Nov 9, 2011

Sách (XLIX) minh họa

Đây trường ca :d


Hai cái bên tay trái là các tuyệt tác của một thời.

Bìa quyển ngoài cùng bên trái là do nhà thơ Hoàng Hữu vẽ; Hoàng Hữu là tác giả những câu thơ sau:

"Chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa
Tên anh như nửa trăng mờ tỏ
Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời
Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào trên cỏ ướt
Trăng từng giọt tan vào em mặn chát
Em đã khóc nhưng làm sao tới được
Bến bờ anh tim dội sóng khôn cùng"

(chép lại theo trí nhớ)

Nov 7, 2011

Hai chữ "truyền bá"

Quyết định ngày 1 tháng Mười một của Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh do bà Trần Thị Ngọc Hương, Chánh Thanh tra Sở, ký liên quan đến tập truyện ngắn Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên (Phương Nam & NXB Hội Nhà văn 2011, in xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2011) gây sửng sốt vì nhiều lẽ.

Thứ nhất là mức độ quyết liệt, có thể nói là cứng rắn của nó. Điều này là hiếm thấy trong các vụ việc liên quan tới thu hồi ấn bản phẩm xưa nay. Cách làm ta thường chứng kiến là các quyết định xử lý quy sai phạm về quy trình xuất bản, chẳng hạn tên sách in ra khác với tên sách khi đăng ký, người ký duyệt bản thảo không đủ thẩm quyền, không nộp lưu chiểu hoặc nộp lưu chiểu muộn… mặc dù lý do chính yếu của động thái từ phía cơ quan quản lý có thể là khác. Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông nhận quyết định thu hồi với những lý do rất cụ thể, đi thẳng vào nội dung sách: “truyền bá lối sống dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”.

Điều gây sửng sốt thứ hai là hành động cương quyết này (cương quyết đến nỗi nhấn mạnh rằng “Việc khiếu nại [từ phía công ty liên kết xuất bản cuốn sách, tức Phương Nam] không làm đình chỉ việc thi hành quyết định xử phạt”) được đưa ra rất muộn. Cuốn sách được in và nộp lưu chiểu vào quý II năm 2011, còn quyết định trên đây lại được đưa ra vào giữa quý IV năm 2011. Theo tôi, quyết định này đi ngược lại tinh thần của Luật Xuất bản 2004, được sửa đổi, bổ sung vào tháng Sáu 2008 và bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2009, bởi trong luật, điều 27 và 28 đã quy định rõ về “Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu và nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam” và “Đọc xuất bản phẩm lưu chiểu”, trong đó Điểm a Khoản 1 Điều 27 nói tới thời hạn “mười ngày” của việc nộp lưu chiểu; sang đến Khoản 1 Điều 28 thì rất rõ ràng: “Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức đọc xuất bản phẩm lưu chiểu”. Trong thực tiễn, những cuốn sách sau mười ngày mà không có thông báo gì thì coi như là được lưu hành bình thường. Vậy mà Sở Thông tin và Truyền thông đợi đến gần sáu tháng mới ra quyết định thu hồi một cuốn sách. Có cảm giác sự cương quyết của Sở xuất phát một phần từ việc họ đã không hoàn thành trách nhiệm theo luật định. Hành động này cũng cho thấy cơ quan quản lý không mấy coi trọng thẩm quyền chuyên môn của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, nơi xuất bản và cấp phép xuất bản cho rất nhiều tác phẩm văn học.

Tiếp theo, căn cứ pháp luật của Sở là như sau: “vi phạm khoản 2, điều 10 Luật xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản”. Quyết định của Sở trích từ toàn văn Khoản 2, Điều 10 (“Những hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản”) của luật: “Tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục”.

Đến đây ta sẽ thấy nảy sinh điều gây sửng sốt lớn nhất của quyết định nói trên. Để nói tới “dâm ô”, “trụy lạc”, theo tôi cần quan tâm đến hai điều: ý đồ của tác giả và văn phong của tác giả. Đã có không ít nhà văn và nhà phê bình lên tiếng, đại đa số đều khẳng định Nguyễn Vĩnh Nguyên sử dụng yếu tố “tính dục” như “phương tiện” chứ không phải “mục đích”, và điều này đúng. Nhà văn được phép sử dụng tính dục như một yếu tố, thậm chí là thủ pháp trong tác phẩm của mình, chuyện này cho đến nay đã không mấy ai còn xa lạ.

