Showing posts with label dinh-hung. Show all posts
Showing posts with label dinh-hung. Show all posts
Jan 19, 2023
May 16, 2021
Đinh Hùng: thêm nữa
ơ hôm nay là Chủ nhật à? mới mấy hôm trước "một ngày Chủ nhật" thì hôm nay là Chủ nhật luôn; lạ nhỉ
(tiếp tục "Nhượng Tống: thêm một" - nghĩ đến cũng phải tiếp tục (và hoàn thành) ởkia, ởkia và ởkia mà ớn quá; đấy là còn chưa nói một vô thiên lủng nữa)
"Je compte mes amis sur les doigts de la main gauche de Django Reinhardt."
Oct 4, 2020
Đinh Hùng 1940
vừa Đám ma tôi đã lại ngay lập tức tiếp tục câu chuyện Đinh Hùng
(tiếp tục "Truffaut-Hitchcock": đã đến đoạn tương quan giữa cinéma và Mai 1968; điện ảnh đối với con người hiện đại chúng ta thì cũng không khác các chiến trận xưa kia)
(tiếp tục "Truffaut-Hitchcock": đã đến đoạn tương quan giữa cinéma và Mai 1968; điện ảnh đối với con người hiện đại chúng ta thì cũng không khác các chiến trận xưa kia)
Sep 27, 2020
Đám ma tôi
"... tôi là người chết, tôi dễ vui lòng..."
(Đinh Hùng, Đám ma tôi, 1940)
lâu rồi mới quay trở lại với Đinh Hùng
(đã tiếp tục "Truffaut-Hitchcock" và "Nòi giống ấy")
Jun 4, 2020
Chroniques HN: một phố
chronique, chronique
bỗng dưng tôi vừa biết thêm một số điều về hiệu sách có tờ hóa đơn đã nhắc đến ởkia; những điều ấy làm tôi nghĩ đến những hiệu sách một thời, trên một phố của Hà Nội
bỗng dưng tôi vừa biết thêm một số điều về hiệu sách có tờ hóa đơn đã nhắc đến ởkia; những điều ấy làm tôi nghĩ đến những hiệu sách một thời, trên một phố của Hà Nội
Jan 18, 2020
Hà Nội từ 1947 đến 1954 (6) Năm 1952
Tiếp tục câu chuyện "Hà Nội 47-54":
Cuộc 4754, như vậy, tôi đã nối được gần như liền mạch, qua hết các năm:
1947
1948
1949
1950 (nhớ xem phần comment, hết sức quan trọng)
(à vậy là vẫn còn thiếu 1951, nhưng 51 thì quá dễ, sẽ sớm bổ sung)
Cuộc 4754, như vậy, tôi đã nối được gần như liền mạch, qua hết các năm:
1947
1948
1949
1950 (nhớ xem phần comment, hết sức quan trọng)
(à vậy là vẫn còn thiếu 1951, nhưng 51 thì quá dễ, sẽ sớm bổ sung)
Aug 26, 2018
Trong hiệu sách (4)
Đang có một cái hội sách thường niên. Theo tôi, đây là hội sách biểu lộ sự chạm đáy của một giai đoạn xuất bản của Việt Nam. Tôi sẽ để dành lại cái miêu tả tổng quát về cái mà tôi gọi là "câu chuyện sách Việt Nam" cho một đợt thuyết trình khác, chắc sang năm (năm nay là năm mở đầu nên có hai thuyết trình, chắc các năm sau mỗi năm một lần là được rồi); ởkia nói đến sự suy sụp của các hội sách Sài Gòn, giờ đến lượt Hà Nội.
May 22, 2017
Nguyễn Huy Thiệp: một lần nữa
Tôi đã chờ rất lâu (như đã nói ở kia) vì tôi muốn một ai đó khác chứ không phải tôi nói được chính xác về Nguyễn Huy Thiệp (cũng như văn chương cần đúng chứ không phải hay, phê bình trước hết phải chính xác, trong nhìn nhận, cũng như trong sắp xếp - đây là câu chuyện của giá trị, đây cũng là câu chuyện của ý nghĩa). Một số văn chương không thuộc về lối của tôi (Borges, Nabokov hay Nguyễn Huy Thiệp), tôi giữ khoảng cách với những văn chương ấy và không bao giờ thực sự muốn chạm đến những văn chương ấy.
Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.
Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.
Labels:
bao-ninh,
bui-giang,
dinh-hung,
duong-nghiem-mau,
huy-can,
khai-hung,
nguyen-bac-son,
nguyen-hong,
nguyen-huy-thiep,
nguyen-tuan,
nhat-linh,
nhuong-tong,
thanh-tam-tuyen,
tran-dan,
van-cao,
vu-hoang-chuong
Dec 26, 2016
Văn chương miền Nam: Hồ Hữu Tường (2) Hà Nội
Ta đã bắt đầu nói đến Hồ Hữu Tường (xem ở kia), và vì ta cũng đã bắt đầu "khoanh vùng" Hà Nội 1945-1946 (hai nhát gần đây: ở kia và ở kia), giờ có thể sử dụng chính lời chứng của Hồ Hữu Tường để mở rộng cái nhìn về đoạn thời gian vô cùng gay cấn và hỗn loạn này.
Nhiều người biết rằng Hồ Hữu Tường hoạt động rất mạnh ở Hà Nội giai đoạn này, nhưng cụ thể thế nào thì ít ai biết. Bài dưới đây lấy từ số Văn năm 1968 (số kỷ niệm Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long). Ta sẽ thấy rằng Hồ Hữu Tường trốn tránh ở Hà Nội trong sự che giấu của Lê Văn Văng, tức là ông chủ nhà xuất bản Tân Việt (người hết sức thân thiết với Nhượng Tống: xem ở kia), và ở ngay khu Nhà Thờ.
Nhiều người biết rằng Hồ Hữu Tường hoạt động rất mạnh ở Hà Nội giai đoạn này, nhưng cụ thể thế nào thì ít ai biết. Bài dưới đây lấy từ số Văn năm 1968 (số kỷ niệm Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long). Ta sẽ thấy rằng Hồ Hữu Tường trốn tránh ở Hà Nội trong sự che giấu của Lê Văn Văng, tức là ông chủ nhà xuất bản Tân Việt (người hết sức thân thiết với Nhượng Tống: xem ở kia), và ở ngay khu Nhà Thờ.
Nov 17, 2016
Một nước Mỹ khác
Charles Dickens cũng hay viết phơi-ơ-tông hai, thậm chí nhiều hơn, cuốn sách một lúc, cho nên đang phơi-ơ-tông cái này, tôi lại phơi-ơ-tông cùng lúc thêm một cái nữa.
Sau nước Anh (xem ở kia), giờ ta nói đến nước Mỹ. Một điều đáng kinh ngạc: Ở Việt Nam chưa bao giờ có đến một chuyên gia văn học Anh-Mỹ. Một nửa cũng không, chưa nói đến một.
Sau nước Anh (xem ở kia), giờ ta nói đến nước Mỹ. Một điều đáng kinh ngạc: Ở Việt Nam chưa bao giờ có đến một chuyên gia văn học Anh-Mỹ. Một nửa cũng không, chưa nói đến một.
Labels:
charles-dickens,
dinh-hung,
edgar-poe,
emerson,
emily-dickinson,
faulkner,
henry-james,
jacques-roubaud,
phan-ngoc,
philip-roth,
sinclair-lewis,
thomas-carlyle,
thoreau,
tocqueville,
walt-whitman,
washington-irving
Oct 21, 2016
Nhịp của thơ
Tôi nghĩ, các nhà nghiên cứu văn học nhất thiết phải được đào tạo (theo cách nào đó), tốt nhất là tự đào tạo, để có thể hiểu về nhịp. Con đường đào tạo ấy có thể thông qua âm nhạc, tất nhiên, nhưng không hề nhất thiết; thêm nữa, âm nhạc rất dễ làm người ta hiểu nhầm, vì ở đó rất dễ nghĩ giai điệu là quan trọng nhất, nhưng điều này là vớ vẩn, trong những gì liên quan đến nhịp, giai điệu chính là thứ yếu nhất.
