Tiếp tục câu chuyện về Thơ Mới (trước hết, Thơ Mới là thơ không hề mới), đương nhiên là phải nói đến cấu trúc của nó. Vả lại, một cái gì có phải là mới hay không thì trước hết nó có là mới hay không ở trong cấu trúc của nó.
Showing posts with label xuan-dieu. Show all posts
Showing posts with label xuan-dieu. Show all posts
Nov 23, 2017
Sep 21, 2017
Con cò trên ruộng
Như đã nói ở kia, trong câu chuyện của Thơ Mới, Xuân Diệu gây nhiều kích thích nhất, là trường hợp đáng quan tâm nhất, và cũng mang nhiều dấu hiệu triệu chứng của một thời đại hơn cả.
Tôi thường hay tự hỏi, chúng ta đọc thơ như thế nào? Dường như (chắc chắn thì đúng hơn) có rất nhiều điều liên quan đến cái mà ta gọi là "trí tưởng tượng". Nhưng trí tưởng tượng nghĩa là gì?
Tôi thường hay tự hỏi, chúng ta đọc thơ như thế nào? Dường như (chắc chắn thì đúng hơn) có rất nhiều điều liên quan đến cái mà ta gọi là "trí tưởng tượng". Nhưng trí tưởng tượng nghĩa là gì?
Aug 19, 2017
Thơ Mới
Một câu hỏi (rất nhỏ): Thơ Mới, cái hay được gọi là "Thơ Mới", có mới không?
Dường như, không khác mấy trong trường hợp của "lãng mạn" (xem ở kia), có một cái gì đó thật hài hước, rất hài hước khi một thực thể được gọi bằng một cái tên không mấy liên quan đến nó. Cũng như "lãng mạn" không hẳn là lãng mạn mà chỉ là người ta gọi một cái gì đó là "lãng mạn" (hơi giống đám nouveaux riches hiện nay, có một cái xuồng máy nhưng gọi nó là "du thuyền", hoặc như nhân vật của Balzac nghĩ dòng dõi gia đình mình ngược lên đến tận Clovis), "Thơ Mới" được gọi là "Thơ Mới" có lẽ vì chuyện nó mới ít hơn nhiều so với bởi vì người ta cứ gọi nó là "mới". Gọi nó là như thế nào thì nó cũng cứ kệ thôi chứ.
Dường như, không khác mấy trong trường hợp của "lãng mạn" (xem ở kia), có một cái gì đó thật hài hước, rất hài hước khi một thực thể được gọi bằng một cái tên không mấy liên quan đến nó. Cũng như "lãng mạn" không hẳn là lãng mạn mà chỉ là người ta gọi một cái gì đó là "lãng mạn" (hơi giống đám nouveaux riches hiện nay, có một cái xuồng máy nhưng gọi nó là "du thuyền", hoặc như nhân vật của Balzac nghĩ dòng dõi gia đình mình ngược lên đến tận Clovis), "Thơ Mới" được gọi là "Thơ Mới" có lẽ vì chuyện nó mới ít hơn nhiều so với bởi vì người ta cứ gọi nó là "mới". Gọi nó là như thế nào thì nó cũng cứ kệ thôi chứ.
Oct 21, 2016
Nhịp của thơ
Tôi nghĩ, các nhà nghiên cứu văn học nhất thiết phải được đào tạo (theo cách nào đó), tốt nhất là tự đào tạo, để có thể hiểu về nhịp. Con đường đào tạo ấy có thể thông qua âm nhạc, tất nhiên, nhưng không hề nhất thiết; thêm nữa, âm nhạc rất dễ làm người ta hiểu nhầm, vì ở đó rất dễ nghĩ giai điệu là quan trọng nhất, nhưng điều này là vớ vẩn, trong những gì liên quan đến nhịp, giai điệu chính là thứ yếu nhất.
Oct 2, 2016
Hoàng Đạo Thúy
Đã nói đến Hoàng Đạo, thì cũng nên nói luôn đến Hoàng Đạo Thúy :p
Hoàng Đạo Thúy là một nhân vật trọng yếu của đoạn lịch sử thật ra giờ đây vẫn gần như chưa được biết một cách tường tận: 1940-1945, nhưng đây chính là thời điểm rất đặc biệt; từng có lần (xem ở kia), tôi đề nghị xem 1940-1945 giống như cánh cửa dẫn xuống vực thẳm.