Điều phân biệt thứ hai, theo tôi quan trọng hơn, nằm ở văn phong. Một tác phẩm “dâm ô”, “trụy lạc” theo chiều hướng “khiêu dâm” nhằm đến sự thỏa mãn dục vọng ở người đọc. Lối viết được tác giả mảng sách này sử dụng sẽ nhằm tới việc chiều lòng, ve vãn người đọc, và sẽ thành công nếu làm được người đọc đi từ cơn phấn khích này qua cơn phấn khích (tính dục) khác. Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông hay các tác phẩm khác từ trước đến nay của Nguyễn Vĩnh Nguyên không phải như vậy. Văn phong của Nguyễn Vĩnh Nguyên luôn luôn làm độc giả căng thẳng, mệt mỏi, trêu ngươi, thậm chí nhiều lúc bực bội; tâm trạng ấy không có gì chung với những xung động tính dục đơn thuần, khó lòng khêu gợi những ý nghĩ về khoái cảm xác thịt.

Quyết định của Sở Thông tin và Truyền thông dẫn luật để nói tới việc Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông “truyền bá lối sống…” Điều này, nói một cách thẳng thắn, khá khôi hài. Muốn “truyền bá” một điều gì thì tác giả cần “khuếch trương thanh thế”, tìm càng nhiều độc giả càng tốt, chứ thực tế cứ hỏi các nhà phê bình văn học nhiều quan tâm tới văn chương Việt Nam chừng chục năm trở lại đây thì biết, Nguyễn Vĩnh Nguyên lâu nay đã định danh trong số các nhà văn Việt Nam không nhiều độc giả, nhóm độc giả của văn Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng tương đối là những người đủ năng lực trí tuệ để không dễ bị truyền bá điều gì. Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng chưa bao giờ là nhà văn tích cực tự quảng bá bản thân hay tác phẩm. Đó là lựa chọn cá nhân của Nguyễn Vĩnh Nguyên, theo tôi là một lựa chọn không dễ dàng, và điều này, nhà quản lý văn hóa không nên can dự vào, nhất là theo một cách thức thô bạo đến như vậy.

Cao Việt Dũng

-----------
Trong vụ việc này, tôi thấy rằng:

- báo chí phần lớn trích dẫn sai nội dung công văn của Sở, một số tờ có chi tiết sai; điều này chứng tỏ ở mảng văn hóa của các báo không có những người thực sự rành chuyên môn, dù chỉ là ở mức sơ đẳng
- một số người làm tôi thấy ngạc nhiên vì đã ở trong ngành xuất bản nhiều năm mà còn phát biểu rất lung tung, chẳng hạn tỏ ra nghi ngờ Bộ Thông tin và Truyền thông không có thẩm quyền trong (những) vụ (như thế) này: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản (2008), và sau đó đã hiển thị trong luật áp dụng từ 1/1/2009 viết rõ: "Thay cụm từ "Bộ Văn hóa-Thông tin" bằng cụm từ "Bộ Thông tin và Truyền thông""
- có người nhân cơ hội mượn gió bẻ măng rất xấu tính, đặc biệt là Lê Thiếu Nhơn
- các báo vẫn còn có thể phát biểu cái kiểu tại sao không kiểm duyệt từ trước rồi khi xảy ra chuyện thì mới blah blah; những nhà báo này thật ra biết thừa có bao nhiêu cuốn sách không ra đời được vì chuyện kiểm duyệt; đã nói kiểu như vậy thì cứ đàng hoàng tuyên bố ủng hộ kiểm duyệt đi, rồi đừng bao giờ đòi hỏi đời sống văn chương sách vở Việt Nam có cái gì nữa

Nov 5, 2011

hơi ngắn rồi lại hơi dài

Có những lúc ngồi uống bia với mấy ông bạn là nhà văn và nhà phê bình văn học, lúc sắp tàn cuộc thấy họ rất buồn bã, trái ngược hẳn với những rôm rả mới lúc trước còn khua động cả một góc phố. Gặng hỏi mãi, nằn nì thuyết phục hăm dọa họ mới chịu trả lời: hóa ra họ sợ về nhà, không phải vì sợ bị vợ mắng, mà vì mới được tặng tiểu thuyết và trường ca.

