Sự đơn giản không chỉ không làm nên văn chương, nó còn tiêu diệt văn chương (tất nhiên là ở dạng "sự đơn giản" quen thuộc nhất, vì cũng như nhiều thứ, sự đơn giản tồn tại trong nhiều hình thức). Chiến tranh là trường hợp "extreme" để điều ấy hé lộ, mạnh mẽ hơn ở những thời điểm khác: mọi văn chương tuyệt đối "anh hùng" cũng như mọi văn chương chỉ "phản chiến" đều không phải là văn chương. Anh hùng thuộc về tuyên truyền, nhưng phản chiến, đến lượt nó, cũng thuộc về tuyên truyền nốt, bởi vì khu vực địa dư của nó là "phản tuyên truyền".
Showing posts with label malaparte. Show all posts
Showing posts with label malaparte. Show all posts
Jan 1, 2016
Dec 3, 2015
Chẳng cần nhiều
Bruno Schulz thuộc hàng nhà văn lớn có ít tác phẩm nhất, tức là một nhà văn chỉ cần rất ít tác phẩm đã đủ trở thành nhà văn lớn. Thậm chí rất lớn, và thậm chí rất ít.
Câu chuyện cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Schulz thật ra không phải hoàn toàn như vậy. Cuộc xâm chiếm Ba Lan của quân Nazi, cuộc sống trong ghetto Do Thái ở Drohobych khiến cho những gì Schulz từng viết ngoài hai tập truyện và một số thư từ đã hoàn toàn biến mất. Người ta mơ hồ biết rằng Schulz có viết một cuốn tiểu thuyết nhưng có vẻ bản thảo không thể tìm lại được nữa. Xung quanh bản thảo này có không ít huyền thoại.
Câu chuyện cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Schulz thật ra không phải hoàn toàn như vậy. Cuộc xâm chiếm Ba Lan của quân Nazi, cuộc sống trong ghetto Do Thái ở Drohobych khiến cho những gì Schulz từng viết ngoài hai tập truyện và một số thư từ đã hoàn toàn biến mất. Người ta mơ hồ biết rằng Schulz có viết một cuốn tiểu thuyết nhưng có vẻ bản thảo không thể tìm lại được nữa. Xung quanh bản thảo này có không ít huyền thoại.
Aug 6, 2015
Vài nhát
Khi chấp nhận làm editor, tôi tự có một số "mạnh lệnh" (học theo cách nói của Nhượng Tống), tôi tự thấy là một số tác giả nhờ có tôi, ở tư cách editor, phải xuất hiện ở đây, trong phong cảnh này. Rốt cuộc thì mãi rồi tôi cũng sắp đưa được một trong các tác giả ấy tới (thật ra là trở lại) sau những gian truân không tính xuể: Malaparte.
Đây là cách để thông báo rằng cuốn tiểu thuyết Mặt trời mù (Il sole è cieco) đã sắp xuất hiện tại các hiệu sách ở Việt Nam :p
Đây là cách để thông báo rằng cuốn tiểu thuyết Mặt trời mù (Il sole è cieco) đã sắp xuất hiện tại các hiệu sách ở Việt Nam :p
Jan 6, 2014
Malaparte: tiểu thuyết Kaputt
Malaparte (xem thêm ở đây, đây và đây) gần đây như thể "được phát hiện lại", như một nhà văn xuất sắc hàng đầu châu Âu trong đề tài về Thế chiến thứ hai. Kaputt là tác phẩm lớn nhất của Malaparte.
Cuốn tiểu thuyết gồm sáu phần, mỗi phần có tiêu đề một loài thú: phần 1 Ngựa phần 2 Chuột phần 3 Chó phần 4 Chim phần 5 Tuần lộc phần 6 Ruồi.
Cách nào đó, Malaparte, với sự điên rồ, cái chứng mythomania ấy, như thể báo trước một nhân vật sau này: Roberto Bolaño.
Chuẩn bị cho sự trở lại của Malaparte ở Việt Nam (:p) dưới đây là chương đầu phần đầu của Kaputt.