Sep 11, 2016
Trương Chính về Nguyên Hồng
Trương Chính đặt trong so sánh với Hoài Thanh, nhìn từ hiện tại, với tất tật kiên nhẫn trộn cùng chán ngán, cũng giống như mấy mối tương quan kỳ cục khác: cũng như Vũ Trọng Phụng được coi trọng trong khi Khái Hưng bị lãng quên, Xuân Diệu chứ không phải Đinh Hùng được coi là nhà thơ lớn (Xuân Diệu, kể cả ở giai đoạn trước 1945, có phải là nhà thơ lớn không? là một câu hỏi rất quan trọng cần sớm được trả lời cặn kẽ), nhưng bảng lược đồ văn chương tiền chiến Việt Nam theo Trương Chính kể cho ta một câu chuyện đúng cho một sự đọc mang tính chất phê phán hơn nhiều so với bảng lược đồ theo Hoài Thanh (xem thêm ở kia) - về cơ bản, Hoài Thanh hiểu nhầm hết, có lẽ vì nhìn từ một khoảng quá thấp
Oct 23, 2015
Vũ Hoàng Chương: Vân Muội (2)
Đoạn sau đây bắt đầu cho thấy tính chất Liêu Trai của Vũ Hoàng Chương thuở ấy.
Tập Vân Muội 1960 này, cũng như rất nhiều tập thơ khác của Vũ Hoàng Chương, có sự tham gia rất lớn của Đinh Hùng về mặt hình ảnh (trình bày, vẽ bìa vân vân và vân vân). Sự gần gũi giữa Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng không chỉ nằm ở tiểu sử, ở sự đồng điệu thơ ca, mà còn sâu thẳm hơn nhiều. Ta cũng thấy nhà văn Việt Nam một thuở vẽ rất đẹp. Không chỉ Nhất Linh từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà cả Khái Hưng lẫn Thế Lữ đều thế. Dường như đây là truyền thống, giờ vẫn được tiếp nối, nhưng chỉ là tiếp nối ở vẻ bên ngoài mà thôi. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều vẽ tranh rất xấu, tệ hại, thế mà cứ vẽ suốt, mà lại còn trưng ra nữa.
Nhưng người đọc tinh tế sẽ còn nhận thấy một điều nữa ở Vân Muội, bên ngoài Liêu Trai chí dị và Đinh Hùng: Vũ Hoàng Chương thuở ấy lậm rất sâu vào Kiều. Nhà văn Việt Nam chân chính luôn luôn đi ra từ Kiều. Đời mưa gió là câu chuyện của Thúy Kiều kể lại theo cách khác; Nửa chừng xuân là ba phần tám một câu Kiều, đến cả Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan cũng lại là một nửa câu Kiều khác ("Sự đời đã tắt lửa lòng/Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi").
Quên mất còn chưa nói, Vân Muội là vở kịch có ba hồi. Dưới đây là kết thúc hồi thứ nhất.
Tập Vân Muội 1960 này, cũng như rất nhiều tập thơ khác của Vũ Hoàng Chương, có sự tham gia rất lớn của Đinh Hùng về mặt hình ảnh (trình bày, vẽ bìa vân vân và vân vân). Sự gần gũi giữa Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng không chỉ nằm ở tiểu sử, ở sự đồng điệu thơ ca, mà còn sâu thẳm hơn nhiều. Ta cũng thấy nhà văn Việt Nam một thuở vẽ rất đẹp. Không chỉ Nhất Linh từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà cả Khái Hưng lẫn Thế Lữ đều thế. Dường như đây là truyền thống, giờ vẫn được tiếp nối, nhưng chỉ là tiếp nối ở vẻ bên ngoài mà thôi. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều vẽ tranh rất xấu, tệ hại, thế mà cứ vẽ suốt, mà lại còn trưng ra nữa.
