Tiếp tục câu chuyện "Hà Nội 47-54":
Cuộc 4754, như vậy, tôi đã nối được gần như liền mạch, qua hết các năm:
1947
1948
1949
1950 (nhớ xem phần comment, hết sức quan trọng)
(à vậy là vẫn còn thiếu 1951, nhưng 51 thì quá dễ, sẽ sớm bổ sung)
Showing posts with label quang-dung. Show all posts
Showing posts with label quang-dung. Show all posts
Jan 18, 2020
Mar 13, 2012
Những nhà thơ trở lại
Cái mệnh đề “Việt Nam một cường quốc thơ” mới xuất hiện nhưng có vẻ đã được số đông ngầm thừa nhận trong sự hân hoan chung, tuy nhiên cái mệnh đề ấy có vẻ chông chênh, khó đứng vững nếu nhìn vào cách “cường quốc thơ” đối xử với một số nhà thơ của quá khứ, những phần khúc khuỷu, khó nhọc và khuất lấp của di sản thơ Việt Nam. Khi mà các nhà thơ như Vũ Hoàng Chương, Ngân Giang hay Nguyễn Bắc Sơn vẫn còn chìm trong sự hờ hững của giới thưởng ngoạn và giới nghiên cứu hiện nay, thì tình trạng cũng phi lý giống như giả sử Baudelaire, Bishop hay Ungaretti bị các quốc gia của họ bỏ quên trong góc thờ ơ vào thời hiện tại.
Thế nhưng, các nhà thơ quá khứ, bởi sức mạnh nội tại của mình, vẫn trở lại, và nếu Bùi Giáng trở lại dưới hình thức một dòng lũ ồ ạt ngôn từ (tập “Đười ươi chân kinh”), thì Quang Dũng (tập “Mắt người Sơn Tây”) và Phùng Cung (tập “Xem đêm”) trở lại gây chú ý bởi một khía cạnh hoàn toàn trái ngược: họ nổi bật vì kiệm lời đến đáng ngạc nhiên.
Cho đến nay, nhiều bài thơ của Quang Dũng đã được phổ nhạc, lẽ dĩ nhiên độc giả thơ ở Việt Nam biết đến ông không ít, Quang Dũng của “Mây đầu ô”, của “Em mãi là hai mươi tuổi/Ta mãi là mùa xanh xưa”… nhưng thật ít người nói được về tổng thể sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng là như thế nào. Quang Dũng có “Chiêu Quân” từ ngay năm ông 16 tuổi (năm 1937), một bài thơ đẹp lung linh: “Hồ xang hồ xang xự hồ xang/Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng”, thế nhưng sau khởi đầu vô cùng hứa hẹn, ông lại không làm nhiều thơ. Điều đặc biệt ở Quang Dũng là đã không làm nhiều thơ như các đồng nghiệp, rất nhiều bài làm rồi ông lại không công bố, dù rằng giờ đây khi đọc, ta có thể thấy những bài thơ mà tác giả “giấu đi” ấy không hề tồi. Tâm hồn thơ Quang Dũng bay bổng (“Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”) nhưng sự bay bổng ấy không làm giảm bớt đòi hỏi nghiệt ngã mà chính ông hướng vào bản thân mình. Điều ấy có lẽ đóng góp một phần quan trọng làm nên căn cốt một nhà thơ độc đáo bậc nhất thơ ca hiện đại Việt Nam, cái giọng thơ lúc nào cũng một mực hướng tới sự trong vắt của những tầng mây sạch.
Feb 3, 2012
giang hồ
và đây, Quang Dũng Bùi Đình Diệm, nhà thơ trác tuyệt
Bên trái là tập văn xuôi Nhà đồi, in năm 1983, NXB Văn học. Êkip làm quyển này: Lý Hải Châu (giám đốc), Biên tập: Lê Khánh (một nhân vật có lai lịch rất kỳ lạ, là dân khoa học tự nhiên nhưng toàn biên tập sách văn học, cả tác giả trong nước lẫn sách dịch), Bìa: Bùi Xuân Phái, Sửa bản in: Nhật Tuấn (vâng :p).
Đây không phải bản in đầu, bản đầu in trong những năm 70, mỏng hơn, giấy đẹp hơn, bìa của chính Quang Dũng. Giờ tôi không nhớ có ít bài hơn so với bản 83 này hay không.
Quyển bên phải vừa in xong, tuyển tập Quang Dũng đầu tiên, nhiều bài chưa bao giờ công bố.
