đã tiếp tục "Rìa khu rừng"
Đâu là cách nhanh nhất để tìm ra tương ứng của Số đỏ vào thời chúng ta? Tức là, cụ thể hơn, nếu muốn tìm Xuân Tóc đỏ của thời này, thì tốt hơn hết là tiến hành nghiên cứu dựa trên nguyên tắc, nền tảng và tiêu chí nào?
Showing posts with label vu-trong-phung. Show all posts
Showing posts with label vu-trong-phung. Show all posts
Jul 15, 2020
Mar 22, 2017
Hai khía cạnh nữa của văn chương Nguyễn Tuân
Lần trước, khi tôi viết về hai khía cạnh của văn chương Nguyễn Tuân, ngay lập tức có một chuyên gia Nguyễn Tuân phi vào; trời ơi, nói thật nhé, trong lĩnh vực nào, bất kỳ, các bạn thích mình đều nhường hết còn gì, nhường cho đến lúc nào nhận ra các bạn hóa ra đâu có làm được, chứ nếu các bạn làm được thật, mình chẳng sờ vào nữa đâu: mình đâu phải là con người làm một cái gì thừa (cũng như cái gì thiếu); và trời ơi, cái chết của những người nghiên cứu Nguyễn Tuân hoặc nghĩ là mình nghiên cứu Nguyễn Tuân - điều này thì các bạn không hề nhận ra, có đúng không? - nằm ở chỗ chỉ chăm chăm vào mấy thứ lợi ích cỏn con; và trời ơi (nốt lần cuối) sao không dám ghi tên thật mà nói? Không dám thì thôi, mình cũng giữ kín hộ cho, như thế thì cũng có khả năng đi lừa bịp tiếp tầm khoảng chục năm nữa đấy.
Feb 15, 2017
Tản Đà vận văn vân vân vân vân
Không lâu sau khi Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu qua đời, bộ Tản Đà vận văn, gồm nhiều tập, được in; đây là bộ sách cho thấy đầy đủ thơ của Tản Đà hơn cả, bộ sách nhất thiết nếu muốn nhìn vào văn nghiệp, hay đúng hơn là thi nghiệp, của Tản Đà.
Một câu hỏi rất thú vị: bộ sách này có lịch sử như thế nào?
Một câu hỏi rất thú vị: bộ sách này có lịch sử như thế nào?
Sep 11, 2016
Trương Chính về Nguyên Hồng
Trương Chính đặt trong so sánh với Hoài Thanh, nhìn từ hiện tại, với tất tật kiên nhẫn trộn cùng chán ngán, cũng giống như mấy mối tương quan kỳ cục khác: cũng như Vũ Trọng Phụng được coi trọng trong khi Khái Hưng bị lãng quên, Xuân Diệu chứ không phải Đinh Hùng được coi là nhà thơ lớn (Xuân Diệu, kể cả ở giai đoạn trước 1945, có phải là nhà thơ lớn không? là một câu hỏi rất quan trọng cần sớm được trả lời cặn kẽ), nhưng bảng lược đồ văn chương tiền chiến Việt Nam theo Trương Chính kể cho ta một câu chuyện đúng cho một sự đọc mang tính chất phê phán hơn nhiều so với bảng lược đồ theo Hoài Thanh (xem thêm ở kia) - về cơ bản, Hoài Thanh hiểu nhầm hết, có lẽ vì nhìn từ một khoảng quá thấp
Jul 19, 2016
Tôn sùng sự trung bình
Dẫu sự yêu mến đối với thơ của Xuân Quỳnh (sự yêu mến mà rất có thể tôi cũng có góp phần) có lớn đến đâu, thì vẫn cần phải thấy rằng Xuân Quỳnh không viết ra được một thứ thơ lớn.
Yêu quý người nào đến đâu thì cũng không thể vì thế mà đánh giá sai, ghét ai đó đến đâu cũng không thể vì thế mà đánh giá sai người ấy. Giá trị, trong đó có giá trị văn chương, là một thứ khách quan không tùy thuộc yêu ghét. Cái gì đã ở đó thì vẫn cứ ở đó.
Yêu quý người nào đến đâu thì cũng không thể vì thế mà đánh giá sai, ghét ai đó đến đâu cũng không thể vì thế mà đánh giá sai người ấy. Giá trị, trong đó có giá trị văn chương, là một thứ khách quan không tùy thuộc yêu ghét. Cái gì đã ở đó thì vẫn cứ ở đó.