Nhưng người đọc tinh tế sẽ còn nhận thấy một điều nữa ở Vân Muội, bên ngoài Liêu Trai chí dị và Đinh Hùng: Vũ Hoàng Chương thuở ấy lậm rất sâu vào Kiều. Nhà văn Việt Nam chân chính luôn luôn đi ra từ Kiều. Đời mưa gió là câu chuyện của Thúy Kiều kể lại theo cách khác; Nửa chừng xuân là ba phần tám một câu Kiều, đến cả Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan cũng lại là một nửa câu Kiều khác ("Sự đời đã tắt lửa lòng/Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi").
Quên mất còn chưa nói, Vân Muội là vở kịch có ba hồi. Dưới đây là kết thúc hồi thứ nhất.
Oct 17, 2015
Sep 21, 2015
Sep 18, 2015
Đinh Hùng và Nguyễn Du
Không chỉ Phạm Văn Diêu, như lần trước tôi đã nói, từng đặt trọng tâm vào Kim Trọng. Một giả thuyết tồn tại xưa nay là chữ Thanh+Tâm (Thanh Tâm Tài Nhân hay Thanh Tâm Tài Tử) thành chữ "tình", chữ Kim+Trọng thành "chung", cộng lại thành "chung tình", rồi thì Kim Trọng là hóa thân của Thanh Tâm Tài Nhân Từ Văn Trường, Từ Vị mạc khách Hồ Tôn Hiến từng là người tình của Vương Thúy Kiều khi Kiều còn là áp trại phu nhân của Từ Hải tức Từ Minh Sơn, vân vân và vân vân.
Aug 15, 2015
Tô Hoài kể chuyện (3)
Giờ, giỗ lễ xong rồi, ta đã có thể nói sâu vào văn chương Tô
Hoài.
Đọc đi đọc lại Cát bụi
chân ai, chẳng biết đến lần thứ mấy, tôi bỗng nhận ra, mình đúng là có mắt
như mù, Cát bụi chân ai hấp dẫn một
cách lạ thường như vậy chính là vì ở nó, lần duy nhất, Tô Hoài để lộ một số
chìa khóa ngõ hầu giúp người ta bước vào một thế giới kín bưng. Một lần, chắc
là vì hoảng hốt thế nào đó, hoặc có một tâm trạng hơi đặc biệt, Tô Hoài đã đi
chệch một chút khỏi con đường quen, thành ra đã xuất hiện những thứ bình thường
không bao giờ người ngoài mong thấy được. Về cơ bản, chẳng ai hiểu Tô Hoài hết,
kể cả những người từng ở rất sát Tô Hoài, rất quan tâm đến Tô Hoài, nói chuyện
rất nhiều với Tô Hoài. Một khi Tô Hoài đã không muốn, thì chẳng ai có thể nhìn
thấy gì, mọi thứ cứ lờ mờ. Ấy là vì chủ đích của Tô Hoài chính là tạo ra một sự
lờ mờ gầy gùa bao lấy xung quanh. Với văn chương tỉ mỉ ấy, chỉ có thể dùng một
sự tỉ mỉ còn lớn hơn, đừng để xao động bởi bất kỳ cảm xúc gì, thì mới may ra
nhìn nhận được.
Giờ đây, với Tô Hoài, tầm vóc ấy, danh tiếng ấy, sự lịch duyệt
ấy, chỉ còn duy nhất một câu hỏi có nghĩa: văn chương Tô Hoài có lớn không?
May 25, 2015
Khái Hưng vs Nguyễn Tuân
Năm 1946
Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.
Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.
Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.
Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.
Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.
Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.
Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.
Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.
Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.
Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.
Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.
Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.
Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.
Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.
Mar 11, 2015
Mar 3, 2015
Thơ Đinh Hùng: Hai thế giới
Ta sẽ khởi đầu bằng những gì xưa nay vẫn là nổi tiếng nhất của
thơ Đinh Hùng, gần như đương nhiên được coi là đặc trưng Đinh Hùng nhất. Để từ
đó thấy được nét độc đáo đầu tiên, cũng đồng thời là sự trớ trêu đầu tiên (cạm
bẫy đầu tiên; bởi vì thơ Đinh Hùng là thơ của cạm bẫy trùng trùng tiếp nối; thơ
ấy rất đáng sợ): nổi bật không hề là đặc trưng.
Subscribe to:
Posts (Atom)