Cuốn tiểu thuyết gồm sáu phần, mỗi phần có tiêu đề một loài thú: phần 1 Ngựa phần 2 Chuột phần 3 Chó phần 4 Chim phần 5 Tuần lộc phần 6 Ruồi.
Cách nào đó, Malaparte, với sự điên rồ, cái chứng mythomania ấy, như thể báo trước một nhân vật sau này: Roberto Bolaño.
Chuẩn bị cho sự trở lại của Malaparte ở Việt Nam (:p) dưới đây là chương đầu phần đầu của Kaputt.
Aug 9, 2013
Malaparte ở Việt Nam
từ xưa đến nay
chắc thế này là đã hết sạch
(quyển trên bên phải là bản gốc tiếng Ý của quyển ngay dưới nó)
chắc thế này là đã hết sạch
(quyển trên bên phải là bản gốc tiếng Ý của quyển ngay dưới nó)
Aug 7, 2013
Chuyện ở nông trại: Điểm sách Catalonia của George Orwell
Dưới đây là bài điểm sách Catalonia - Tình yêu của tôi (Phạm Nguyên Trường dịch, Alphabooks & NXB Lao động), bản của tác giả (bài viết đã đăng trên Sài Gòn tiếp thị).
Homage to Catalonia của Orwell có thể được đọc cùng với Homage to Barcelona của Colm Tóibín, mặc dù hai cuốn sách được viết vào hai thời kỳ khác hẳn nhau và có tính chất rất khác nhau; đó là hai tác phẩm rất đẹp cùng viết về một vùng địa lý.
"Chó" là tên chương III của tác phẩm Kaputt của Malaparte, một trong những tác phẩm văn chương lớn nhất về Thế chiến thứ hai; hai chương đầu cuốn sách này mang tên "Ngựa" và "Chuột".
Homage to Catalonia của Orwell có thể được đọc cùng với Homage to Barcelona của Colm Tóibín, mặc dù hai cuốn sách được viết vào hai thời kỳ khác hẳn nhau và có tính chất rất khác nhau; đó là hai tác phẩm rất đẹp cùng viết về một vùng địa lý.
"Chó" là tên chương III của tác phẩm Kaputt của Malaparte, một trong những tác phẩm văn chương lớn nhất về Thế chiến thứ hai; hai chương đầu cuốn sách này mang tên "Ngựa" và "Chuột".
Khi hiện thực sang
trang
Trần Quốc Tân
Oct 20, 2012
Malaparte và Thomas Bernhard
Mấy nước phát xít đã đen thui, mấy cục đen sì văn chương của
mấy nước ấy thì còn đen đến mức nào nữa: một người Ý, Malaparte và một người
Áo, Thomas Bernhard.
Trong ảnh trên đây, bên trái là quyển tiểu sử đầy đủ nhất
cho tới nay về Malaparte tức Curzio Suckert; tác giả Maurizio Serra ngay từ đầu
đã cho biết: “Người ta có thể tìm ra rất nhiều lý do, mà lý do nào cũng tuyệt
hảo, để không yêu quý ông”. Bởi tài năng của Malaparte đi kèm với những khiếm
khuyết, thậm chí là những xấu xa của con người: mythomane (có thể hiểu đại ý là
nói dối bệnh lý), exhibitionniste (thích tự trưng bày), ham muốn tiền bạc và
khoái lạc, một “tắc kè hoa” trong nhiều thứ. Từ “tắc kè hoa” ngay lập tức gợi
ta nhớ đến Romain Gary-Émile Ajar; quyển tiểu sử lớn nhất về Gary mang nhan đề “tắc
kè hoa”, và Romain Gary cũng mythomane, cũng thích điệu đà, gái gú như điên,
một thời sống với “femme fatale” Jean Seberg, một trong những phụ nữ đẹp nhất
của thời ấy.
Malaparte là một phát hiện trở lại của châu Âu như một nhà
văn đặc biệt quan trọng về Thế chiến thứ hai, từ góc nhìn rất đặc biệt: đặc
phái viên báo chí chiến trường của Ý, có mặt ở những bữa tiệc xa hoa nhất giữa
cảnh đổ nát và chết chóc của châu Âu, ngồi cùng bàn ăn với Toàn quyền Ba Lan
Frank, ông vua Đức của Ba Lan, chơi Chopin tuyệt hảo và thực tâm ước nguyện
khai hóa cho dân Ba Lan, là bạn thân của các hoàng thân Thụy Điển rồi một loạt
nhân vật tối cao của châu lục hồi ấy.