May 2, 2016
EFEO, XII
dưới đây là những ấn phẩm thể hiện những gì chính yếu mà EFEO làm được trong nghiên cứu về Việt Nam từ thập niên 90 cho đến nay, 12 ấn phẩm có đánh số, với số XI và XII mới ra:
Jan 25, 2016
Văn chương miền Nam: giữa chừng
Văn chương miền Nam đứng khựng lại giữa chừng, giữa đà bay của một con chim tuyệt đẹp, một "cú bay thảng thốt tuyệt mỹ". Lần duy nhất, ta có cả một nền văn chương giống như hóa thạch trong hổ phách. Trước một hóa thạch hổ phách, người ta nên làm gì?
Nên hiểu về hóa thạch, và về hổ phách, tất nhiên. Nhất là sẽ chẳng tích sự gì khi bàn về chuyện nó "bất hạnh" hay không bất hạnh. Những chuyện như thế, tại sao lại phải bàn đến? Cực kỳ vô ích và mất thời gian.
Nên hiểu về hóa thạch, và về hổ phách, tất nhiên. Nhất là sẽ chẳng tích sự gì khi bàn về chuyện nó "bất hạnh" hay không bất hạnh. Những chuyện như thế, tại sao lại phải bàn đến? Cực kỳ vô ích và mất thời gian.
Jan 19, 2016
một quyển sách
một quyển sách rất bình thường thôi, nhưng nó làm tôi nghĩ đến bao nhiêu điều
một quyển sách cũ sì, chẳng có gì đặc biệt:
một quyển sách cũ sì, chẳng có gì đặc biệt:
Jan 14, 2016
Trọng Lang
Ô, một khi bắt tay vào việc, tôi không bỏ qua bất kỳ một góc khuất nào đâu. Kể từ khi biết là mình phải vẽ ra hình ảnh văn chương Việt Nam, không một cái gì mà tôi không từng chạm đến.
Kể cả Trọng Lang, tác giả của một thứ văn chương phải nói là cực kém. Nhưng thật ra, Vũ Đình Chí tức Tam Lang, rồi Vũ Bằng và Vũ Trọng Phụng, ở trong mảng "phóng sự", có hơn gì không? Không, tôi không nghĩ là có hơn gì cả. Cùng một loại.
Kể cả Trọng Lang, tác giả của một thứ văn chương phải nói là cực kém. Nhưng thật ra, Vũ Đình Chí tức Tam Lang, rồi Vũ Bằng và Vũ Trọng Phụng, ở trong mảng "phóng sự", có hơn gì không? Không, tôi không nghĩ là có hơn gì cả. Cùng một loại.
Oct 6, 2015
Tchya và Phổ thông bán nguyệt san
Mới đây tôi vừa bắt đầu nói đến Tchya, cuốn Ai hát giữa rừng khuya cũng mới in rồi, bây giờ ta nên đi sâu vào Tchya và một tờ báo rất đặc biệt liên quan chặt chẽ đến văn nghiệp của Tchya: Phổ thông bán nguyệt san.
Tôi lại cũng hay tập trung vào Tự Lực văn đoàn, Phong hóa, Ngày nay, nhà xuất bản Đời nay và An Nam xuất bản cục, nhưng tất nhiên giai đoạn giữa thập niên 30 mọi chuyện nhộn nhịp hơn nhiều. Để tìm hiểu, không gì bằng bắt đầu bằng bộ 13 năm tranh luận văn học của Thanh Lãng. Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu "dân chơi", tôi rất thích, và thật ra ông ấy có công lao vô cùng to lớn, là dân chơi nên nhìn ra những vấn đề ít người để ý đến.
