Oct 19, 2011

Sách (XLVII) Tiểu di

Những quyển như Người lính thuộc địa Nam Kỳ thú vị nhất là nhẩn nha đọc mà nhâm nhi các chi tiết nhỏ xíu, vì ta đã có một độ lùi thời gian rất đáng kể với chủ đề, không bị cái gì thúc vào đít để mà phải đề khí lướt nhanh như Thần Hành Thái Bảo Đới (Đái) Tung kịp đưa một bức thư đóng dấu tuyệt mật nữa, và cũng vì Tạ Chí Đại Trường là một tác giả đặc biệt nhiều chi tiết. Rất nhiều khi đọc Tạ Chí Đại Trường có cảm giác ông nghịch các chi tiết, thích thú và ân cần. Sức mạnh của một sử gia kiểu Tạ Chí Đại Trường (nói "kiểu" cũng không hẳn đúng vì hình như trong ngành sử Việt Nam chẳng ai tỉ mẩn như thế - chuyên gia về các vấn đề tiền cổ thì tỉ mẩn kinh người - mà tỉ mẩn tương đương chắc phải kể đến chỉ một người, là Vương Hồng Sển) là sức mạnh của cái nhìn xuất phát từ vi mô. Độc giả miền Bắc quen lối viết sử của Viện Sử học top down chắc ngạc nhiên và cũng không dễ theo dõi cách bottom up như thế này. Tạ Chí Đại Trường lại còn có một giọng văn riêng, cái đó các sử gia quan phương vĩnh viễn không bao giờ có được.

Tạ Chí Đại Trường thuộc thế hệ vừa tạm xong học hành thì xảy đến 75. Người lính thuộc địa Nam Kỳ là luận án tiến sĩ của ông, nếu xét vào mạch chung thì cũng chung thái độ và mối quan tâm của những người tương đối cùng thời như Nguyễn Thế Anh hay Phan Khoang, nhưng đi thẳng vào chỉ vấn đề lính tráng, lính tập, lính khố xanh, lính mã tà như thế này thì hình như rất khác. Người ta thường quan tâm đến Trương (Công) Định, Võ Duy Dương chứ không quan tâm đến lính tráng của họ, quan tâm đến đối thủ cầm đầu của họ chứ không làm rõ ràng trong đám quân ở phía bên kia có bao phần trăm lính mộ từ mỗi địa phương và các tệ lậu cụ thể như thế nào. Nhìn từ khía cạnh này, câu chuyện của Tạ Chí Đại Trường không xoay quanh Trương Định, Võ Duy Dương nữa, mà lại xoay quanh Trần Bá Lộc hay Đỗ Hữu Phương, những người đắc lực giúp cho người Pháp đàn áp các cuộc nổi dậy của dân bản xứ, những câu chuyện này ít được biết đến hơn nhiều, mặc dù hình như tên họ vẫn còn được đặt cho một số con kênh.

Trong một chú thích tôi đọc thấy khi người Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống lính mới (một phần dựa trên kiểu cơ cấu của thời Đàng cựu nhưng có cải tiến), công văn giấy tờ về huấn luyện lính hay xuất hiện từ "théorie", thế là các thư lại bản xứ nghĩ ra một từ để trỏ cái đó, gọi là "tiểu di" :p

Một chú thích khác đặt ra nghi vấn con của Trương Định là con trai hay con gái, và một giả thiết của Tạ Chí Đại Trường: phải chăng đó là một "người-lại-cái". Vấn đề đó sau này có ai nghiên cứu thêm không nhỉ, bác nào biết không?

-----------

Giở Sát thủ đầu mưng mủ ra xem một lèo hết luôn. Hehe, thế là tôi bị chậm chân rồi, tôi có cả kho thành ngữ tự chế í. Mấy ví dụ nhá:

- Răng hô môi hở vì ăn nhầm bột nở.
- Đời rất dở nhưng vẫn phải niềm nở, đời rất chó nhưng thôi đừng nhăn nhó.
- Yếu thì đừng ra gió, non tơ chớ rờ chỗ hiểm.

Hê hê.


Một bài về Gỗ mun.

Oct 18, 2011

Sách (XLVI) tinh tinh

khoe các bạn nhiều, trêu các bạn nhiều rồi, bây giờ đến sự khoe (và trêu) có tính cách cá nhân :p

Oct 16, 2011

Sách (XLV) mình đâu có ngán gì...

... các bạn :p nhìn nhé hihi



bên trong dĩ nhiên là có minh họa của chính tác giả


(trên đây là bài thơ mang tên "N.B.P", rất chi là thật thà :p)

Oct 15, 2011

nú vồ rịt (tiếp tiếp)


Ra đường nhìn là đã thấy, Bentley cách đây mới vài năm còn là loại xe siêu hạng hiếm như Peugeot (Pơ-giô cá vàng) thời xưa, giờ chạy lung tung dân ngõ còn chẳng thèm ngó. Cái sự giàu đột xuất này còn được chứng nhận bằng lời phát biểu của những người rất có thẩm quyền (nhỉnh hơn sở thuế một chút) trong việc đo lường túi tiền người khác: trên Thể thao & Văn hóa cuối tuần số 42, một ông bầu âm nhạc nói: “người giàu lên ở Hà Nội cũng rất nhiều và vì thế họ muốn có nhiều sự chọn lựa”. Cũng trên số báo này, một tên tuổi khác cho biết: “Tôi đã nhìn thấy ở Hà Nội đang hình thành một lớp người nghe nhạc rất mới, họ chịu khó đi nghe nhạc hơn, chịu khó bỏ tiền mua vé”. Nghe mà mừng cho ngành âm nhạc Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.

Miêu tả và so sánh thì tàm tạm vậy, mặc dù còn ti tỉ chuyện, như là anh A nhờ người trong ngành xuất nhập khẩu mang về cho vài cái ghế nhựa trị giá vài chục nghìn đô mỗi cái, vì là hàng do một nhà tạo mẫu danh tiếng thế giới nào đó làm ra, ngồi tất nhiên là êm hơn ghế khác; như là các chị B, C, D ngồi ở quán cà phê đọc vanh vách túi các chị khác xách đi ngoài đường là hàng hiệu xịn hay hàng hiệu Quảng Châu, rồi cả nhái nước một hay nhái nước hai. Đấy là còn chưa đi vào địa hạt của sự chơi bời và sưu tầm, cái địa hạt được làm nên từ rất nhiều tấm tắc trước một dàn nghe nhạc triệu đô hay ga-ra đỗ những dăm bảy ôtô đua có chiều cao chưa bằng một con chó béc-giê. Vấn đề là phải giải thích tại sao lại như vậy.