Những chuyện này được Malaparte thuật lại trong Kaputt (quyển bên phải trong ảnh), tác
phẩm lớn nhất của Malaparte và cũng thuộc hàng tác phẩm lớn nhất về Thế chiến
thứ hai, trong đó Malaparte, mặc dù miêu tả châu Âu từ các bữa tiệc linh đình
đúng theo kiểu truyền thống La Mã của Satyricon,
lại dùng những ẩn dụ “thấp” nhất, các ẩn dụ thú vật: các chương tên là “Ngựa”, “Chuột”,
“Chó”… “Malaparte” nghĩa là ngược lại với (Napoléon) Bonaparte, là “la part du
mal” (phần của cái ác), vì chủ đề chính của văn chương Malaparte là cái ác, cái
ác độc địa nhất của con người văn minh nhất.
Ở Việt Nam
hiện nay đã có ba tác phẩm của Malaparte (chắc chỉ có vậy): Kỹ thuật đảo chánh dường như do Thế Uyên
dịch, Thượng đế đã chết trong thành phố
tức La Penne tức La Peau (Da) do Nguyễn Quốc Trụ dịch và Mặt trời mù do Bửu Ý dịch.
-----------
Còn đây là Thomas Bernhard nói về nhiếp ảnh trong Auslöschung. Ein Zerfall (sụp đổ, suy
sụp, chấm dứt), từ bản dịch tiếng Pháp Extinction
của Gilberte Lambrichs:
Ảnh chụp chỉ bày ra khoảnh khắc kệch cỡm và khoảnh khắc khôi
hài, tôi nghĩ, nhìn chung, nó không bày ra con người đúng như thế, trong cả
cuộc đời, ảnh chụp là một cuộc làm giả xảo trá, lệch lạc, mọi loại ảnh chụp, ai
chụp thì cũng thế, chụp ai cũng chẳng mấy quan trọng, đều là một sự vi phạm cực
điểm tới phẩm cách con người, một cuộc làm giả tự nhiên gớm guốc, một trò mọi
rợ nhơ bẩn. […] Với lại, trên đời gần như chẳng có gì khiến tôi căm ghét hơn sự
phô bày của những tấm ảnh. […] trong đời tôi chưa từng bao giờ có cái máy ảnh
nào. Tôi khinh bỉ những kẻ lúc nào cũng chăm chăm chụp ảnh, cứ vơ vẩn khắp mọi
nơi với cái máy ảnh đeo trên cổ. Bọn họ không ngừng kiếm tìm một chủ đề và bọn
họ chụp mọi thứ và bất kỳ cái gì, ngay cả những thứ ngớ ngẩn nhất. Không ngừng,
trong đầu bọn họ chẳng có gì khác ngoài chuyện tự trình mình ra và luôn luôn là
theo cách thức đáng tởm nhất, tuy thế họ không hề ý thức được điều này. Bọn họ
ghim vào những bức ảnh của mình một thế giới bị bóp méo một cách lệch lạc,
chẳng có gì chung với thế giới thực ngoài sự bóp méo lệch lạc kia mà họ là thủ
phạm. Chụp ảnh là một thói tật gớm guốc dần dà phạm tới toàn thể nhân loại, bởi
nhân loại ấy không chỉ yêu đắm đuối sự bóp méo và sự lệch lạc, mà còn mê đắm
chúng và trên thực tế, cứ chụp mãi chụp mãi, lâu dài nó coi cái thế giới bị bóp
méo và lệch lạc là thế giới xác thực duy nhất. Những kẻ chụp ảnh phạm một trong
những tội ác gớm guốc nhất có thể phạm, vì bọn họ biến tự nhiên trở nên kệch
cỡm một cách biến thái trên các bức ảnh của mình. Trên các bức ảnh của họ, con
người trở thành đám búp bê lố bịch, xiên xẹo đến mức khó mà nhận ra được nữa,
bị biến dạng, đúng, hoảng hốt nhìn vào ống kính gớm guốc của bọn họ, trông thật