Được đồng nghiệp tặng tác phẩm lẽ ra phải vui sướng, những quyển sách có chữ ký tác giả thậm chí còn có thể trở thành vật gia bảo, dăm chục năm nữa con cháu tha hồ hưởng lợi, giống như bây giờ dân chơi sách lùng sục bản Vang bóng một thời in năm 1945 ghê lắm, giá nghe nói cao ngất ngưởng. Thế nhưng văn nhân ngày nay lắm lúc ớn lạnh sống lưng khi được tặng sách: tiểu thuyết thì trường thiên, mà thơ thì thường là trường ca.

Tiểu thuyết ngày nay ngoài một số vẫn gắng theo gương tiền nhân mà nhỏ nhẹ với một chữ “tiểu”, cương quyết tránh xa phạm vi của “đại thuyết”, vẫn được hiểu là kinh, sử, tử, tập, thì một số khác nhất định dày cồm cộp như sách luật, lại còn hay in bìa cứng, chẳng những thế lại còn nhiều tập. Một số nhà văn thành danh từ những tiểu thuyết dung lượng vừa phải, đến nay vẫn còn vương vấn trong tâm hồn người đọc, bỗng đùng đùng chuyển sang toàn trường giang tiểu thuyết, đề tài to lớn vĩ đại nhìn xuyên suốt bao nhiêu năm lịch sử dân tộc, bốn tập tám tập nặng đến cả yến gây hãi hùng cho bất kỳ loại giá sách gia đình nào.

Trường ca thì sau một quãng thời gian lắng xuống gần đây bỗng khí thế trở lại. Giai đoạn đỉnh điểm của trường ca Việt Nam có lẽ là cuối những năm 1970, đầu những năm 1980 với những dấu ấn đáng nhớ: Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh), Những người đi tới biển (Thanh Thảo), Mặt trời trong lòng đất (Trần Mạnh Hảo) và trường ca Người vắt sữa bầu trời của tác giả nhiều bài thơ có hơi thở rất dài và hoang dại, Thu Bồn. Bẵng đi rất lâu, mấy năm trở lại đây bỗng lại thấy nhiều trường ca. Hơi thở của các nhà thơ Việt Nam đã bớt ngắn ngủi, hổn hển của những cách tân, những thơ ý niệm, tân hình thức hoặc vụt hiện, hay họ cảm thấy rằng thời đại hào hùng của sử thi, của những bài ca dài đã trở lại? Khó mà biết được, chỉ biết rằng nhiều trường ca đã ra đời trong mấy năm vừa qua, phần lớn làm xám mặt những người vinh dự được tặng.

Nói gì thì nói, viết được tiểu thuyết những mấy tập và làm được trường ca, tác giả của chúng hẳn phải có hơi từ dài đến rất dài. Cách đây nhiều thế kỷ, Không Lộ thiền sư trong một phút đột xuất đã để lại cho đời sau câu thơ bất hủ: “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Một tiếng kêu vang lạnh cả trời). Một tiếng kêu mà lạnh cả trời, đủ biết nội công thâm hậu đến như thế nào. Lĩnh được tâm ấn của thiền sư về sau này nổi trội có các anh hùng trong chưởng Kim Dung, vài người có tiếng hú dài đau đớn sầu muộn đến ám ảnh người đọc bao nhiêu năm ròng.

Gần đây hơn, hiện đại hơn, những hậu duệ có khả năng thi đua về độ dài hơi chính là các bình luận viên bóng đá trên truyền hình Việt Nam. Để được ngồi nói trên ti vi cho hàng triệu đồng bào nghe, yêu cầu rất lớn mà họ phải thỏa mãn, ngoài việc nhớ chính xác tên từ vài trăm tới vài nghìn cầu thủ và miêu tả đúng tình huống trên sân, chẳng hạn khi Messi lừa bóng qua ba hậu vệ thì không được nói anh chỉ đi qua hai người, biết nói “việt vị” khi có tình huống việt vị, ngoài những yêu cầu ấy, họ còn phải có hơi dài. Bởi vậy nên khán giả truyền hình mới được nghe những tiếng hét “Vào” đầy phấn khởi, và kể cả “Không vào” đầy nuối tiếc dài cỡ nửa phút phát ra từ cái truyền hình.