Oct 14, 2011

sợ không :pp

tìm lại được một cái ảnh thời sinh viên khậc khậc

Oct 13, 2011

[VCLN] Todorov


Bản sửa 9/12/2011

Thêm: [Tzvetan Todorov. Sinh năm 1939, năm 1970 cùng Gérard Genette lập ra tạp chí Poétique và tủ sách cùng tên. Tác phẩm chính: Théorie de la littérature, textes des formalistes russes, 1965, Littérature et Signification, 1967, Introduction à là littérature fantastique, 1970, Poétique de la prose, 1971, Théories du symbole, 1977, Symbolisme et Interprétation, 1978, Les Genres du discours, 1978, Mikhaïl Bakhtine, le principe dialogique, 1981, Critique de la critique, 1984, La Littérature en péril, 2007.]


Câu hỏi đầu tiên [của tôi] liên quan tới Văn chương lâm nguy, trong đó ông đã viết những lời rất nặng nề về lý thuyết văn học. Sự phê phán ấy là nhằm tới toàn bộ lý thuyết văn học hay chỉ chủ yếu là việc giảng dạy [nó] ở trường trung học? Việc giảng dạy này là vấn đề mà ông nêu ra làm điểm xuất phát, nhưng dù thế nào thì người ta cũng có cảm giác về một dạng khái quát hóa.

Sự phê phán của tôi đối với lý thuyết văn học hướng vào cách người ta sử dụng nó, nhưng không chỉ là ở trường trung học. Quả thực là hướng vào cách sử dụng chứ không phải bản thân các công trình, vì tôi thấy rằng các công trình /vẫn soi rọi được nhiều điều trong cách hiểu văn bản văn học/ [vẫn có nhiều tính chất soi rọi cho việc hiểu văn bản văn học]; /thế nhưng/ [thế mà] cũng có thể /đặt ra rằng/ [nói rằng] chân trời tối hậu của mọi công trình về văn chương là làm người ta hiểu các văn bản hơn. Chẳng hạn, những công trình của người bạn thân thiết và cộng sự của tôi, Gérard Genette, về bản tính các văn bản, cả văn học lẫn không phải văn học, đều rất chính xác, nhiều tính chất xây dựng và soi rọi. /Kể từ đó, mọi thứ phụ thuộc vào cách sử dụng/ [Xuất phát từ đó, mọi thứ tùy thuộc vào cách người ta sử dụng chúng]. Với tôi, điều cốt yếu là làm sao cho phân tích lý thuyết hay hình thức chỉ là [một] phương tiện chứ không phải một mục đích. Lý thuyết văn học không được trở thành một mục đích tự thân; nếu thành ra như thế, /nó sẽ quay trở vào chính nó/ [nó sẽ xoay quanh chính nó], các lý thuyết gia bình luận công trình của các lý thuyết gia khác mà không bao giờ tự hỏi xem những đóng góp lý thuyết ấy có thể cải thiện gì cho việc phân tích văn bản hay không. Phiên bản đầy biếm họa của cách nhìn này phát triển ở trường học, tại Pháp thì là ở trường cấp hai và cấp ba, nơi thay vì các văn bản, học sinh lại học các biện pháp tu từ hay các thủ pháp tự sự. Học sinh biết phân biệt métalepse và paralipse, nhưng chưa bao giờ đọc Hoa ác hay Bà Bovary, cũng không có khả năng nói về những tác phẩm ấy, không có khả năng hiểu tại sao ngày nay những tác giả đó vẫn còn được đọc, những nghĩa nào chi phối tác phẩm của họ và đâu là vị trí của họ trong lịch sử văn hóa Pháp. Tôi thấy một kết quả như thế thật là thảm họa.

Cách sử dụng lý thuyết mà ông phê phán có phải là lý do duy nhất khiến văn chương lâm nguy không, hay ta có thể hình dung ra những /lối đi/ [hướng] khác nhằm giải thích sự suy tàn /có thực/ [có thể] của văn chương? Liệu có phải là quan phương quá không khi quy trách nhiệm sự biến mất của một [nền] văn hóa văn chương cho một sự áp dụng nào đó của lý thuyết vào trong giảng dạy?

Dĩ nhiên, đó không phải lý do duy nhất. Nhưng cuốn sách của tôi xuất phát từ việc /chỉ đích danh vào cách thực hành ở trường học/ [nêu lên thực tiễn học đường], và vì thấy rằng /cách thực hành ở trường học/ [thực tiễn học đường] này thật đáng bàn, tôi đã tìm hiểu những điều biện minh cho nó, tức là bản thân lý thuyết. Nói rõ hơn, [là cái] ý tưởng cho rằng văn chương tồn tại trong một thế giới không có gì chung với thực tại xã hội. Đó là một vị thế lý thuyết đã buộc văn chương phải trở thành một dạng thực hành dành cho một “happy few” [thiểu số hạnh phúc] và làm như thể việc giảng dạy văn chương ở trường trung học chỉ có thể hấp dẫn được các /chuyên gia tương lai của văn chương/ [chuyên gia văn học tương lai], trong khi - theo tôi - lẽ ra nó phải hấp dẫn tất cả những người quan tâm tới thân phận con người! Văn chương, đó là khoa học thứ nhất và tốt nhất về con người. Và chính bởi vậy tôi gán cho nó một vai trò hàng đầu, mang tính chất quyết định đối với giáo dục.