ngu đần, đáng tởm. Chụp ảnh là một thói đam mê rác rưởi phạm tới mọi châu lục
và mọi tầng lớp dân cư, một chứng bệnh giáng xuống toàn thể loài người mà sẽ
chẳng bao giờ chữa khỏi cho nổi. Người sáng chế ra nghệ thuật chụp ảnh là kẻ
sáng chế ra thứ nghệ thuật ghét người nhất trong số mọi nghệ thuật. Chính bởi
kẻ ấy mà ta có sự bóp méo chung quyết cả tự nhiên lẫn con người sống ở trong
đó, có hình biếm họa lệch lạc của cả tự nhiên và con người. Tôi còn chưa từng
bao giờ thấy dù chỉ một bức ảnh chụp được một người tự nhiên, nói cách khác là
con người thật và xác thực, cũng như chưa từng bao giờ thấy dù chỉ một bức ảnh
chụp được một tự nhiên thật và xác thực. Ảnh chụp là nỗi bất hạnh lớn nhất của
thế kỷ XX. Tôi chưa từng bao giờ thấy tởm hơn khi nhìn các bức ảnh.
Nhân tiện giới thiệu lại bài viết được nhiều người đọc nhất
trên blog của tôi, cũng về chụp
ảnh (lượng người đọc lên đến năm chữ số hehe).
Mar 12, 2012
Sách (LV) Thêm Malaparte
Hóa ra Malaparte đã có khá nhiều trong tiếng Việt. Đây là quyển thứ ba của Malaparte mà tôi tìm được (chú ý trên bìa ghi tên thành Malaparto), không ghi tên dịch giả mà ghi tên nhà xuất bản:
Còn đây là hai bản dịch cùng một cuốn sách. Hồi trước Mr Tin Văn còn dịch quyển nào nữa không?
Feb 2, 2012
Malaparte, Thượng đế etc.
Đây Malaparte:
Trên là Thượng đế đã chết trong thành phố, bản dịch Nguyễn Quốc Trụ, không còn bìa nhưng trông vẫn Vàng Son lắm :p
Dưới là Mặt trời mù, một tiểu thuyết khác của Malaparte, bên cạnh là nguyên bản tiếng Ý.
Nhân Mr. Tin Văn nhắc tới Dieu est né en exil (Thượng đế sinh ra nơi lưu đày) của Horia, nhớ ra tôi từng nói đến nó, search mãi thì ra cái này, viết ngày 29 tháng Năm 2007. Kỳ quặc là đoạn này được viết nhân nói đến Màn của Kundera :p
Tại sao Le Rideau là một cuốn sách không tốt? Là bởi vì so với Kundera nhà viết tiểu luận (Kundera l’essayiste: đề phòng các nhà văn viết tiểu luận nhé. Đặc biệt là giọng điệu áp đặt. Tất nhiên là họ có quyền. Quyền của tài năng, phủ nhận làm sao được. Các trường hợp thuộc dạng này: Nabokov, Calvino, Nguyễn Huy Thiệp) của trước đây Kundera của Le Rideau khác lắm rồi. Nó phản ánh rất chính xác cái vị thế mà một nhà văn không được vinh hạnh chết trẻ nhưng nổi danh từ rất trẻ phải lâm vào (cứ nghĩ Vũ Trọng Phụng 28 tuổi đã kịp làm cả việc rất khó là chết!): đến cuối đời ông ta trở thành một kiểu bù nhìn cho những vinh quang trước đó giật dây. Kundera về cơ bản là không có gì thay đổi trong suốt cả đời (đời này là cái đời tính từ sau khi chàng kịp trốn được thoát khỏi cái danh hiệu nhà thơ ca ngợi Stalin. Bọn phê bình Pháp đểu lắm: khi không chịu đựng nổi mấy cái nhân vật từ xa đến cứ tưởng là chễm chệ ở đó một thời gian ngắn thôi thì hóa ra là cứ đàng hoàng tiên chỉ suốt