Cuộc tranh đấu dữ dội giữa mấy nhóm đã đi vào dã sử: cách đây mấy năm nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã công bố tác phẩm Tam động kiếm tiên rất hấp dẫn, các bác nên tìm đọc. Ta có ba đối thủ chính: Tự Lực văn đoàn, Tân Dân và Lê Cường. Lê Cường trông hơi yếu thế hơn nhưng để bù lại, những ấn phẩm huyền thoại bậc nhất của lịch sử văn chương Việt Nam giai đoạn này lại hay nằm ở Lê Cường (Số đỏ 1938 chẳng hạn), tờ Hà Nội báo của bên Lê Cường cũng không đọ được với các tờ của hai nhóm kia, nhưng lại cũng là huyền thoại, chủ yếu nhờ đăng Số đỏ và Giông tố (mục lục tờ Hà Nội báo có thể đọc được ở trang web "Hồ sơ văn học"). Vũ Trọng Phụng có dành cho cả Tự Lực văn đoàn và Tân Dân vài thứ, nhưng đều là những thứ kém nhất :p, chẳng hạn Cạm bẫy người do Đời nay in, còn Dứt tình (có lẽ là tác phẩm tệ nhất của Vũ Trọng Phụng) thì ở chính Phổ thông bán nguyệt san.
Tôi lại cũng hay tập trung vào Tự Lực văn đoàn, Phong hóa, Ngày nay, nhà xuất bản Đời nay và An Nam xuất bản cục, nhưng tất nhiên giai đoạn giữa thập niên 30 mọi chuyện nhộn nhịp hơn nhiều. Để tìm hiểu, không gì bằng bắt đầu bằng bộ 13 năm tranh luận văn học của Thanh Lãng. Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu "dân chơi", tôi rất thích, và thật ra ông ấy có công lao vô cùng to lớn, là dân chơi nên nhìn ra những vấn đề ít người để ý đến.
Cuộc tranh đấu dữ dội giữa mấy nhóm đã đi vào dã sử: cách đây mấy năm nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã công bố tác phẩm Tam động kiếm tiên rất hấp dẫn, các bác nên tìm đọc. Ta có ba đối thủ chính: Tự Lực văn đoàn, Tân Dân và Lê Cường. Lê Cường trông hơi yếu thế hơn nhưng để bù lại, những ấn phẩm huyền thoại bậc nhất của lịch sử văn chương Việt Nam giai đoạn này lại hay nằm ở Lê Cường (Số đỏ 1938 chẳng hạn), tờ Hà Nội báo của bên Lê Cường cũng không đọ được với các tờ của hai nhóm kia, nhưng lại cũng là huyền thoại, chủ yếu nhờ đăng Số đỏ và Giông tố (mục lục tờ Hà Nội báo có thể đọc được ở trang web "Hồ sơ văn học"). Vũ Trọng Phụng có dành cho cả Tự Lực văn đoàn và Tân Dân vài thứ, nhưng đều là những thứ kém nhất :p, chẳng hạn Cạm bẫy người do Đời nay in, còn Dứt tình (có lẽ là tác phẩm tệ nhất của Vũ Trọng Phụng) thì ở chính Phổ thông bán nguyệt san.
Jul 6, 2015
Đi tìm thời gian đã mất không phải là đi tìm thời gian đã mất
Cách đọc Đi tìm thời gian đã mất kém nhất là đồng hóa nó với nhan đề của nó, coi đó là một câu chuyện về sự thể "đi tìm thời gian đã mất". Tác phẩm lớn đồng thời cũng có nhan đề lớn, nhan đề ấy là một yếu tố quan trọng làm nên tổng thể, nhưng những nhan đề vĩ đại bao giờ cũng đánh lừa.
Jun 29, 2015
Thạch Lam và Nam Cao
Để có thể nhìn vào quá khứ, bắt "lịch sử" nói ra vài câu chuyện, buộc lòng ta phải có một số tưởng tượng, tưởng tượng ra những thứ không thể tưởng tượng. Nhìn qua, trông rất hao hao phương pháp mà trong kinh tế học người ta gọi là "lập mô hình". Càng ngày, tôi càng thấy các "mô hình" nhảm nhí, nhưng tạm thời cứ coi là thế đã, để tiện hình dung.