Để quay trở lại với câu hỏi của ông: tất nhiên là có những lý do khác nữa và những lý do khác này tên là sự thương mại hóa, sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông khác, quá trình đám đông hóa các thú vui, những cái đó không nhường lại chỗ cho các khoái lạc theo kiểu chậm chạp như các khoái cảm văn chương. Tôi không thích chơi trò tiên đoán như các Cassandre mà nói rằng: mọi thứ đã kết thúc, không còn văn hóa nữa, không còn văn chương nữa; nhưng tôi thấy là thực sự hiện nay đang có một sự đảo điên nào đó. Tuy nhiên, các lực của xã hội ấy khó kiểm soát và làm chủ hơn nhiều, vì chúng không bao gồm các tác nhân đơn lẻ, những /chủ đề/ [chủ thể] /dễ xác định/ [có thể xác định]. Ngược lại, tại một đất nước tập trung hóa cao độ như Pháp, hoàn toàn có thể hình dung được việc thay đổi giảng dạy ở nhà trường, và một hình ảnh khác về văn chương, một định nghĩa khác, có thể dùng làm điểm xuất phát cho công việc đó. Vậy nên, /cái/ [điều] mà người ta có thể trách cứ ở trường học là [đã] không đóng [được] vai trò của thành trì để kháng cự lại trước những sức ép nảy sinh từ /phía xã hội/ [phần còn lại của xã hội].

Vẫn trong Văn chương lâm nguy, ông phê phán tính chất phi dẫn chiếu [anti-référentialisme] của lý thuyết, việc nó đặt văn chương như /thể/ [một cái gì đó] tách rời khỏi thế giới. /Khi ấy ta sẽ phải nhìn thế nào đối với loại văn chương đi theo hướng ấy một cách hiển ngôn/ [Dòng văn chương phát xuất từ định kiến ấy một cách hiển ngôn sẽ ra sao] (tôi nghĩ đến Mallarmé, Raymond Roussel, Tiểu thuyết Mới): nó có chịu cùng sự phê phán ấy không?

Đối với tôi, sẽ là không hợp thức nếu phê phán các nhà văn bởi vì họ viết theo cách thức này chứ không phải cách thức khác. Điều đó [hẳn] sẽ hàm nghĩa rằng nếu cho họ những lời khuyên tốt, họ sẽ tạo ra được một văn chương hay hơn. Thế nhưng, nếu các nhà văn làm theo những lời khuyên của các lý thuyết gia hoặc những tác giả như tôi, có nhiều nguy cơ là họ sẽ không trở thành các nhà văn giỏi! Trước hết họ phải đi theo một dạng tiếng nói nội tâm, và cách thức viết của họ phải được họ trải nghiệm giống như một sự cần thiết tuyệt đối, chứ không phải như một lời khuyên từ một vị giáo sư có tên tuổi được kính trọng. Vì lẽ đó, sự phê phán của tôi không hướng vào dòng [văn chương] hình thức chủ nghĩa và tự thu vào chính mình/, ở trong văn chương/, cái dòng xuất phát từ Mallarmé cho tới Alain Robbe-Grillet, nếu ta [có thể] tự cho phép mình tạo ra một lối tắt theo kiểu đó (nhưng tất nhiên là /không được phép/ [nên] rồi!), mà là cái phê bình đã phủ vinh quang lên cho nó. Quả đúng là, cá nhân mà nói, tôi rất ít bị thứ văn chương ấy thu hút. Trong những năm 1960, tôi, cũng như nhiều đồng nghiệp khác, ngây ngất trước những sáng tạo hình thức của các tác giả, nhưng không phải vì thế mà tôi ngừng quan tâm đến chủ đề những cuốn sách của họ, đến cái nghĩa mà người ta có thể tìm được ở trong đó, đến các giá trị và các tư tưởng. Trong cuốn sách đầu tiên có đôi chút tiếng tăm của tôi, Dẫn nhập văn chương kỳ ảo (1970), tôi đã nghiên cứu cả các đặc trưng hình thức của thể loại này, cũng như các chủ đề của cái huyền ảo, những quan hệ của nó với lịch sử xã hội hoặc với cơ chế tâm thần của con người. Càng lúc tôi càng thấy rõ hơn rằng người ta không thể cắt đứt văn chương khỏi lịch sử của sự nhạy cảm, của các tâm thức, của các tư tưởng. Theo cách thức tất nhiên là không trực tiếp và không có tính chất sư phạm, nhưng lại là không thể tránh khỏi, văn chương truyền tải một tổng hợp những cách chọn vị thế trong tương quan với thế giới [un ensemble de prises de position sur le monde]. Nếu không có /cái/ [điều] đó, sẽ chẳng ai quan tâm lâu dài đến nó được.

Ông nói rằng ông cũng như nhiều người khác từng ngây ngất với văn chương suy tư, với Mallarmé, với những người khác nữa trong những năm 1960. Vậy với ông sự ngây ngất đó, và rộng hơn là sự can dự của ông vào lý thuyết trong những năm ấy có mang một nghĩa chính trị hay ý hệ không?

Vào lúc đó thì không hề. Sau này, khi xem xét ở bên ngoài công việc của chúng tôi, tôi mới nhận ra rằng nó cũng có một hàm nghĩa có tính chất ý hệ. Khi đến Pháp, hồi đầu những năm 1960, tôi còn chưa làm chủ được hết mọi yếu tố của tình hình, tất nhiên, tôi chỉ là một người mới bắt đầu, hơi có chút loạn hướng. Nhưng hồi đó đã có một dạng tranh đấu về tầm ảnh hưởng giữa chủ nghĩa Marx, từng ngự trị tư tưởng ở đại học trong lĩnh vực của chúng tôi /trong/ suốt chừng mười lăm năm, và cấu trúc luận. Claude Lévi-Strauss đã đưa cấu trúc luận vào trong các ngành khoa học nhân văn, và ông đã chấm dứt bá quyền mác xít. Một trong những trận chiến đó diễn ra vào năm 1962, nếu tôi nhớ không nhầm, khi Lévi-Strauss, trong chương cuối của Suy tư man dã, đã rời bỏ chủ đề cuốn sách của mình để tấn công Sartre và Phê phán lý tính biện chứng. Trong cái giới nơi tôi thường giao du, người ta có cảm giác rằng Lévi-Strauss đã chiến thắng trong /trận chiến/ [cuộc đối đầu] ấy. Đằng sau những tranh luận về phương pháp và các “chủ nghĩa” lấp ló một khuôn khổ chính trị rất rõ ràng.