mãi, chúng nó sẽ chơi thôi. Mới gần đây là hồ sơ chơi gọn cả ba đồng chí Rumani: Cioran, Ioncesco và Eliade, tất tật đều dính dáng đến Đoàn thanh niên Quốc xã ngày xưa. Trong những gì liên quan đến Kundera cũng thế: một luận án tiến sĩ làm ở Thụy Sỹ của Martin Rizek xuất bản mấy năm trước đã lôi tuốt tuột những thứ bị chàng giấu kín tưởng mất tăm mất tích. Hehe, bây giờ mà lục ra được những bài thơ ngày xưa Phạm Thị Hoài viết trong công cuộc chịu sự đào tạo để trở thành Trần Đăng Khoa thứ hai nhể. Những người may mắn không rơi vào trường hợp đó đều là những người có thời gian sống không lâu ở chốn phồn hoa đô hội không thể nào không nhắc đến đó (reference: Hemingway: Paris est une fête. Quel con de fêtard!) Đó là những ai: Tourgueniev, Witord Gombrowicz (đồng chí này sau Ba Lan sống một thời gian dài ở Buenos Aires rồi cuối đời mới sang Paris. Bao giờ Paris cũng cần mấy gương mặt rợ di man mọi cho nó nổi bật. Vua Đồng Khánh như một con khỉ nhé, công chúa Brancovan từ xứ Lỗ Ma Ni nhé. Milosz nhà thơ may mà không sang ở hẳn đó, chứ còn ông anh của đồng chí, cũng nhà thơ – Oskar thì phải – đời có ra gì đâu. Chính Gombrowicz một thời là khuôn mặt Trung Âu nổi bật nhất của Paris, sau khi đã tàn lụi những Kournofski, Maiakovski vân vân và vân vân. Một dạng đại sứ thiện chí/văn hóa của khối các nước láng giềng nhưng xa xa. Khi Kundera lừa lừa chạy khỏi Tiệp mang tiếng sang Rennes dạy học rồi ở lại luôn thì người ta vẫn thích, vì có một người thay thế Gombrowicz. Nhưng thay thì thay cho nó nhanh nhanh chóng chóng, ngờ đâu chàng ở lại luôn một mạch kể từ năm 1981 cho đến giờ, nghĩa là 26 năm phéng nó rồi, thời gian đúng là như bóng câu, không những thế còn lăng nhăng cả lên mấy cái tạp chí như L’Atelier du roman, kết bè kéo cánh đủ mọi loại, và không những thế còn định vươn lên làm nhà văn lớn của tiếng Pháp. Thành ra ba quyển tiểu thuyết gần đây nhất, La Lenteur, L’Identité và L’Ignorance giới phê bình Pháp mang ra bổ cho một trận, quy cho cái tội dốt tiếng Pháp. Mà thật ra tiếng Pháp của Kundera đâu có tồi. Mặc dù nói thì kinh khủng, không thể hiểu đồng chí nói gì, giống kiểu mấy anh dân tộc Tà Lù trên miền núi nói người Kinh chúng ta hiểu làm sao cho nổi bây giờ. Nói đi cũng phải nói lại: mấy quyển đó Kundera khôn kinh, viết toàn câu đơn, mỗi câu như một mệnh đề, từ vựng quanh quẩn, nói chung là giống như trẻ con học sắp xong Abitur viết, nhưng có một cái trí tưởng tượng và lập luận của một ông già. Cũng chính vì hiện tượng kiểu đó một phần nên mới có sự di chuyển tích cực của ba nhân vật kiệt xuất nhất: James Joyce, Elias Canetti và Wladimir Nabokov). Vị thế của Kundera giống như là lưng dựa vào chân tường: nói đi nói lại những điều đã cũ để đỡ mang tiếng nhà văn nhớn