Nhà văn và nhà thơ một số người cũng để ý đến điều này, họ luyện hơi nhiều hơn luyện những cái khác, họ bình tĩnh lấy hơi rất lâu rồi khi đã quyết định xuất chiêu, tức thì những bộ đại tác phẩm ra đời, nhìn thấy ai cũng kinh hồn nhưng thường thì sẽ nằm im trên giá suốt nhiều năm không được động tới (đấy là nói ví dụ có giá sách chịu được sức nặng của những tiếng kêu lạnh trời ấy).

-----------

đây là bài hơi ngắn: lâu rồi không thấy chị HY làm thơ nhỉ :p

Nov 3, 2011

[VCLN] Stierle


1.

«... j’ai beaucoup aimé les premiers travaux de Ricardou, à cause de leur clarté et de leur sobriété » (tr.303).

«tôi từng rất yêu quý những công trình đầu tiên của [Jean] Ricardou, ở vào tính sáng sủa và sự tỉnh táo của chúng» (Cao Việt Dũng).

Không hiểu ông Cao Việt Dũng tìm đâu ra nghĩa của «sobriét黫sự tỉnh táo»?

Câu này đơn giản như vầy:

«tôi từng rất yêu quý những công trình đầu tiên của Ricardou, vì chúng sáng sủa và giản dị»

-----------

Tìm đâu ra nghĩa “tỉnh táo” à? Ở trong từ điển chứ ở đâu.

Đây là toàn bộ ghi nhận về “sobriété” trên TLFi:

SOBRIÉTÉ, subst. fém.

A. Tempérance dans le boire et le manger. Synon. frugalité. Sobriété exemplaire, monacale; sobriété castillane, écossaise, spartiate. Le régime hivernal est sévère. Les repas de claustration rigoureuse alternent avec les jeûnes de la solitude (...). Aussi, est-ce un lait avare qu'elles versent aux flancs des mères, un lait dur que sucent les nourrissons. De là sans doute la sobriété proverbiale de l'isard (PESQUIDOUX, Chez nous, 1921, p. 34). D'une grande sobriété et d'une grande tempérance, il ne choisit jamais ses mets, mange indifféremment ce qu'on lui présente (FARAL, Vie temps st Louis, 1942, p. 22).
En partic. Fait de ne pas boire ou de boire peu de boissons alcoolisées. Anton. intempérance, ivrognerie. Régime de sobriété; pratiquer la sobriété. Dès que l'eau-de-vie, forte et poivrée, lui eut touché le palais et la langue, réveillant plus vive, après cette longue sobriété, la sensation aimée et désirée de l'alcool qui caresse, et pique, et aromatise, et brûle la bouche, il comprit qu'il boirait la bouteille (MAUPASS., Contes et nouv., t. 1, 25 francs, 1888, p. 254). Lui, l'homme dont on raillait la sobriété, il but, presque d'un trait, sans attendre que le sucre fût fondu, un grand verre d'absinthe (BENOIT, Atlant., 1919, p. 25).
En compos. Santé-sobriété. [Slogan publicitaire de la Prévention routière] (Ds Info santé, 1978, n o 16).
B. Modération, mesure, discrétion. Anton. enflure, exagération, ostentation. Sobriété des gestes, du vêtement; sobriété de l'esprit, de la parole, des sentiments; admirable, élégante sobriété. Le marquis se plut à cette causerie par écrit, qui résumait avec sobriété, et sans les digressions de la parole, les points essentiels (SAND, Beaux MM. Bois-Doré, t. 1, 1857, p. 78). [L'âme] de Christophe avait déjà commencé (...) de prendre à l'art latin une sobriété, une clarté de cœur, et même, dans une certaine mesure, une beauté plastique, qu'elle n'aurait pas eues sans cela (ROLLAND, J.-Chr., Foire, 1908, p. 775).
Dans le domaine de l'art. Sobriété des coloris, de la décoration, de l'écriture, du style; sobriété classique. Les gens qui aiment le bon goût et la sobriété en architecture doivent trouver l'Escurial quelque chose de parfait, car la seule ligne employée est la ligne droite (GAUTIER, Tra los montes, 1843, p. 12). La grandeur de Pelléas se cache sous l'exacte mesure, et la sobriété voile la puissance. On n'a jamais moins cherché l'effet (SUARÈS, Debussy, 1936, p. 26). V. litote B ex. de Thibaudet.
Prononc. et Orth.: []. Ac. 1694, 1718: sobrieté; dep. 1762: -brié-. Étymol. et Hist. 1. Ca 1223 « fait de manger, de boire avec modération » (GAUTIER DE COINCI, Miracles, éd. V. Fr. Koenig, 2 Mir. 10, 398, t. 3, p. 475); 2. XVe s. [date des plus récents mss cités] « modération, mesure » (BRUNET LATIN, Trésor, éd. P. Chabaille, p. 172, interpolation: sobrieté: c'est poi ne trop); 1563 sobriété de la parole (BONIVARD, Advis et devis des lengues, p. 67 ds LITTRÉ). Empr. au lat. sobrietas « tempérance dans l'usage du vin; sobriété; prudence »; cf. le m. fr. sobreté (XIVe s. Apocal. Ars. 5214 ds GDF.); dér. de sobre*; suff. -eté*. Fréq. abs. littér.: 197.