Như tôi đã viết trong Văn chương lâm nguy, với tôi hàm nghĩa chính trị còn ở xa hơn, vào cái thời tôi còn chưa /sang/ [sống ở] Pháp. Khi nhìn [vào] những năm học tập và những năm ngay tiếp sau đó, tôi thấy có vẻ như hiển nhiên rằng mình từng rất quan tâm đến các nhà hình thức chủ nghĩa người Nga, đến ngôn ngữ học cấu trúc, đến [Louis] Hjelmlev và đến [Roman] Jakobson như là một cách phản ứng lại thứ diễn ngôn thống trị hồi ấy, diễn ngôn của một Kinh Thánh mác xít, lê nin nít, stalin nít. Tôi còn nhớ chuyến viếng thăm đầu tiên của Jakobson tới Sofia, trong một thính đường đông nghịt, tại đó ông đã đọc một bài phân tích ngữ pháp của mình, cái giờ đây với tôi khá là thiếu hụt ở nhiều điểm, nhưng hồi ấy với chúng tôi nó giống như một quả bom vậy. Vì Jakobson có vẻ suy ra nghĩa và vẻ đẹp của một tác phẩm, hôm đó là một bài thơ Bungari mà đứa trẻ con nào ở nước tôi cũng thuộc lòng, chỉ nhờ vào phân tích ngữ pháp và từ vựng. Ông đã sử dụng duy nhất các công cụ của nhà ngôn ngữ học mà không nói một lời tới ý hệ anh hùng hay ái quốc, không phát ngôn những /ý tưởng/ [tư tưởng] mơ hồ; ông /đặt ra/ [làm nổi bật] sự đối nghịch giữa những /tên riêng/ [đại từ nhân xưng], các khía cạnh hoàn thành và không hoàn thành của các động từ! Cứ như là mở một dạng hộp Pandore ra vậy: làm hé lộ cấu trúc bên trong của văn bản cho tới khi ấy vẫn được xem như là một khối. Thế nhưng lựa chọn phương pháp này lại vẫn có một [công dụng] biểu nghĩa chính trị: nó cho phép thoát ra khỏi khuôn khổ mác xít lê nin nít.

Như vậy đó là một lựa chọn “có tính chất phản ứng” đối với Kinh Thánh mác xít/, cả với tư cách một người Bungari lẫn với tư cách một người Pháp/ [cả của Bungari lẫn của Pháp]. Nhưng /có phải/ việc ông tham gia cấu trúc luận còn có các lý do hay cách biện minh thực sự chính trị nữa không, những thứ độc lập với những gì đã cho phép ông chấm dứt việc đó?

Tôi nghĩ rằng ở đây, chắc hẳn mọi thứ còn tùy thuộc mỗi người, và tôi chỉ có thể nói về mình, có thể cả về G. Genette vì chúng tôi rất gần gũi với nhau trong giai đoạn ấy. Tôi sẽ nói là không, với chúng tôi không có mục tiêu chính trị nào cho dù là mang tính chất nào /hết/ [đi nữa]. Nhưng tôi còn nhớ là với những người khác, chẳng hạn với J. Kristeva hay P. Sollers, câu chuyện rất khác. P. Sollers không viết phê bình văn học nhưng ông ấy đã rất hào hứng đón nhận các nhà hình thức chủ nghĩa Nga trong tủ sách “Tel Quel” mà ông ấy điều hành. Có thể là với ông ấy, trong lựa chọn đó còn có gì đó nhiều hơn một triển vọng đơn thuần về việc có thể nghiên cứu các văn bản văn học tốt hơn. Nhưng với G. Genette và tôi, cũng như với một số người khác tập trung xung quanh chúng tôi, hồi ấy không hề có một chương trình chính trị nào hết.

Đó có phải là một trong những lý do khiến rốt cuộc ông đã nhanh chóng rời xa lý thuyết văn học, lại còn đúng vào thời điểm nó bước vào /thời kỳ/ [giai đoạn] thứ hai, khi chính trị là thứ trở nên nổi bật hơn hẳn, ở phía nhóm Tel Quel cũng như với các bộ máy lớn hay được gọi là hậu hiện đại?

Tôi phải thú nhận rằng tôi thấy rất khó bình luận tiến triển ấy, bởi tôi đã rất nhanh chóng hết quan tâm tới dòng này. Về những gì liên quan đến một mình tôi, tiến triển đó gắn liền với việc tôi nhập vào nước Pháp và, nhìn rộng hơn, vào cuộc đời. Tôi luôn luôn nói là thời gian ấy có hai sự kiện đánh dấu quan trọng đối với tôi: tôi nhập quốc tịch Pháp vào năm 1973 và trở thành bố vào năm 1974. Những sự kiện này theo cách nào đó đã khiến cho tôi chạm chân xuống mặt đất và dẫn tôi đi tới chỗ tìm kiếm một sự tiếp nối giữa tồn tại của tôi và công việc của tôi. Điều này dần dà đã đưa tôi đi về phía một cách lựa chọn vị thế có nhiều tính chất chính trị hơn /nhiều/. Vậy nên giờ đây tôi có thể viết được những cuốn sách về chủ nghĩa toàn trị, về chiến tranh ở Irak, về thái độ đối với người nhập cư ở Pháp, v.v…: những vấn đề chính trị nóng bỏng như thế từng ở cách xa tâm trí tôi vào năm 1965 đến hàng nghìn dặm.

Ông còn yêu quý điều gì trong lý thuyết văn học?

Tôi yêu quý sự nghiêm cẩn của nó và do đó là tất cả những gì nó có thể mang lại cho tôi để cho phép tôi đọc các văn bản tốt hơn. Từ quan điểm này, tôi không hề tiếc đã bỏ ra chừng mười năm để /dấn thân hết sức lực/ [dồn hết sức lực dấn thân] vào việc tạo ra những công cụ phân tích văn bản. Tôi vẫn luôn luôn sử dụng các công cụ này để hiểu rõ hơn những âm vọng của một hình ảnh hay các hiệu ứng của một cấu trúc tự sự.

Ngày nay lý thuyết văn học có còn tồn tại hay không, ta có còn cần đến lý thuyết hay không, rồi tới một ngày ta có lại cần đến nó hay không?