Xưa nay người ta vẫn thấy có hai bài thơ được cho là đầu tiên của Quang Dũng: "Chiêu Quân" (tức bài có câu "Hồ xang hồ xang xự hồ xang" và câu "Quân vương chắc cũng say và khóc") và bài "Cố quận" (bắt đầu bằng câu "Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau"), nhưng hóa ra còn bài thứ ba nữa:
Giang hồ
Lá tím, lá xanh đường gội nắng
Hoa vàng nhạt... nhạt, nhớ phiêu lưu
Lối đi khắc khoải lời chim nói
Ve vãn tương tư mảnh gió chiều
Mấy gã thanh xuân, lòng bốn cõi
Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi
Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc
Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề
Thuở ấy lòng ai chẳng đắm say
Này hương hoa lá thoảng đâu đây
Cỏ cây thơm ngát về muôn dặm
Nước chảy ghềnh xuôi cát bụi bay
Cứ thế, tháng ngày trong xứ lạ
Rất nhiều tình mới, rất nhiều duyên
Bên đường, hoa lá buồn nhan sắc
Im lặng nhìn qua "tuổi dại điên"
(1942)
-----------
Xong rồi thì các bác để tôi hành xử giang hồ cái nhá :d
Này Tút tờ Xì Ghềnh:
Rồi Tút tờ Kinokunia Tokyo Shinjuku luôn hehehe:
Tà dương của Dazai Osamu.
Bên trái là tập văn xuôi Nhà đồi, in năm 1983, NXB Văn học. Êkip làm quyển này: Lý Hải Châu (giám đốc), Biên tập: Lê Khánh (một nhân vật có lai lịch rất kỳ lạ, là dân khoa học tự nhiên nhưng toàn biên tập sách văn học, cả tác giả trong nước lẫn sách dịch), Bìa: Bùi Xuân Phái, Sửa bản in: Nhật Tuấn (vâng :p).
Đây không phải bản in đầu, bản đầu in trong những năm 70, mỏng hơn, giấy đẹp hơn, bìa của chính Quang Dũng. Giờ tôi không nhớ có ít bài hơn so với bản 83 này hay không.
Quyển bên phải vừa in xong, tuyển tập Quang Dũng đầu tiên, nhiều bài chưa bao giờ công bố.
Xưa nay người ta vẫn thấy có hai bài thơ được cho là đầu tiên của Quang Dũng: "Chiêu Quân" (tức bài có câu "Hồ xang hồ xang xự hồ xang" và câu "Quân vương chắc cũng say và khóc") và bài "Cố quận" (bắt đầu bằng câu "Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau"), nhưng hóa ra còn bài thứ ba nữa:
Giang hồ
Lá tím, lá xanh đường gội nắng
Hoa vàng nhạt... nhạt, nhớ phiêu lưu
Lối đi khắc khoải lời chim nói
Ve vãn tương tư mảnh gió chiều
Mấy gã thanh xuân, lòng bốn cõi
Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi
Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc
Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề
Thuở ấy lòng ai chẳng đắm say
Này hương hoa lá thoảng đâu đây
Cỏ cây thơm ngát về muôn dặm
Nước chảy ghềnh xuôi cát bụi bay
Cứ thế, tháng ngày trong xứ lạ
Rất nhiều tình mới, rất nhiều duyên
Bên đường, hoa lá buồn nhan sắc
Im lặng nhìn qua "tuổi dại điên"
(1942)
-----------
Xong rồi thì các bác để tôi hành xử giang hồ cái nhá :d
Này Tút tờ Xì Ghềnh:
Rồi Tút tờ Kinokunia Tokyo Shinjuku luôn hehehe:
Tà dương của Dazai Osamu.
Dec 14, 2009
Quang Dũng trên tạp chí Văn Học
Trên talawas đột nhiên mấy hôm trước đăng lại bài của Trần Văn Nam, "Từ giấc mơ Tây Tiến đến giấc mơ hòa bình", lần đầu xuất hiện trên tạp chí Văn Học số 140, ghi là "xuất bản tại Sài Gòn 1971": chính xác là số 140, ra ngày 6/12/1971. Với tôi thì thật là may vì đúng số này quyển tạp chí tôi có lại bị mất bìa, thành ra nhờ có bài kia mà biết được cái bìa hình thù ra sao:)
Cứ tưởng đăng xong bài này thì sẽ phải tiếp tục lục lại hồ sơ Quang Dũng trên tạp chí Văn Học thời ấy, nhưng đợi mãi chẳng thấy gì, thậm chí bài "Đôi mắt người Sơn Tây" mà Trần Văn Nam chép trong bài báo đó cũng không thấy talawas đăng lại. Đây lại là một phiên bản của bài thơ rõ lắm phiên bản này, có những câu khá lạ lẫm như "Cách biệt bao lần quê Bất Bạt", "Vừng trán em vương trời quê hương" hay "Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm". Trên số 140 này Trần Văn Nam còn một bài nữa, in ngay sau bài nói trên, tên là "Nhược điểm kỹ thuật trong một bài thơ của Quang Dũng" (tr. 65-69), phê phán Quang Dũng "vị kỹ thuật" mà không "vị nghệ thuật" trong bài "Kẻ ở", tức là bài có đoạn đầu như sau: "Mai chị về em gửi gì không/Mai chị về nhớ má em hồng/Đường đi không gió lòng sao lạnh/Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong".