Toàn bộ các nghĩa của “sobriété” đều dẫn đến cách hiểu “tỉnh táo”, đối nghĩa với “say sưa”. Tính từ của “sobriété” là “sobre”, là trái nghĩa với “ivre” (say [rượu]).

Đây là một ví dụ không thể rõ hơn về nghĩa “tỉnh” của “sobre” mà TLFi nêu lên trong mục “sobre”:

On buvait, on cassait les pots, on chantait à gorge déployée, et jusqu'au duc, si sobre d'ordinaire, s'échauffait de vin, tous les soirs (BOURGES, Crépusc. dieux, 1884, p. 269).

Nghĩa “giản dị” là nghĩa phái sinh, nghĩa suy diễn của “sobriété”. Tuy nhiên, sự sai của Vi Văn Tuyên cũng khiến tôi suy nghĩ thêm, và thấy rằng ở đây dùng “sự tiết chế” thì hợp hơn để dịch “sobriété”.

Ai từng đọc Jean Ricardou rồi đều biết đó không phải một lối văn “giản dị”, đơn giản, dễ tiếp thu.

Việc Vi Văn Tuyên đổi danh từ thành tính từ trong câu đề xuất là không được.

2.

«...le Sartre philosophe, qui est encore aujourd’hui, me semble-t-il, un auteur de premier plan» (tr.304).

«...Sartre triết gia, người ngày nay tôi thấy vẫn là một tác giả hàng đầu» (Cao Việt Dũng).
Ông Cao Việt Dũng không dịch nổi cụm từ «me semble-t-il», khiến câu tiếng Việt không lột tả hết thái độ của người nói. Câu này, theo tôi, phải dịch như vầy:

«... Sartre triết gia, người ngày nay có lẽ, theo tôi, vẫn là một tác giả hàng đầu».

-----------

“Theo tôi” là một chuyện khác hẳn “tôi thấy”.

3.

«Cependant, il y a une présence assez forte de Foucault qui m’étonne, mais je crois que tout cela n’a pas eu une très grande importance en dehors de la critique littéraire universitaire. Dans les journaux, on fait de la bonne critique dans la tradition de Lessing » (tr.304).

«Tuy nhiên, luôn luôn có một sự hiện diện khá mạnh mẽ của Foucault khiến tôi thấy ngạc nhiên, nhưng tôi tin rằng toàn bộ chuyện này không có tầm quan trọng lớn lắm ở bên ngoài phê bình văn học của giới đại học. Trên báo chí, người ta viết kiểu phê bình tinh tế theo lối Lessing » (Cao Việt Dũng).

Ông Cao Việt Dũng hoàn toàn không hiểu ý mỉa mai của từ «bonne critique» («phê bình tử tế»), nên ông dịch là «kiểu phê bình tinh tế». Từ «tradition» (có nghĩa là «truyền thống») mà ông dịch thành «lối» là không chính xác chút nào. Ông cũng không chú giải Lessing là ai (nhà phê bình Đức thế kỷ 18!) để độc giả Việt thấy ý chế giễu của người nói. Ba cái thiếu cộng lại làm cho câu tiếng Việt của ông Cao Việt Dũng rất phều phào, không chuyển được ý của bản gốc.