mà không mở nổi miệng. Lại còn phải tích cực theo dõi tình hình tendency xem cái gì trendy thì theo ngay. Mà theo không phải lối nghiên cứu tích cực tìm tòi ý tưởng mới mẻ lần tìm về tận nguồn mà cứ búa bổ nói như phán bảo, như rút từ một quyển từ điển bách khoa toàn thư tầm vũ trụ ra. Thời gian ngay trước khi Le Rideau ra đời ở Pháp đang có phong trào theo lối sách của Pascale Casanova, La République mondiale des Lettres, các khoa văn học so sánh Sorbonne đang tìm đến một tầm khái quát hóa cao độ, văn chương thế giới etc. Thế nên có Weltliteratur. Goethe lại được phục sinh. Phía sau bức tường của các nghiên cứu hàn lâm người ta bắt đầu sờ đến các vấn đề như là bắt đầu và kết thúc của văn bản, của tác phẩm, và của văn chương. Thế nên Rimbaud ngóc đầu dậy. Thế là chàng cũng… Vấn đề là những cái kia mấy ai biết, còn Kundera đã viết thì nhiều người đọc. Một mẻ lưới chàng lười của chúng ta quơ được không biết bao nhiêu cá. Kundera là một người đầy chiến lược. Phải theo dõi từng bước cuộc đời của đồng chí mới có thể thấy được. Dĩ nhiên là Kundera đầy tài năng, đầy năng lực, và đầy sự tò mò trí thức. Nhưng nhiều cái chàng có được là nhờ tính toán chính xác. Kundera đang ở chỗ đó: một nhà văn già trở nên bảo thủ và hay nói lại những gì đã nói, nhưng vẫn cố gắng tạo ra một thứ mà anh giai ác khẩu Frédéric Badré (chính ra tôi rất quý đồng chí này) gọi là “chủ nghĩa phản chính thống thời thượng” (trong bản dịch tiếng Việt dịch ra một cách hết sức nhố nhăng là “chủ nghĩa theo thời phái sinh” hốc hốc). Một trong những quyển gần đây nhất tôi có xem qua, Les Revenances de l’histoire của Hamel (mấy đồng chí chuyên nghiệp chú ý: đây là quyển sách chứng minh một cách hết sức chặt chẽ rằng các thứ lý thuyết rất hot cho đến tận bây giờ, và sẽ còn hot ở Việt Nam trong thời gian tới, cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta bẽ bàng nhận ra là mình lại chậm chân mất rồi, đã xong rồi, và cũng đã kịp sai rồi. Tất nhiên sai đúng cần phải hiểu đừng chân phương quá. Các thứ tiểu tự sự bây giờ không còn ở trung tâm nữa, nó quay trở về chỗ vốn có của nó: bên lề. Và tiếp tục rình rình đến lúc nào đó sự buồn chán của người ta lên đến cao độ thì lại nhảy vào. Nhìn chung mọi thứ sẽ cứ như thế thôi. Cái giỏi của người theo dõi là biết được lúc nào là lúc nào. Yes. Còn không thì đến giờ vẫn cứ xưng tụng Bakhtine là thánh nhân. Tôi chả có gì nghi ngờ sự hâm mộ thực sự một số người đặt vào một số chỗ, và ý nghĩa dài lâu của một số học thuyết, nhưng hâm mộ thì cũng phải biết được thực sự là chúng nó đang ở đâu) nói đến một ý thế này: người nào cũng ra sức phát ra những diễn ngôn theo kiểu tôi ở ngoài lề tôi hẻo lánh lắm… Vấn đề này cần suy nghĩ thêm, giờ chỉ làm reference thế thôi.