Hoàng Đạo Thúy là một nhân vật trọng yếu của đoạn lịch sử thật ra giờ đây vẫn gần như chưa được biết một cách tường tận: 1940-1945, nhưng đây chính là thời điểm rất đặc biệt; từng có lần (xem ở kia), tôi đề nghị xem 1940-1945 giống như cánh cửa dẫn xuống vực thẳm.
Sep 27, 2015
Một nhân vật nữa
Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời
Khách không ở lòng em cô độc quá
Khách ngồi lại cùng em đây gối lả
Tay em đây mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn
Thiên tài của Xuân Diệu, tuy rằng phát lộ chỉ một thời gian không dài, thực sự tuyệt diệu ở những khoảnh khắc ríu rít rối bời của cảm giác, hình ảnh, âm điệu. Cứ đợt nào sáng trăng như Hà Nội lả lướt mấy hôm nay, tôi lại nhớ đến Xuân Diệu (các bác đặc biệt chú ý nhé: "và hồn của em đây", một tuyên ngôn quá đỉnh, quá mức ý vị :p). Xuân Diệu còn nhập đồng thiếp được vài lần nữa, không chỉ trong "Lời kỹ nữ", như trong bài "Hoa đêm" dưới đây:
Khách không ở lòng em cô độc quá
Khách ngồi lại cùng em đây gối lả
Tay em đây mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn
Thiên tài của Xuân Diệu, tuy rằng phát lộ chỉ một thời gian không dài, thực sự tuyệt diệu ở những khoảnh khắc ríu rít rối bời của cảm giác, hình ảnh, âm điệu. Cứ đợt nào sáng trăng như Hà Nội lả lướt mấy hôm nay, tôi lại nhớ đến Xuân Diệu (các bác đặc biệt chú ý nhé: "và hồn của em đây", một tuyên ngôn quá đỉnh, quá mức ý vị :p). Xuân Diệu còn nhập đồng thiếp được vài lần nữa, không chỉ trong "Lời kỹ nữ", như trong bài "Hoa đêm" dưới đây:
Jun 10, 2015
Vàng và máu: một vị trí
Định mệnh trớ trêu, tôi lại trở thành người chiêu tuyết cho văn xuôi Thế Lữ.
Trong thơ, Thế Lữ như thế nào? Ta hãy nhớ rằng bài "Nhớ rừng" mà ta biết ngày nay, một kiệt tác không thể chối cãi, đã được sửa hoàn toàn: "Nhớ rừng" trong Mấy vần thơ 1941 không phải "Nhớ rừng" của Mấy vần thơ 1935. Thế Lữ đã sửa nó, hay ai đó sửa hộ? Theo tôi đây mới là một nghi án lớn.
Trong thơ, ta còn nên nhìn vào "Cây đàn muôn điệu", bài thơ tuyên ngôn của thơ Thế Lữ. Cứ đọc nó thật kỹ, toàn hình ảnh sáo mòn, vớ vẩn vô cùng. Tất cả những điều đó, Xuân Diệu, ở đỉnh cao thiên tài của mình, chỉ cần đến bốn câu thơ, bốn câu thơ đích thực, đầy chất siêu vượt, nhất là vượt cực xa thơ của Thế Lữ:
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm
Sao lại trách người thơ tình lơi lả
Trong thơ, Thế Lữ như thế nào? Ta hãy nhớ rằng bài "Nhớ rừng" mà ta biết ngày nay, một kiệt tác không thể chối cãi, đã được sửa hoàn toàn: "Nhớ rừng" trong Mấy vần thơ 1941 không phải "Nhớ rừng" của Mấy vần thơ 1935. Thế Lữ đã sửa nó, hay ai đó sửa hộ? Theo tôi đây mới là một nghi án lớn.
Trong thơ, ta còn nên nhìn vào "Cây đàn muôn điệu", bài thơ tuyên ngôn của thơ Thế Lữ. Cứ đọc nó thật kỹ, toàn hình ảnh sáo mòn, vớ vẩn vô cùng. Tất cả những điều đó, Xuân Diệu, ở đỉnh cao thiên tài của mình, chỉ cần đến bốn câu thơ, bốn câu thơ đích thực, đầy chất siêu vượt, nhất là vượt cực xa thơ của Thế Lữ:
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm
Sao lại trách người thơ tình lơi lả
Mar 12, 2015
Trần Lê Văn vs Xuân Diệu trên Trăm Hoa
Xem trong lịch sử văn học, thỉnh thoảng (thật ra là thường xuyên) ta gặp những khoảng trống, có những khoảng trống rất bất ngờ.
