa-nạt
Chúng sợ cách mạng vô cùng.

………

Bài “MƯA NGỦ” (trang 48) gợi cho ta tính chất quyến dũ [sic] của một thứ “poème en prose” của Baudelaire (1).

Mấy bài thơ này khiến tôi nghĩ hoài về Thanh-tâm-Tuyền tuy tôi đã cất cuốn “TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC” vào ngăn tủ. Tôi tin rằng, nếu anh chịu rời bỏ lối thơ kỳ-quái hiện nay của anh để nhận lấy một lối thơ hợp lý hơn, thơ anh sẽ có nhiều triển vọng. Anh là người giầu tình cảm, giầu lòng yêu nước, thèm khát TỰ-DO và có óc tưởng-tượng thật phong-phú. Tiếc thay, cái tính ưa lập-dị của anh đã phản anh đã bóp nghẹt mất cả một hồn thơ rộng mở trong anh.

Tháng giêng 1957

(1) Ngoài ra, trong tờ sáng tạo số 4 [sic], ra hồi đầu tháng giêng 1957, ta còn được thưởng thức một bài nhan đề:
HÃY CHO TA KHÓC BẰNG MẮT EM,
NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN BUDAPEST.
Với ý tưởng tân kỳ, bài này cũng được một số người thích,

(trích nguyệt san Sinh Lực, số 9, 1/3/1957, tr. 78-82)

-----------

Sau này, năm 1973, trên số Văn đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền, Lê Huy Oanh đã viết khác hẳn, chẳng hạn: “Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố như vậy [tức đoạn đề từ] ở đầu tập Tôi không còn cô độc. Trong cơn giận dữ rất chân thật, tôi đã mạt sát đả kích anh ta thậm tệ để rồi chỉ ít ngày sau tôi dần dần thấy tất cả sự nông nổi bất công của những lời mạt sát đó, những cử chỉ đả kích đó. Tôi đã không ngần ngại “ném cuốn sách ra cửa sổ” để rồi tôi lại len lén bước ra nhặt nó lên, ấp nó vào ngực, mang nó vào nhà. Vậy thì, vậy thì tôi chỉ còn có cách phải chịu thần phục những luật lệ tinh thần của “vị hoàng đế” ấy bởi tôi rất muốn tiếp tục chuyến đi vào lãnh thổ của ông ta” (bài “Ký sự về một chuyến đi kỳ thú vào vùng rung cảm”, tr. 11).


Tập thơ Tôi không còn cô độc:

Phần 1

Phần 2

Jul 10, 2012

Chế Lan Viên vs Vũ Hoàng Chương

Nhân đọc “Hoa Đăng” của Vũ Hoàng Chương (miền Nam)

Chế Lan Viên

Một tờ báo miền Nam gần đây viết:

Về thơ, ngoại trừ Hoa Đăng của Vũ hoàng Chương đáng đánh dấu một sự chuyển hướng về sáng tác và của Đoàn Thêm một loại tiểu thuyết bằng thơ có tính cách một công trình dài hơi đề cập đến vấn đề nhân sinh xã hội, thì không còn thi phẩm nào có sự cố gắng đáng ta lưu ý”.

Vì lẽ ấy tôi đã tìm đọc Vũ hoàng Chương và Đoàn Thêm. Đoàn Thêm, thôi ta không bàn đến. Chẳng phải cái anh Đổng lý văn phòng của Ngô đình Diệm ấy đã bàn những chuyện chính trị phản động gì gì ở đây. Anh ta cũng khôn khéo lắm mà. Vào làm văn, anh ta cũng quên đi những giấy tờ vấy máu của tổng Ngô, để nói đến những chuyện thoát tục, nghìn đời, tập thơ anh tên là Từ Thức. Cái lẽ giản dị để ta không bàn đến vì anh ấy là một kẻ bất tài. Cái tài duy nhất có lẽ là sắp lại, nhai lại những ý, những lời đã mười lần sáo cũ.

Jun 10, 2012

Phạm Công Thiện vs Nguyên Sa


Phạm Công Thiện trả lời loạt bài của ông Lê Hải Vân về Trường hợp Phạm Công Thiện đăng liên tục vô tận trong nhật báo Độc Lập từ hạ tuần tháng 5 năm 1970.

(Xin lỗi độc giả Tư Tưởng về bức thư nầy và xin hãy xem bức thư này như là một việc đáng lẽ không nên làm ở đây.)

P.C.T

Kính gởi thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan (tức Lê Hải Vân).

Phải chăng thi nhân không còn nói với nhau bằng tiếng nói của thi sĩ trong cơn lửa dậy? Tiếng chim đã bị những khẩu hiệu bóp nghẹn rồi sao và chỉ còn lại một thứ ngôn ngữ tối đen đọa đày trong sự rạn vỡ càng lúc càng rạn vỡ ở đất nước này? Tôi mong Ông có can đảm nhận thật tên của mình và nếu bút hiệu Lê hải Vân bị Ông chối bỏ thì tôi xin chịu lỗi và coi bức thư này gửi riêng cho Lê hải Vân để cho hình ảnh thi sĩ Nguyên Sa hãy còn là thi sĩ.

Bài Ông xuất phát từ sự xếp đặt lâu dài mang đầy “ẩn ý chính trị pha màu mật vụ” quá sôi nổi và cần phải được nghe lại cho đúng tiết nhịp của thời gian vượt ra ngoài mọi tư thế chính trị, bè nhóm, tập đoàn mà tôi thừa hiểu. Ông chỉ là kẻ thi hành hãnh tiến:

Jun 9, 2010

Phạm Công Thiện phê Nguyễn Văn Trung

Nhân nói chuyện này xọ chuyện kia, đề cập Phạm Công Thiện ngày sanh của rắn, tôi muốn lôi trở lại một văn bản ngày nay gần như tuyệt mệnh giang hồ, đúng số phận như tập thơ của Phạm Công Thiện, Ngày sanh của rắn bản in đầu (in số lượng hạn chế bên Pháp) gần như chưa ai nhìn thấy bao giờ.

Văn bản này (đúng ra là một bài viết cỡ 30 trang) mang tên Phê bình luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Trung, không rõ viết và phát hành lần đầu năm nào nhưng được một nhóm phật tử Huế tái bản thành cuốn sách nhỏ in mùa hè năm 1973, ở "Lý do" đặt đầu sách có viết là không liên lạc được với tác giả nên cứ in ra như vậy.

[xin trân trọng cảm ơn bạn... và bạn... vì đã....; tôi đang tập viết lời đề tặng để nhỡ ra sau này dùng đến :d mấy từ khó nhất thì đã nghĩ ra xong xuôi, còn mấy từ dễ để trống bao giờ thích điền gì thì điền]