May 19, 2015
Tiểu luận thứ nhất về Tự Lực văn đoàn
Tự Lực văn đoàn, ngay từ đầu và trong suốt cuộc tồn tại (một
cuộc tồn tại văn chương chóng mặt khủng khiếp), đồng nghĩa với sự quá đà. Một sự
quá đà chưa từng có và không hề lặp lại. Sự quá đà ấy không chỉ nằm ở những đả
kích, những vứt bỏ và những chế giễu, mà ngay cái tên “Tự Lực” đã là một sự quá
đà. Chưa hề định trước, cho tới thời điểm đó, là có một thứ gì được phép độc lập
khỏi nhà nước hoặc truyền thống, không nhận tiền và sự dẹp đường, định lối của
chính quyền, không chịu sự nâng đỡ kiểu như các bậc tiền bối lỗi lạc, Trương
Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh. Chỉ trong một cái lắc mình, các khuôn khổ cùng một lúc
rơi xuống vỡ vụn, cùng với “Tự Lực” là vị trí của nhà văn độc lập không phụ thuộc
vào mạnh thường quân hay một ý chí nào từ trên cao rọi xuống, thậm chí từ bên
dưới bốc lên. Bản thân Tự Lực văn đoàn là một ý chí, và đó là một sự quá đà khủng
khiếp. Ta chỉ tiếc một điều là Tự Lực văn đoàn đã không quá đà hơn nữa, không đẩy
đà nhún ngay ban đầu của sự quá đà ấy bẻ gãy đi nhiều thứ hơn nữa. Những phá
phách của giới nhà báo được Vũ Bằng thuật lại trong Bốn mươi năm nói láo chỉ là bóng mờ nhợt nhạt phản chiếu lại những
phá phách điên rồ của Tự Lực văn đoàn: đấy là những phá phách đã có tiền lệ;
ngay những gì đã tồn tại trước Tự Lực văn đoàn và Phong hóa, chẳng hạn và nhất là Tân Dân, cũng chỉ nhờ có Tự Lực văn
đoàn thì mới thực sự tồn tại được. Tự Lực văn đoàn mang đến một điều mới tuyệt
đối: đó là văn chương.
Sep 18, 2014
Tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng
Hơi khó ngờ vì tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng lại là thơ.
Nhưng cũng không hẳn khó ngờ, vì nhà văn vẫn thường khởi đầu bằng (ít nhất là mấy bài) thơ.
Thông tin dựa thêm vào ở đây.
Nhưng cũng không hẳn khó ngờ, vì nhà văn vẫn thường khởi đầu bằng (ít nhất là mấy bài) thơ.
Thông tin dựa thêm vào ở đây.
Sep 1, 2014
Những câu chuyện rất là khác
Aug 29, 2014
Huy Cận: Lửa Thiêng
Huy Cận: Lửa thiêng 1940 và Kinh cầu tự 1942:
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Jul 31, 2014
Văn chương ấy mà
Đến tiểu thuyết Ba ngôi của người, nhà văn Nguyễn Việt Hà đã chính thức làm được một chuyện:
Khẳng định sự cáo chung tệ hại của văn chương làm ra bởi các nhà văn Việt Nam sinh ra trong thập niên 60 của thế kỷ XX. Không phải tất cả các nhà văn thế hệ những năm 60, nhưng là tuyệt đại đa số. Thêm một thế hệ nữa đã nản chí, thêm một thế hệ nữa đã xác nhận văn chương là chuyện quá khó. Thật ra cũng đâu phải chuyện lạ, vì thế hệ trước họ cũng từa tựa vậy thôi.
Tôi sẽ không nói quá sâu vào "chuyên môn", tức là cấu trúc của truyện, câu từ, ngôn ngữ vân vân, mặc dù tôi biết, Nguyễn Việt Hà rất ưa "áp dụng" những cấu trúc lạ mà anh nghĩ là tiên tiến vào tác phẩm của mình. Đây là một điểm son, và nó dễ dàng đến đáng kinh ngạc: thủ pháp "truyện trong truyện" (mise en abîme) mà bọn phê bình có chút học hành đơn sơ như tôi phải bỏ ra rất nhiều năm mới tạm gọi là nắm được, thì anh giản dị cho nó vào Khải huyền muộn. Đó là một tiểu thuyết không xuất sắc, nhưng cũng không tệ, quyển thứ hai như vậy thì hoàn toàn chấp nhận được. Ngay quyển thứ ba này, Ba ngôi của người, với rất nhiều độc giả, vẫn là một tác phẩm hay. Tôi chẳng quan tâm đến độ hay dở nữa, giờ đây sự nghiệp văn chương của Nguyễn Việt Hà đã đầy đặn rồi, ta chuyển qua nói những chuyện khác.