Các nhà nghiên cứu từng đi sâu vào vụ Nhân văn-Giai phẩm đều biết đến tờ Trăm Hoa, thế nhưng tờ Trăm Hoa tồn tại như thế nào thật ra ta không rõ mấy. Bộ từ điển đầy đủ nhất về báo chí Việt Nam ghi nhận thiếu hẳn một giai đoạn của Trăm Hoa: chỉ nói đến hơn chục số Trăm Hoa (Nguyễn Bính) ở quãng cuối 1956 đầu 1957; nhưng tờ Trăm Hoa còn một giai đoạn đầu tiên nữa: 31 số ở dạng tuần báo cuối 1955 đầu 1956. Ở giai đoạn đầu này, 10 số đầu chỉ ghi tên "chủ nhiệm" là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường, anh trai của Nguyễn Bính), từ số 11 trở đi ghi "chủ nhiệm" Nguyễn Mạnh Phác và "chủ bút" Nguyễn Bính. Có một số Tết/Xuân gộp 3 số, và từ số 24 đổi khổ.
Các nhà nghiên cứu biết (qua lời kể của một số người, trong đó có bản thân Nguyễn Bính) là trên Trăm Hoa giai đoạn đầu có những bài phê phán thơ Xuân Diệu, nhưng dường như chưa ai thực sự nhìn thấy những bài viết liên quan chặt chẽ đến Nhân văn-Giai phẩm của tờ Trăm Hoa ấy.
Dưới đây là bài viết quan trọng nhất trong "chiến dịch" phê phán tập thơ Ngôi sao (Xuân Diệu) trên Trăm Hoa: bài của Trần Lê Văn đăng trên tr.5-6 rồi tiếp tục ở tr.12, Trăm Hoa số 28 ra ngày thứ Bảy 21/4/1956. Bài viết này nằm trong khuôn khổ cuộc bình luận của báo chí văn nghệ Hà Nội xung quanh giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 54-55. (NB. Chính Trăm Hoa, trên một số trước đó, đã đăng bài ca ngợi Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tác phẩm giành giải rất cao cũng trong kỳ trao giải thưởng đầy tai tiếng này.)
Các nhà nghiên cứu từng đi sâu vào vụ Nhân văn-Giai phẩm đều biết đến tờ Trăm Hoa, thế nhưng tờ Trăm Hoa tồn tại như thế nào thật ra ta không rõ mấy. Bộ từ điển đầy đủ nhất về báo chí Việt Nam ghi nhận thiếu hẳn một giai đoạn của Trăm Hoa: chỉ nói đến hơn chục số Trăm Hoa (Nguyễn Bính) ở quãng cuối 1956 đầu 1957; nhưng tờ Trăm Hoa còn một giai đoạn đầu tiên nữa: 31 số ở dạng tuần báo cuối 1955 đầu 1956. Ở giai đoạn đầu này, 10 số đầu chỉ ghi tên "chủ nhiệm" là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường, anh trai của Nguyễn Bính), từ số 11 trở đi ghi "chủ nhiệm" Nguyễn Mạnh Phác và "chủ bút" Nguyễn Bính. Có một số Tết/Xuân gộp 3 số, và từ số 24 đổi khổ.
Các nhà nghiên cứu biết (qua lời kể của một số người, trong đó có bản thân Nguyễn Bính) là trên Trăm Hoa giai đoạn đầu có những bài phê phán thơ Xuân Diệu, nhưng dường như chưa ai thực sự nhìn thấy những bài viết liên quan chặt chẽ đến Nhân văn-Giai phẩm của tờ Trăm Hoa ấy.
Dưới đây là bài viết quan trọng nhất trong "chiến dịch" phê phán tập thơ Ngôi sao (Xuân Diệu) trên Trăm Hoa: bài của Trần Lê Văn đăng trên tr.5-6 rồi tiếp tục ở tr.12, Trăm Hoa số 28 ra ngày thứ Bảy 21/4/1956. Bài viết này nằm trong khuôn khổ cuộc bình luận của báo chí văn nghệ Hà Nội xung quanh giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 54-55. (NB. Chính Trăm Hoa, trên một số trước đó, đã đăng bài ca ngợi Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tác phẩm giành giải rất cao cũng trong kỳ trao giải thưởng đầy tai tiếng này.)
Đọc Ngôi sao thơ Xuân Diệu
Phê bình của Trần Lê
Văn
Aug 29, 2014
Huy Cận: Lửa Thiêng
Huy Cận: Lửa thiêng 1940 và Kinh cầu tự 1942:
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Subscribe to:
Posts (Atom)