Tại sao Le Rideau là không tốt (sẽ còn quay trở lại sâu hơn để đi vào văn bản một cách chính danh. Bây giờ lười đứng lên lấy sách trên giá quá. Thật ra là không rõ nó nằm ở đâu nữa. Sách này tôi đọc vài ngày sau khi in. Sau này còn nhìn thấy một quyển có chữ ký tặng của đồng chí Kundera. Ghét nhất là cái thói huyền thoại hóa vô thức thể hiện qua lối gọi tên: Kun, Che…)
Giờ thì chỉ tạm thời thế này thôi. Thêm bonus một cái cuối cùng: trước đây người ta quý Kundera còn ở chỗ đồng chí khai quật mấy Broch, Musil (Kafka thì khỏi kể, trong những năm 50, trước khi Kundera kịp nhớn để thoát khỏi cái bóng của Stalin, Alexandre Vialatte đã có những bản dịch kinh điển, và sau đó Marthe Robert, rồi Roland Barthes đã kịp chiêu tuyết nặng đô cho Kafka rồi). Tôi còn bị lừa, đâm đầu đọc Les Somnambules của Broch, chán suýt ngất. Chính ra cái hay chắc phải là La Mort de Virgile. Đến đây lại là chiều ngược lại của sự dịch chuyển các nhân vật kiệt xuất của Đông và Trung Âu sang Tây Âu (nhớ lại chi tiết “xuất khẩu các nhà thơ trữ tình” từ Tiệp ra nước ngoài nhé): các đồng chí ở các chốn hẻo lánh (có ai biết quê của Cioran, Sibiu, là nằm ở đâu không?) rất hay quan tâm đến các ông lớn ở các chốn trung tâm: ngoài Broch viết La Mort de Virgile như vừa nói còn có Horia, một Lỗ Ma Ni nhân, viết Le dieu est né en exile về đời Horace (đồng chí đại thi sĩ này bị hoàng đế nào đày đi ấy nhỉ, Claude à?) Hoặc gần đây là Hồ Anh Thái với cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi (sẽ có entry riêng về cái vụ vui vẻ này).
-----------
Tôi vẫn muốn có quyển này, vẫn chờ được tặng hehe.
Bonus:
Apr 27, 2010
Chú ý, kiệt tác
Tôi thấy chán ốm cả người khi đọc Tên tôi là Đỏ, nhưng Istanbul quả đúng là một kiệt tác khỏi cần bàn cãi, cuốn sách, như mọi kiệt tác văn chương, duyệt lại quá khứ bằng một cái nhìn hiện tại không giống với bất kỳ cái nhìn nào đã từng có. Với Orhan Pamuk, nước Thổ đã có thiên tài văn chương của họ. Cũng giống như nhiều thiên tài văn chương khác, nhất là ở các nước nhỏ, địa vị của Pamuk luôn chênh vênh trên một lằn ranh giữa ngưỡng mộ và khinh thị, ghen tị, nhất là khi tư tưởng chính trị của Pamuk là tư tưởng chống đối, nhất là chống mọi biểu hiện Hồi giáo cực đoan.
Với một người có đầu óc tự do, sống ở một nước Hồi giáo thật không dễ. Một nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ lại càng không làm cho mọi việc dễ dàng hơn. Chương "Chinh phục hay Suy tàn? Constantinople trở thành Thổ Nhĩ Kỳ" gợi lại quá khứ hỗn hợp Byzance và Ottoman, cùng một lời chỉ trích mạnh mẽ hướng vào nhà nước hồi các sự kiện bạo loạn những năm 1950: "Sau này, như người ta được biết, những kẻ tổ chức cuộc nổi loạn - cơn kinh hoàng kéo dài hai ngày, biến thành phố thành một địa ngục, hơn tất cả những cơn ác mộng Đông phương, khủng khiếp nhất, tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra - đã được sự hỗ trợ của nhà nước, và nhà nước đã làm lễ chúc phúc cho chúng, trước khi chúng ra quân, trong cuộc cướp phá khủng khiếp này" (tr. 259).
Với một người có đầu óc tự do, sống ở một nước Hồi giáo thật không dễ. Một nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ lại càng không làm cho mọi việc dễ dàng hơn. Chương "Chinh phục hay Suy tàn? Constantinople trở thành Thổ Nhĩ Kỳ" gợi lại quá khứ hỗn hợp Byzance và Ottoman, cùng một lời chỉ trích mạnh mẽ hướng vào nhà nước hồi các sự kiện bạo loạn những năm 1950: "Sau này, như người ta được biết, những kẻ tổ chức cuộc nổi loạn - cơn kinh hoàng kéo dài hai ngày, biến thành phố thành một địa ngục, hơn tất cả những cơn ác mộng Đông phương, khủng khiếp nhất, tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra - đã được sự hỗ trợ của nhà nước, và nhà nước đã làm lễ chúc phúc cho chúng, trước khi chúng ra quân, trong cuộc cướp phá khủng khiếp này" (tr. 259).
Subscribe to:
Posts (Atom)