Mà cũng nên nói chuyện hơi khác đi chút, vì với tôi, ở Nguyễn Việt Hà, văn chương cũng chỉ là một chuyện tương đối phụ và nông nổi đáng chán. Nguyễn Việt Hà cũng không phải người thẩm văn tốt, nên nói ba cái chuyện kỹ thuật viết văn sẽ gây cảm giác mông lung hời hợt trộn lẫn với vờ vịt sâu sắc. Chán đéo chịu được, nhỉ (trong Ba ngôi của người, từ "đéo" xuất hiện ba lần và từ "mặt l…" xuất hiện một lần, không dám hẳn thành "mặt lồn").
Khẳng định sự cáo chung tệ hại của văn chương làm ra bởi các nhà văn Việt Nam sinh ra trong thập niên 60 của thế kỷ XX. Không phải tất cả các nhà văn thế hệ những năm 60, nhưng là tuyệt đại đa số. Thêm một thế hệ nữa đã nản chí, thêm một thế hệ nữa đã xác nhận văn chương là chuyện quá khó. Thật ra cũng đâu phải chuyện lạ, vì thế hệ trước họ cũng từa tựa vậy thôi.
Tôi sẽ không nói quá sâu vào "chuyên môn", tức là cấu trúc của truyện, câu từ, ngôn ngữ vân vân, mặc dù tôi biết, Nguyễn Việt Hà rất ưa "áp dụng" những cấu trúc lạ mà anh nghĩ là tiên tiến vào tác phẩm của mình. Đây là một điểm son, và nó dễ dàng đến đáng kinh ngạc: thủ pháp "truyện trong truyện" (mise en abîme) mà bọn phê bình có chút học hành đơn sơ như tôi phải bỏ ra rất nhiều năm mới tạm gọi là nắm được, thì anh giản dị cho nó vào Khải huyền muộn. Đó là một tiểu thuyết không xuất sắc, nhưng cũng không tệ, quyển thứ hai như vậy thì hoàn toàn chấp nhận được. Ngay quyển thứ ba này, Ba ngôi của người, với rất nhiều độc giả, vẫn là một tác phẩm hay. Tôi chẳng quan tâm đến độ hay dở nữa, giờ đây sự nghiệp văn chương của Nguyễn Việt Hà đã đầy đặn rồi, ta chuyển qua nói những chuyện khác.
Mà cũng nên nói chuyện hơi khác đi chút, vì với tôi, ở Nguyễn Việt Hà, văn chương cũng chỉ là một chuyện tương đối phụ và nông nổi đáng chán. Nguyễn Việt Hà cũng không phải người thẩm văn tốt, nên nói ba cái chuyện kỹ thuật viết văn sẽ gây cảm giác mông lung hời hợt trộn lẫn với vờ vịt sâu sắc. Chán đéo chịu được, nhỉ (trong Ba ngôi của người, từ "đéo" xuất hiện ba lần và từ "mặt l…" xuất hiện một lần, không dám hẳn thành "mặt lồn").
Jul 3, 2014
Phê bình văn học Việt Nam trước 1945: lãng quên và tàn dư
Thời "tiền chiến" của văn chương Việt Nam, người ta thường cho đó là một giai đoạn rực rỡ, là cách mạng, là đỉnh cao. Nhưng với tôi, thời tiền chiến ấy là ngọn nguồn cho rất nhiều lãng quên, hiểu nhầm, và người ta luôn luôn có xu hướng nhìn nó rất méo mó.
Như trong lĩnh vực phê bình văn học: ngày nay Hoài Thanh cứ trở thành một khuôn mặt độc tôn một cách hết sức đáng ngờ. Rồi người hiểu biết hơn sẽ nói còn có Vũ Ngọc Phan, rồi Thiếu Sơn, vân vân.
Nhưng đâu phải là như vậy.
Ví dụ, Hoàng Ngọc Phách có thể như thế này, những thứ sau này rất ít người còn nhớ:
Thế cho nên, trong bài này, tôi sẽ "kể lại câu chuyện phê bình văn học Việt Nam trước 1945" thông qua một số nhân vật. Chỉ cần xem qua một cách thực sự nghiêm túc là biết, Hoài Thanh không thể là khuôn mặt độc tôn. Thậm chí, Hoài Thanh còn là một nhà phê bình thuộc "chiếu dưới", nếu như trong văn chương nói chung và phê bình văn học nói riêng có chiếu cói hay chiếu tatami.