Theo tôi, câu trên phải dịch như vầy:

«Tuy nhiên, tôi ngạc nhiên là Foucault vẫn hiện diện khá mạnh mẽ, nhưng tôi tin rằng, ngoài giới phê bình đại học ra, thì toàn bộ chuyện này không có tầm quan trọng lớn lắm. Trên báo chí, người ta viết kiểu phê bình tử tế theo truyền thống Lessing

-----------

Phều phào chắc hẳn phải là chuyện Vi Văn Tuyên bắt tôi chú thích Lessing mà không bắt tôi chú thích Hegel hay Kant ở những chỗ khác.

“Tử tế” cũng đâu có chuẩn để dịch chỗ này.

4.

«Paul de Man a le mérite d’avoir réduit Derrida à un concept maniable de déconstruction, réduit à l’ironie, aux jeux de mots, aux ambiguïtés, etc» (tr.305)

«Paul de Man có một công lao lớn là đã giảm trừ Derrida thành một khái niệm khả dụng về giải cấu trúc, giảm trừ thành sự mỉa mai, các trò chơi chữ, những mù mờ v.v...» (Cao Việt Dũng).

Ông CaoViệt Dũng lại dịch máy móc như học trò mới học tiếng Tây rồi: «réduire» = «giảm trừ»; «réduire Derrida» = «giảm trừ Derrida»; «réduire à l’ironie» = «giảm trừ thành sự mỉa mai». Ông Cao Việt Dũng nè, nếu dịch thuật mà chỉ có vầy, người ta dịch bằng máy cho lẹ chứ cần dịch giả làm chi?

Cách dùng tiếng Việt của ông Cao Việt Dũng coi bộ cũng chẳng sáng sủa hơn: trong cùng một câu, lúc thì cung kính Hán Việt («maniable» = «khả dụng»), lúc lại nôm na dễ dãi («ambiguïtés» = «những mù mờ»).

Câu trên phải dịch như vầy:

«Paul de Man có công lớn là đã đơn giản hóa lý thuyết Derrida thành một khái niệm dễ dùng về giải cấu trúc, thành sự mỉa mai, chơi chữ, trò nước đôi v.v...».

-----------

Câu trên phải không được dịch như Vi Văn Tuyên. “Đơn giản hóa” khác hẳn “giảm trừ về”, nếu không thì người ta đã dùng “simplifier” cho xong. “Trò nước đôi” là cái gì? và “dễ dùng” khác hẳn “có thể dùng” (khả dụng).

5.

«Ceux qui essaient vraiment de conjuguer réflexion théorique et travail d’écriture sont très rares. On les trouverait encore plus facilement en Autriche» (tr.305)

«Rất hiếm người thực sự thử kết hợp suy tư lý thuyết với công việc viết. Bên Áo thì dễ tìm hơn.» (Cao Việt Dũng).

Ông Cao Việt Dũng không dịch động từ «trouver» ở conditionnel présent và từ «encore», nên câu tiếng Việt của ông không thể hiện đúng ý người nói.

Câu trên phải dịch như vầy:

«Những người thực sự thử kết hợp suy tư lý thuyết với việc viết thường rất hiếm. Bên Áo có lẽ còn dễ tìm hơn».

----------

Có phải “encore” nào cũng là “còn” đâu.

6.

«Ces sujets sont traités avec un savoir-faire traditionnel, sans prise de risque théorique, sans goût pour l’expérimentation» (tr.306)

«Những chủ đề này được xử lý bằng một cách tiến hành rất truyền thống, không thử liều lĩnh dấn thân vào lý thuyết, không mấy đoái hoài tới thử nghiệm» (Cao Việt Dũng).

«savoir-faire» mà dịch là «một cách tiến hành» thì ẩu quá xá! Câu tiếng Việt do vậy mà trở nên u ơ: «...được xử lý bằng một cách tiến hành...».

Câu trên phải dịch như vầy:

«Những chủ đề này được xử lý với một sự khéo léo truyền thống, không liều lĩnh dùng lý thuyết, không thích thử nghiệm».