Đây là câu hỏi mà tôi không thể thực sự trả lời được vì tôi không biết trong lý thuyết văn học hiện nay /đang có những gì/ [người ta đang làm gì], tôi không biết đâu - tôi chỉ trả lời được như vậy thôi. Nhưng có một chỗ cho lý thuyết văn học hay không à? Dù thế nào đi nữa thì cũng có chỗ cho suy tư về các môn nghệ thuật, và do vậy là cả về văn chương nữa. Tôi không biết liệu nó có mang hình thức khá là nhiều biệt ngữ của một diễn ngôn chuyên môn hóa chỉ dành cho các chuyên gia hay không, nhưng, dù thế nào đi nữa, cũng phải tiếp tục suy tư về nghệ thuật. Công trình mới nhất của tôi, mới hoàn thành vào mùa hè vừa rồi - tôi nói với ông là vì nó có liên quan tới câu hỏi của ông - là về một lý thuyết gia và /nhà triết học/ [triết gia] nữ người Anh, Iris Murdoch: tôi thấy suy tư về văn chương của bà ấy rất dồi dào, vậy nên tôi muốn hiểu bà ấy hơn và định vị bà ấy vào trong lịch sử tư tưởng văn học.

---------------------

Vụ này bây giờ mới thực là bắt đầu.

Câu hỏi đầu tiên liên quan tới Văn chương lâm nguy, trong đó ông đã viết những lời rất nặng nề về lý thuyết văn học. Sự phê phán ấy là nhằm tới toàn bộ lý thuyết văn học hay chỉ chủ yếu là việc giảng dạy ở trường trung học? Việc giảng dạy này là vấn đề mà ông nêu ra làm điểm xuất phát, nhưng dù thế nào thì người ta cũng có cảm giác về một dạng khái quát hóa.

Sự phê phán của tôi đối với lý thuyết văn học hướng vào cách người ta sử dụng nó, nhưng không chỉ là ở trường trung học. Quả thực là hướng vào cách sử dụng chứ không phải bản thân các công trình, vì tôi thấy rằng các công trình vẫn soi rọi được nhiều điều trong cách hiểu văn bản văn học; thế nhưng cũng có thể đặt ra rằng chân trời tối hậu của mọi công trình về văn chương là làm người ta hiểu các văn bản hơn. Chẳng hạn, những công trình của người bạn thân thiết và cộng sự của tôi, Gérard Genette, về bản tính các văn bản, cả văn học lẫn không phải văn học, đều rất chính xác, nhiều tính chất xây dựng và soi rọi. Kể từ đó, mọi thứ phụ thuộc vào cách sử dụng. Với tôi, điều cốt yếu là làm sao cho phân tích lý thuyết hay hình thức chỉ là phương tiện chứ không phải một mục đích. Lý thuyết văn học không được trở thành một mục đích tự thân; nếu thành ra như thế, nó sẽ quay trở vào chính nó, các lý thuyết gia bình luận công trình của các lý thuyết gia khác mà không bao giờ tự hỏi xem những đóng góp lý thuyết ấy có thể cải thiện gì cho việc phân tích văn bản hay không. Phiên bản đầy biếm họa của cách nhìn này phát triển ở trường học, tại Pháp thì là ở trường cấp hai và cấp ba, nơi thay vì các văn bản, học sinh lại học các biện pháp tu từ hay các thủ pháp tự sự. Học sinh biết phân biệt métalepse và paralipse[1], nhưng chưa bao giờ đọc Hoa ác hay Bà Bovary, cũng không có khả năng nói về những tác phẩm ấy, không có khả năng hiểu tại sao ngày nay những tác giả đó vẫn còn được đọc, những nghĩa nào chi phối tác phẩm của họ và đâu là vị trí của họ trong lịch sử văn hóa Pháp. Tôi thấy một kết quả như thế thật là thảm họa.

Cách sử dụng lý thuyết mà ông phê phán có phải là lý do duy nhất khiến văn chương lâm nguy không, hay ta có thể hình dung ra những lối đi khác nhằm giải thích sự suy tàn có thực của văn chương? Liệu có phải là quan phương quá không khi quy trách nhiệm sự biến mất của một văn hóa văn chương cho một sự áp dụng nào đó của lý thuyết vào trong giảng dạy?

Dĩ nhiên, đó không phải lý do duy nhất. Nhưng cuốn sách của tôi xuất phát từ việc chỉ đích danh vào cách thực hành ở trường học, và vì thấy rằng cách thực hành ở trường học này thật đáng bàn, tôi đã tìm hiểu những điều biện minh cho nó, tức là bản thân lý thuyết. Nói rõ hơn, ý tưởng cho rằng văn chương tồn tại trong một thế giới không có gì chung với thực tại xã hội. Đó là một vị thế lý thuyết đã buộc văn chương phải trở thành một dạng thực hành dành cho một “happy few” [thiểu số hạnh phúc] và làm như thể việc giảng dạy văn chương ở trường trung học chỉ có thể hấp dẫn được các chuyên gia tương lai của văn chương, trong khi - theo tôi - lẽ ra nó phải hấp dẫn tất cả những người quan tâm tới thân phận con người! Văn chương, đó là khoa học thứ nhất và tốt nhất về con người. Và chính bởi vậy tôi gán cho nó một vai trò hàng đầu, mang tính chất quyết định đối với giáo dục.

Để quay trở lại với câu hỏi của ông: tất nhiên là có những lý do khác nữa và những lý do khác này tên là sự thương mại hóa, sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông khác, quá trình đám đông hóa các thú vui, những cái đó không nhường lại chỗ cho các khoái lạc theo kiểu chậm chạp như các khoái cảm văn chương. Tôi không thích chơi trò tiên đoán như các Cassandre[2] mà nói rằng: mọi thứ đã kết thúc, không còn văn hóa nữa, không còn văn chương nữa; nhưng tôi thấy là thực sự hiện nay đang có một sự đảo điên nào đó. Tuy nhiên, các lực của xã hội ấy khó kiểm soát và làm chủ hơn nhiều, vì chúng không bao gồm các tác nhân đơn lẻ, những chủ đề dễ xác định. Ngược lại, tại một đất nước tập trung hóa cao độ như Pháp, hoàn toàn có thể hình dung được việc thay đổi giảng dạy ở nhà trường, và một hình ảnh khác về văn chương, một định nghĩa khác, có thể dùng làm điểm xuất phát cho công việc đó. Vậy nên, cái mà người ta có thể trách cứ ở trường học là không đóng vai trò của thành trì để kháng cự lại trước những sức ép nảy sinh từ phía xã hội.