Cứ tưởng đăng xong bài này thì sẽ phải tiếp tục lục lại hồ sơ Quang Dũng trên tạp chí Văn Học thời ấy, nhưng đợi mãi chẳng thấy gì, thậm chí bài "Đôi mắt người Sơn Tây" mà Trần Văn Nam chép trong bài báo đó cũng không thấy talawas đăng lại. Đây lại là một phiên bản của bài thơ rõ lắm phiên bản này, có những câu khá lạ lẫm như "Cách biệt bao lần quê Bất Bạt", "Vừng trán em vương trời quê hương" hay "Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm". Trên số 140 này Trần Văn Nam còn một bài nữa, in ngay sau bài nói trên, tên là "Nhược điểm kỹ thuật trong một bài thơ của Quang Dũng" (tr. 65-69), phê phán Quang Dũng "vị kỹ thuật" mà không "vị nghệ thuật" trong bài "Kẻ ở", tức là bài có đoạn đầu như sau: "Mai chị về em gửi gì không/Mai chị về nhớ má em hồng/Đường đi không gió lòng sao lạnh/Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong".
Jun 14, 2009
Cả một mùa thu đã quá giang
Câu trên được Đặng Tiến trích trong bài "Thi giới Đinh Hùng": "Hoa quay đầu, cánh bướm cũng vu quy/Cả một mùa thu đã quá giang". Theo tôi đây là bài có giá trị nhất của cả tập Thơ thi pháp và chân dung, gần như đưa ra cả một lý thuyết về đọc và hiểu Đinh Hùng, trong hoàn cảnh có rất ít người nghiên cứu Đinh Hùng. Bài này cũng là nơi Đặng Tiến thể hiện ác cảm với Hoài Thanh-Hoài Chân, những người không thích thơ Đinh Hùng ("âu đó cũng là một vinh hạnh cho Đinh Hùng"): "Tôi không dám nghĩ Hoài Thanh và Hoài Chân dốt thơ, nhưng các ông ấy có ít chìa khóa quá - nếu không phải chỉ có một chìa khóa passe-partout" (tr. 396). Chàng Hoài Điệp Thứ Lang theo Đặng Tiến (Đặng Tiến lại theo lời Trần Phong Giao) có vẻ rất buồn phiền vì vụ không được Hoài Thanh đoái hoài. Đúng đấy, thế là may đấy :)
Bao năm nay người ta cứ khen ngợi ca tụng Thi nhân Việt Nam, trong các lý do có một điều luôn được nhay đi nhay lại: Hoài Thanh (và Hoài Chân) có con mắt xanh, chọn được toàn người làm thơ hay. Lập luận này rất yếu. Những người theo dõi thơ hồi đó tôi thấy ai cũng nói tới các nhân vật ấy cả, loay hoay xoay trở thì đằng nào cũng đâu có thể không kể đến những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư vân vân và vân vân. Tôi cũng nghe nhiều người nói để hiểu hết thơ trước 1945 chỉ cần đọc ba quyển Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Chương Dân thi thoại của Phan Khôi và Thi nhân Việt Nam là đủ. Đúng là giản tiện hóa vấn đề một cách sâu sắc.
Bao năm nay người ta cứ khen ngợi ca tụng Thi nhân Việt Nam, trong các lý do có một điều luôn được nhay đi nhay lại: Hoài Thanh (và Hoài Chân) có con mắt xanh, chọn được toàn người làm thơ hay. Lập luận này rất yếu. Những người theo dõi thơ hồi đó tôi thấy ai cũng nói tới các nhân vật ấy cả, loay hoay xoay trở thì đằng nào cũng đâu có thể không kể đến những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư vân vân và vân vân. Tôi cũng nghe nhiều người nói để hiểu hết thơ trước 1945 chỉ cần đọc ba quyển Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Chương Dân thi thoại của Phan Khôi và Thi nhân Việt Nam là đủ. Đúng là giản tiện hóa vấn đề một cách sâu sắc.
Subscribe to:
Posts (Atom)