Showing posts with label phan-van-hum. Show all posts
Showing posts with label phan-van-hum. Show all posts

May 7, 2019

Văn chương miền Nam: Hồ Hữu Tường (5): Tạ Thu Thâu (I)

Ngày 7 tháng Năm như hôm nay là ngày của Điện Biên Phủ. Tôi đã quyết định bắt đầu câu chuyện về Đông Dương Indochine bằng chính điểm kết thúc.

Trong lúc tiếp tục thăm dò câu chuyện ấy (thêm một lần nữa: đó là một vùng vẫn còn được biết đến quá ít, và thêm một lần nữa, điều đó bắt nguồn - như trong rất nhiều (phần lớn) chuyện khác - từ trình độ của nghiên cứu nói chung, xét trên diện rộng nhất) - nhân tiện, đã kết thúc bài về "Hội Trí Tri", đó là nơi tôi bắt đầu thử tái lập lịch sử của một dạng thiết chế tưởng chừng không còn gì bí mật nữa - tôi quay lại với câu chuyện Hồ Hữu Tường trên báo Hòa đồng.

Mar 6, 2016

Nhượng Tống dịch Ngọc lê hồn

Nhượng Tống dịch Ngọc lê hồn, dưới nhan đề tiếng Việt Dưới hoa (xem ở đây), xứng đáng được xem là một trong những "ca" đặc biệt nhất trong toàn bộ lịch sử dịch thuật Việt Nam.

Jan 30, 2016

Sebald: Thành

W. S. Sebald, một nhà văn chịu ảnh hưởng lớn từ Robert Walser người nằm chết bên vệ đường trong tuyết trắng, viết những cuốn tiểu thuyết khủng khiếp, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong văn chương tiếng Đức hậu Kafka, nửa sau thế kỷ XX. Austerlitz, xuất bản năm 2001, dễ làm ta nhầm tưởng là tiểu thuyết lịch sử ngả sang quân sự viết về trận Austerlitz lừng danh. Nhưng "Austerlitz" của Sebald là tên một nhân vật, mà "tôi" (những "tôi" của Sebald bao giờ cũng vô cùng đáng nhớ) tình cờ gặp tại thành phố Anvers nước Bỉ (một "account" khác về Anvers tức Antwerp xem ở đây). Anvers nước Bỉ cũng từng để lại cho chính tôi những hình ảnh mạnh mẽ, về một thành phố có rất nhiều người Do Thái, rất nhiều mảng tường đen và rất nhiều cửa hiệu bán kim cương. Tuy không phải là như vậy (về trận Austerlitz) nhưng Sebald trong Austerlitz lại cũng nói nhiều đến quân sự, đến chiến tranh.

Jan 7, 2016

Lệ Thần Trần Trọng Kim

Khi tác phẩm vĩ đại của Trần Trọng Kim đã quay trở lại tráng lệ một cách chói lọi, không thể không dành một chỗ trang trọng cho nhân vật ấy: một... ờ... ờ... mệnh lệnh.

"Bộ tứ" Kim Khôi Nhất Hùm "của tôi" (xem thêm ở đây) cũng sắp trở thành thành ngữ và sống lâu dài rồi.

Sep 25, 2015

Đào Trinh Nhất

Hay là đã đến lúc chúng ta nên bớt tin vào một số danh xưng lưu truyền suốt nhiều năm rồi nhỉ? Bộ tứ "Vĩnh Quỳnh Tố Tốn" có đến mức độ như thế không? Khái niệm "bộ tứ" này lại là một cái gì đó vô cùng đặc vị Hà Nội, cái xứ hễ một tí lại thấy có "Trường An tứ hổ", mỗi thuyết lại khác nhau, đại khái Nguyễn Bá Lân hổ mà ông thân phụ Nguyễn Công Hoàn lại cũng hổ nốt.

Với tôi, nếu có bốn trí thức trước 1945 thực sự kiệt xuất có thể đặt thành "bộ tứ" (lại bộ tứ, đúng đầu óc Bắc Kỳ Hà Nội :p) thì đó là "Kim Khôi Nhất Hùm" (Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất và Phan Văn Hùm). Được cái trong này có hùm có hổ luôn đỡ phải phân vân :p

Jul 18, 2015

Vài dật sự về Nhượng Tống

Nếu trước 1945 ở Việt Nam có một thiên tài văn chương đích thực, đúng nghĩa và trọn vẹn nhất, thì thiên tài ấy là Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân.

Không có đâu như ở Việt Nam, một thiên tài văn chương đã hoàn toàn vắng bóng khỏi văn học sử chính thống. Sau rất nhiều thập kỷ, Nhượng Tống đã gần như bị quên hẳn, một số người có nhắc đến thì hầu như xuất phát từ một sở thích đối với những thứ mờ ảo mà bản thân họ cũng chỉ biết lờ mờ, để tỏ vẻ lập dị, đặc biệt. Phê bình (critique) văn học của Việt Nam vô cùng gần với tội ác (crime) chính ở những trường hợp như thế này. Thật ra suốt gần một thế kỷ qua, các nhà phê bình đã làm gì?

Sep 1, 2014

Những câu chuyện rất là khác


Không chỉ văn chương thường xuyên phải nằm ở những đoạn khác, đến cả lịch sử, cái thứ tưởng chừng đâu "khách quan" và "công bằng", lại cũng như vậy luôn.

Lịch sử nên là một chốn "thanh hoa" (xem thêm ở đây và ở đây :p), nhưng tôi thấy lịch sử giống một cái bể phốt hơn

.

Mar 10, 2010

02. Có mấy loại phê bình?

Phàm đã viết phê bình văn học, người ta không tránh được xu hướng, thậm chí là ham muốn, xếp loại các tác phẩm. Phê bình văn học gần như đồng nghĩa với sắp xếp, định giá, nhưng cũng có người nói rằng xét về từ nguyên, từ “phê bình” (critique) có chung gốc Latinh với từ “tội ác” (crime).

Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).

Oct 16, 2009

Trẻ tuổi và tranh đấu

+ Một bài còn sót lại chưa đăng báo được, giờ cũng chẳng đăng nữa.

Sự kiện có ý nghĩa nhất của dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoài Thanh vừa rồi nằm ở việc xuất bản cuốn sách Hoài Thanh trên báo Tràng An (NXB Hội Nhà văn). Những bài báo do Hoài Thanh viết ở thời tuổi trẻ ấy hứa hẹn sẽ làm cho cách hiểu về ông cũng như các sự kiện quan trọng của lịch sử văn học Việt Nam trước 1945 có thay đổi không nhỏ.

Quả thực, lễ kỷ niệm lớn cùng rất nhiều bài báo ca ngợi tài năng và con người Hoài Thanh không đóng góp được điều gì đáng nói cho nhu cầu tìm hiểu sâu hơn một nhân vật lớn, một nhà phê bình luôn ở trung tâm nền văn học Việt Nam trong suốt nhiều năm. Được nhà nghiên cứu Từ Sơn thực hiện cùng giúp đỡ về tư liệu của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Hoài Thanh trên báo Tràng An đăng lại các bài Hoài Thanh viết đăng trên báo Tràng An của Bùi Huy Tín tại Huế trong hai năm 1935, 1936, giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp của Hoài Thanh: cùng khoảng thời gian cuốn Văn chương và hành động (Hoài Thanh ký tên cùng Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều) bị chính quyền thực dân tịch thu, đồng thời với cuộc tranh cãi giữa Hoài Thanh và nhóm Hải Triều, Phan Văn Hùm, và cũng là không lâu trước khi Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam cùng Hoài Chân.