Vẫn trong Văn chương lâm nguy, ông phê phán tính chất phi dẫn chiếu của lý thuyết, việc nó đặt văn chương như thể tách rời khỏi thế giới. Khi ấy ta sẽ phải nhìn thế nào đối với loại văn chương đi theo hướng ấy một cách hiển ngôn (tôi nghĩ đến Mallarmé, Raymond Roussel, Tiểu thuyết Mới): nó có chịu cùng sự phê phán ấy không?

Đối với tôi, sẽ là không hợp thức nếu phê phán các nhà văn bởi vì họ viết theo cách thức này chứ không phải cách thức khác. Điều đó sẽ hàm nghĩa rằng nếu cho họ những lời khuyên tốt, họ sẽ tạo ra được một văn chương hay hơn. Thế nhưng, nếu các nhà văn làm theo những lời khuyên của các lý thuyết gia hoặc những tác giả như tôi, có nhiều nguy cơ là họ sẽ không trở thành các nhà văn giỏi! Trước hết họ phải đi theo một dạng tiếng nói nội tâm, và cách thức viết của họ phải được họ trải nghiệm giống như một sự cần thiết tuyệt đối, chứ không phải như một lời khuyên từ một vị giáo sư có tên tuổi được kính trọng. Vì lẽ đó, sự phê phán của tôi không hướng vào dòng hình thức chủ nghĩa và tự thu vào chính mình, ở trong văn chương, cái dòng xuất phát từ Mallarmé cho tới Alain Robbe-Grillet, nếu ta tự cho phép mình tạo ra một lối tắt theo kiểu đó (nhưng tất nhiên là không được phép rồi!), mà là cái phê bình đã phủ vinh quang lên cho nó. Quả đúng là, cá nhân mà nói, tôi rất ít bị thứ văn chương ấy thu hút. Trong những năm 1960, tôi, cũng như nhiều đồng nghiệp khác, ngây ngất trước những sáng tạo hình thức của các tác giả, nhưng không phải vì thế mà tôi ngừng quan tâm đến chủ đề những cuốn sách của họ, đến cái nghĩa mà người ta có thể tìm được ở trong đó, đến các giá trị và các tư tưởng. Trong cuốn sách đầu tiên có đôi chút tiếng tăm của tôi, Dẫn nhập văn chương kỳ ảo (1970), tôi đã nghiên cứu cả các đặc trưng hình thức của thể loại này, cũng như các chủ đề của cái huyền ảo, những quan hệ của nó với lịch sử xã hội hoặc với cơ chế tâm thần của con người. Càng lúc tôi càng thấy rõ hơn rằng người ta không thể cắt đứt văn chương khỏi lịch sử của sự nhạy cảm, của các tâm thức, của các tư tưởng. Theo cách thức tất nhiên là không trực tiếp và không có tính chất sư phạm, nhưng lại là không thể tránh khỏi, văn chương truyền tải một tổng hợp những cách chọn vị thế trong tương quan với thế giới. Nếu không có cái đó, sẽ chẳng ai quan tâm lâu dài đến nó được.

Ông nói rằng ông cũng như nhiều người khác từng ngây ngất với văn chương suy tư, với Mallarmé, với những người khác nữa trong những năm 1960. Vậy với ông sự ngây ngất đó, và rộng hơn là sự can dự của ông vào lý thuyết trong những năm ấy có mang một nghĩa chính trị hay ý hệ không?

Vào lúc đó thì không hề. Sau này, khi xem xét ở bên ngoài công việc của chúng tôi, tôi mới nhận ra rằng nó cũng có một hàm nghĩa có tính chất ý hệ. Khi đến Pháp, hồi đầu những năm 1960, tôi còn chưa làm chủ được hết mọi yếu tố của tình hình, tất nhiên, tôi chỉ là một người mới bắt đầu, hơi có chút loạn hướng. Nhưng hồi đó đã có một dạng tranh đấu về tầm ảnh hưởng giữa chủ nghĩa Marx, từng ngự trị tư tưởng ở đại học trong lĩnh vực của chúng tôi trong suốt chừng mười lăm năm, và cấu trúc luận. Claude Lévi-Strauss đã đưa cấu trúc luận vào trong các ngành khoa học nhân văn, và ông đã chấm dứt bá quyền mác xít. Một trong những trận chiến đó diễn ra vào năm 1962, nếu tôi nhớ không nhầm, khi Lévi-Strauss, trong chương cuối của Suy tư man dã, đã rời bỏ chủ đề cuốn sách của mình để tấn công Sartre và Phê phán lý tính biện chứng. Trong cái giới nơi tôi thường giao du, người ta có cảm giác rằng Lévi-Strauss đã chiến thắng trong trận chiến ấy. Đằng sau những tranh luận về phương pháp và các “chủ nghĩa” lấp ló một khuôn khổ chính trị rất rõ ràng.

Như tôi đã viết trong Văn chương lâm nguy, với tôi hàm nghĩa chính trị còn ở xa hơn, vào cái thời tôi còn chưa sang Pháp. Khi nhìn những năm học tập và những năm ngay tiếp sau đó, tôi thấy có vẻ như hiển nhiên rằng mình từng rất quan tâm đến các nhà hình thức chủ nghĩa người Nga, đến ngôn ngữ học cấu trúc, đến Hjelmlev và đến Jakobson như là một cách phản ứng lại thứ diễn ngôn thống trị hồi ấy, diễn ngôn của một Kinh Thánh mác xít, lê nin nít, stalin nít. Tôi còn nhớ chuyến viếng thăm đầu tiên của Jakobson tới Sofia, trong một thính đường đông nghịt, tại đó ông đã đọc một bài phân tích ngữ pháp của mình, cái giờ đây với tôi khá là thiếu hụt ở nhiều điểm, nhưng hồi ấy với chúng tôi nó giống như một quả bom vậy. Vì Jakobson có vẻ suy ra nghĩa và vẻ đẹp của một tác phẩm, hôm đó là một bài thơ Bungari mà đứa trẻ con nào ở nước tôi cũng thuộc lòng, chỉ nhờ vào phân tích ngữ pháp và từ vựng. Ông đã sử dụng duy nhất các công cụ của nhà ngôn ngữ học mà không nói một lời tới ý hệ anh hùng hay ái quốc, không phát ngôn những ý tưởng mơ hồ; ông đặt ra sự đối nghịch giữa những tên riêng, các khía cạnh hoàn thành và không hoàn thành của các động từ! Cứ như là mở một dạng hộp Pandore ra vậy: làm hé lộ cấu trúc bên trong của văn bản cho tới khi ấy vẫn được xem như là một khối. Thế nhưng lựa chọn phương pháp này lại vẫn có một biểu nghĩa chính trị: nó cho phép thoát ra khỏi khuôn khổ mác xít lê nin nít.