Như trong lĩnh vực phê bình văn học: ngày nay Hoài Thanh cứ trở thành một khuôn mặt độc tôn một cách hết sức đáng ngờ. Rồi người hiểu biết hơn sẽ nói còn có Vũ Ngọc Phan, rồi Thiếu Sơn, vân vân.
Nhưng đâu phải là như vậy.
Ví dụ, Hoàng Ngọc Phách có thể như thế này, những thứ sau này rất ít người còn nhớ:
Thế cho nên, trong bài này, tôi sẽ "kể lại câu chuyện phê bình văn học Việt Nam trước 1945" thông qua một số nhân vật. Chỉ cần xem qua một cách thực sự nghiêm túc là biết, Hoài Thanh không thể là khuôn mặt độc tôn. Thậm chí, Hoài Thanh còn là một nhà phê bình thuộc "chiếu dưới", nếu như trong văn chương nói chung và phê bình văn học nói riêng có chiếu cói hay chiếu tatami.
Jun 23, 2014
Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn chương Việt Nam: một số nhìn nhận mới
“… trong văn chương tiền chiến khuôn mặt thời đại
không phải chỉ có trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó có mặt trong rất nhiều
tác phẩm của nhiều tác giả, nhưng nó kết tinh, nó điển hình nhất trong tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng, nó điển hình đến độ vượt thoát ra khỏi chính thời đại nó…”
(Dương Nghiễm Mậu)
Người ta hay nghĩ, theo định kiến, rằng khi đã có nhiều thời
gian, có “độ lùi thích hợp”, mọi thứ sẽ được nhìn nhận chính xác và thấu đáo
hơn, ta có thể hiểu sâu sắc hơn nhiều đối tượng; nhưng điều đó sai, hay ít nhất
là không luôn luôn đúng. Kể từ “cột mốc” bài viết của Lê Tràng Kiều, “Vũ Trọng
Phụng, một trong những người mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta”[1], gần
80 năm qua những công trình nghiên cứu, bình luận về Vũ Trọng Phụng và tác phẩm
của ông đã tích tụ lại khổng lồ, trong đó ta đếm được tên tuổi của hầu như mọi
nhà phê bình tên tuổi đã làm nên lịch sử phê bình văn học Việt Nam. Khối công
trình ấy, rất nghịch lý, càng làm nổi lên một vấn đề: Vũ Trọng Phụng và tác phẩm
của ông rất khó nắm bắt, càng đọc thêm những bình luận về ông càng như thể thấy
mông lung hơn một hiện tượng văn học. Kiều
là “đá thử vàng phê bình” của rất nhiều thế hệ thì Vũ Trọng Phụng và tác phẩm của
ông cũng là một đá thử vàng khác của những thế hệ hoặc tiếp sau hoặc đồng thời,
nơi giới thiệu, trình bày và triển khai của rất nhiều ý tưởng, cách tiếp cận,
bút pháp và lý thuyết. Càng chất thêm sự diễn giải vào giữa, càng tăng độ mờ giữa
đôi mắt chúng ta và đối tượng cần khảo sát.
Jul 28, 2013
Trong cuộc đối đầu Nhất Linh Nguyễn Tường Tam-Thiên Hư Vũ Trọng Phụng
Hai mệnh đề sau đây trong rất nhiều năm là "đường lối sáng tác", "đường lối văn chương" không được tuyên xưng chính thức nhưng được mặc nhiên thừa nhận rộng rãi:
Thứ nhất là mệnh đề của Nam Cao: "Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than."
Thứ hai là mệnh đề của Vũ Trọng Phụng: "Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi coi tiểu thuyết là sự thực ở đời."
Hai mệnh đề này không chỉ làm khổ học sinh Việt Nam suốt thời ngồi trên ghế nhà trường (nhất là học sinh chuyên văn), mà còn làm hại lâu dài cả văn chương Việt Nam nói chung.
Thứ nhất là mệnh đề của Nam Cao: "Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than."
Thứ hai là mệnh đề của Vũ Trọng Phụng: "Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi coi tiểu thuyết là sự thực ở đời."
Hai mệnh đề này không chỉ làm khổ học sinh Việt Nam suốt thời ngồi trên ghế nhà trường (nhất là học sinh chuyên văn), mà còn làm hại lâu dài cả văn chương Việt Nam nói chung.
Subscribe to:
Posts (Atom)