Như vậy đó là một lựa chọn “có tính chất phản ứng” đối với Kinh Thánh mác xít, cả với tư cách một người Bungari lẫn với tư cách một người Pháp. Nhưng có phải việc ông tham gia cấu trúc luận còn có các lý do hay cách biện minh thực sự chính trị nữa không, những thứ độc lập với những gì đã cho phép ông chấm dứt việc đó?

Tôi nghĩ rằng ở đây, chắc hẳn mọi thứ còn tùy thuộc mỗi người, và tôi chỉ có thể nói về mình, có thể cả về G. Genette vì chúng tôi rất gần gũi với nhau trong giai đoạn ấy. Tôi sẽ nói là không, với chúng tôi không có mục tiêu chính trị nào cho dù là mang tính chất nào hết. Nhưng tôi còn nhớ là với những người khác, chẳng hạn với J. Kristeva hay P. Sollers, câu chuyện rất khác. P. Sollers không viết phê bình văn học nhưng ông ấy đã rất hào hứng đón nhận các nhà hình thức chủ nghĩa Nga trong tủ sách “Tel Quel” mà ông ấy điều hành. Có thể là với ông ấy, trong lựa chọn đó còn có gì đó nhiều hơn một triển vọng đơn thuần về việc có thể nghiên cứu các văn bản văn học tốt hơn. Nhưng với G. Genette và tôi, cũng như với một số người khác tập trung xung quanh chúng tôi, hồi ấy không hề có một chương trình chính trị nào hết.

Đó có phải là một trong những lý do khiến rốt cuộc ông đã nhanh chóng rời xa lý thuyết văn học, lại còn đúng vào thời điểm nó bước vào thời kỳ thứ hai, khi chính trị là thứ trở nên nổi bật hơn hẳn, ở phía nhóm Tel Quel cũng như với các bộ máy lớn hay được gọi là hậu hiện đại?

Tôi phải thú nhận rằng tôi thấy rất khó bình luận tiến triển ấy, bởi tôi đã rất nhanh chóng hết quan tâm tới dòng này. Về những gì liên quan đến một mình tôi, tiến triển đó gắn liền với việc tôi nhập vào nước Pháp và, nhìn rộng hơn, vào cuộc đời. Tôi luôn luôn nói là thời gian ấy có hai sự kiện đánh dấu quan trọng đối với tôi: tôi nhập quốc tịch Pháp vào năm 1973 và trở thành bố vào năm 1974. Những sự kiện này theo cách nào đó đã khiến cho tôi chạm chân xuống mặt đất và dẫn tôi đi tới chỗ tìm kiếm một sự tiếp nối giữa tồn tại của tôi và công việc của tôi. Điều này dần dà đã đưa tôi đi về phía một cách lựa chọn vị thế có nhiều tính chất chính trị hơn nhiều. Vậy nên giờ đây tôi có thể viết được những cuốn sách về chủ nghĩa toàn trị, về chiến tranh ở Irak, về thái độ đối với người nhập cư ở Pháp, v.v…: những vấn đề chính trị nóng bỏng như thế từng ở cách xa tâm trí tôi vào năm 1965 đến hàng nghìn dặm.

Ông còn yêu quý điều gì trong lý thuyết văn học?

Tôi yêu quý sự nghiêm cẩn của nó và do đó là tất cả những gì nó có thể mang lại cho tôi để cho phép tôi đọc các văn bản tốt hơn. Từ quan điểm này, tôi không hề tiếc đã bỏ ra chừng mười năm để dấn thân hết sức lực vào việc tạo ra những công cụ phân tích văn bản. Tôi vẫn luôn luôn sử dụng các công cụ này để hiểu rõ hơn những âm vọng của một hình ảnh hay các hiệu ứng của một cấu trúc tự sự.

Ngày nay lý thuyết văn học có còn tồn tại hay không, ta có còn cần đến lý thuyết hay không, rồi tới một ngày ta có lại cần đến nó hay không?

Đây là câu hỏi mà tôi không thể thực sự trả lời được vì tôi không biết trong lý thuyết văn học hiện nay đang có những gì, tôi không biết đâu - tôi chỉ trả lời được như vậy thôi. Nhưng có một chỗ cho lý thuyết văn học hay không à? Dù thế nào đi nữa thì cũng có chỗ cho suy tư về các môn nghệ thuật, và do vậy là cả về văn chương nữa. Tôi không biết liệu nó có mang hình thức khá là nhiều biệt ngữ của một diễn ngôn chuyên môn hóa chỉ dành cho các chuyên gia hay không, nhưng, dù thế nào đi nữa, cũng phải tiếp tục suy tư về nghệ thuật. Công trình mới nhất của tôi, mới hoàn thành vào mùa hè vừa rồi - tôi nói với ông là vì nó có liên quan tới câu hỏi của ông - là về một lý thuyết gia và nhà triết học nữ người Anh, Iris Murdoch: tôi thấy suy tư về văn chương của bà ấy rất dồi dào, vậy nên tôi muốn hiểu bà ấy hơn và định vị bà ấy vào trong lịch sử tư tưởng văn học.


(trích từ Vincent Kaufmann, La Faute à Mallarmé. L’aventure de la théorie littéraire [Lỗi của Mallarmé. Cuộc phiêu lưu của lý thuyết văn học], Seuil, 2011, tr. 308-314)


[1] Hai biện pháp tu từ và cũng là thủ pháp trong tự sự: métalepse là khi dòng tự sự bị ngắt lại để nhường chỗ cho người kể chuyện lên tiếng, còn paralipse là khi người phát ngôn vờ như mình đang bỏ qua điều gì đó nhưng kỳ thực là để nhấn mạnh vào đó.
[2] Nhân vật của thần thoại Hy Lạp, có tài tiên đoán những điều bi thảm nhưng không bao giờ được tin lời.

Oct 12, 2011

Hồ Anh Thái không viết tiểu thuyết


Cuốn tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái, SBC là săn bắt chuột (NXB Trẻ), hẳn khiến nhiều người, nhất là những người ưa thích phong cách của ông (một phong cách rất chịu khó thay đổi), thấy thú vị, thậm chí rất thú vị, và quả thực đã nhiều người lên tiếng khen ngợi. Đây là một tiểu thuyết đầy nhạy bén, tiết tấu nhanh và rất mềm mại, uyển chuyển. Nhưng theo tôi, dự định về đọc một cuốn tiểu thuyết nhanh chóng chuyển hướng sang một chuyện khác: người ta đọc để đoán xem nhân vật (các nhân vật chính: Chàng, Nàng, cô Báo, chú Thơ, Đại Gia, ông Cốp, Luật Sư, Thư Ký, Giáo Sư; ngoài ra còn có một tuyến nhân vật chuột, chủ yếu gồm Chuột Trùm và hai bà vợ, cùng Chuột Quang) là những ai ở ngoài đời thật.

Bởi trên thực tế, tuyệt đại đa số nhân vật người ở đây đều bước thẳng từ cuộc sống thực vào truyện, có những chỗ tác giả còn không mấy nhọc công gia cố tính chất hư cấu. Chẳng cần quá rành về một số giới cũng dễ dàng nhận ra một ai đó trong câu chuyện mà Hồ Anh Thái kể, thậm chí có những lúc nhà văn còn dùng câu chuyện nhằm “tính sổ” cho vài vụ việc mà ông từng gặp trong đời.

Cái đáng nói là liều lượng của thủ pháp này (nếu có thể gọi đây là một “thủ pháp). Không ai cấm nhà văn lấy nguyên mẫu ngoài đời để xây dựng nhân vật, nhưng Hồ Anh Thái đã quá đà (theo tôi, nét nổi bật của SBC… chính là tính chất quá đà). Khi nhân vật nào của cuốn tiểu thuyết cũng có thể nhanh chóng suy ngược ra con người có thực, với một nồng độ tiểu sử thực tế rất đậm, thì rất khó nói một cuốn sách mang danh hiệu thể loại “tiểu thuyết” trên bìa vẫn còn đúng là tiểu thuyết. Ngoài một số chỗ nhào nặn, hư cấu thêm, hoặc ghép đặc điểm, nét tiểu sử của nhiều người vào cho một nhân vật, có thể nói rằng toàn bộ SBC… là một chuỗi người thật được ghép vào một câu chuyện không thể nói là không hấp dẫn xung quanh chuột và chuyện diệt chuột. Cách làm này khác xa ý hướng về một cuốn tiểu thuyết, mà nếu không sợ quá lời tôi sẽ nói nó gần với phong cách những tờ báo viết về chuyện thật nhưng đề tên đối tượng là X là Y là Z hơn.

Tham vọng của Hồ Anh Thái là đưa ra một bức tranh biếm họa nhiều hạng người trong xã hội, nhất là cái xã hội ngày nay người ta hay gọi là “thị dân”. Một tham vọng rất lớn thể hiện ở tên 11 chương rất rõ tính chất hoạt kê ngay từ tiêu đề: “Ai sợ chuột đừng đọc chương này”, “Ai giàu xổi đừng đọc chương này”, “Ai giáo sư đừng đọc chương này”… và lẽ ra nó cũng có thể rất thành công ở phương diện hoạt kê nếu thể hiện được sức mạnh của hư cấu, nhưng bởi không như vậy, cuốn sách này giống như một tập hợp tiểu phẩm mắc chứng đùa dai và cũng không mấy hài hước. Vì tham vọng bao quát quá lớn, trong SBC… ta thấy vô số sự kiện mới đây như trận lụt ở Hà Nội, chuyện người vùng nào đó ăn đất, cho đến cả chuyện hôi của từ xe chở hàng ở ngoài đường, tất cả được cố gắng nhồi nhét vào bên trong một dung lượng tương đối nhỏ.

Nó không hài hước chính vì nó quá cố hài hước. Nhìn từ khía cạnh ngôn từ, sự “quá đà” của Hồ Anh Thái thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. SBC… chính là một phản ví dụ lớn cho những ý kiến lâu nay vẫn tràn lan trong giới nhà văn nhiều kinh nghiệm mỗi khi muốn “truyền đạt” lại điều gì đó cho thế hệ sau. Lời khuyên của họ, rằng nhà văn trẻ phải giàu trải nghiệm, rằng nhà văn trẻ phải thu thập vốn sống, rằng cuộc sống thì sôi động và nhiều vấn đề thế kia sao không lặn ngụp trong đó vân vân và vân vân, lời khuyên ấy hóa ra lại là rất nguy hiểm. Bởi ngay một nhà văn lão luyện, tác giả của rất nhiều tác phẩm trong đó không ít xuất sắc như Hồ Anh Thái, do quá say mê theo dõi cuộc sống, đã bị nó hớp hồn giống các nhân vật trong SBC… mất trọng lượng khi nhìn vào mắt Chuột Trùm. Nhà văn quá say mê đời sống mà không tự tạo cho mình độ lùi cũng có thể dẫn tới những tác phẩm duyên dáng mà vẫn lẩm cẩm, tung vào vô số chuyện cười mà vẫn rất mực nhạt nhẽo.

Những câu như: “vô tư hồn nhiên, gọi tắt là vô hồn” (tr. 11), những cách nói đường phố: “minh hồi”, “kẹp díp với bồ” rồi “chia sim rẽ dế”, những thành ngữ kiểu mới: “nuôi ong tay áo nuôi cáo trong nhà nuôi ma trong máy tính” (tr. 75) được dùng quá tràn lan và với niềm thích thú quá lớn nhưng lại thiếu sức mạnh của hư cấu không thô ráp, xù xì nổi mà cứ trơn chuội đi. Hình như Hồ Anh Thái đi ngược lại chính lời “tự răn” của ông về nghề văn được phát biểu rất rõ ràng ở trang 107 của cuốn tiểu thuyết: “… người viết văn không phải vì thế mà bạ gì cũng viết. Biết sử dụng chữ cũng phải thận trọng như biết dùng súng dùng dao. Không khéo thì sẩy tay cướp cò. Trúng vào người vô tình ngang qua. Trúng vào chính mình […] Chớ viết nhờn tay quen tay. Chớ viết vì ngứa chân ngứa tay ngứa da đầu”.

Cao Việt Dũng