-----------

“Savoir-faire” không hẳn là “sự khéo léo”, mà là một cái gì đó rộng hơn nhiều, liên quan nhiều hơn tới “kỹ năng”.

7.

«nous avons la tradition d’un roman qui penche vers l’essai...» (tr.306)

«...chúng tôi có truyền thống về một cuốn tiểu thuyết ngả về phía tiểu luận» (Cao Việt Dũng).

Ông Cao Việt Dũng dịch «la tradition d’un roman» thành «truyền thống về một cuốn tiểu thuyết...». Trời đất, ông lầm giữa «cuốn tiểu thuyết» (một cuốn sách cụ thể) và «loại tiểu thuyết» (một thể loại)! Mấy chữ «ngả về phía» cũng là một cách dùng tiếng Việt rất bừa mứa.

Câu trên phải dịch như vầy:

«...chúng tôi có truyền thống về một loại tiểu thuyết nghiêng về tiểu luận».

-----------

Đúng vậy, ở đây tôi viết nhầm, thừa mất từ “một”.

8.

«Cette production théorique était publiée essentiellement par les éditions Suhrkamp, où on trouvait par conséquent aussi les jeunes écrivains qui risquaient quelque chose...» (tr.306)

«Các sản phẩm lý thuyết này được xuất bản chủ yếu ở nhà xuất bản Suhrkamp, và do vậy sau này ta cũng thấy ở đó những nhà văn trẻ thử làm cái gì đó...» (Cao Việt Dũng).

Không hiểu ông Cao Việt Dũng tìm từ đâu ra hai chữ «sau này» làm câu sai hẳn nghĩa. Rồi nữa, «production» mà dịch là «các sản phẩm» là không đúng. Ông lầm giữa «production»«produit» rồi!

Câu trên phải dịch như vầy:

«Các công trình lý thuyết này được xuất bản chủ yếu ở nhà xuất bản Suhrkamp, vì vậy ta cũng tìm thấy ở đây những nhà văn trẻ đang liều mình...»

-----------

“Production” thành "công trình" từ bao giờ vậy? Vi Văn Tuyên đã không để ý số ít ở “production”? Câu đề xuất của Vi Văn Tuyên quá dở. “Đang liều mình (như chẳng có)” là như thế nào? “Risquer” đâu có nhất nhất là “liều”? Và cũng xin lưu ý, đây là chuyện quá khứ, “đang liều mình” là hoàn toàn sai.

9.

«...un groupe politiquement bien-pensant peu intéressé par la littérature elle-même» (tr.306).

«...một nhóm suy tư đúng đắn về mặt chính trị không mấy quan tâm tới tự bản thân văn chương» (Cao Việt Dũng).

Ông Cao Việt Dũng dịch «bien-pensant»«suy tư đúng đắn» thì quả là sự hiểu biết Pháp văn của ông chỉ ở trình độ dưới trung bình. Ông dịch máy móc: «bien» = «đúng», «pensant» = «suy tư», «bien-pensant» = «suy tư đúng đắn». Trật rồi! «Bien-pensant» phải dịch là «phải đạo», «hợp thời», có nghĩa là người ta đang chê đó! Rồi cứ nhìn thấy «même» là máy móc ông dịch thành «tự». «Tự bản thân» là một cách dùng chữ rất lạm phát.

Câu trên phải dịch như vầy:

«...một nhóm rất hợp thời về chính trị, không mấy quan tâm tới bản thân văn chương».

-----------

Tôi biết có người cứ nhìn thấy “bien-pensant” là dịch ngay thành “phải đạo”, “hợp thời”, nhưng tôi không nghĩ giống vậy. Tại sao Vi Văn Tuyên không nhìn thấy ý mỉa mai trong câu của tôi nhỉ?

---------------------

Bản sửa 13/12/2011

Karlheinz Stierle. Sinh năm 1936, giáo sư văn học Rô man và văn học nói chung ở Đại học Bochum (1969-1988) rồi Đại học Constance, thành viên nhóm nghiên cứu Poetik und Hermeneutik dưới sự chủ trì của Hans-Robert Jauss, giám đốc tạp chí Poetica từ 1987 đến 2000. Tác phẩm chính: Text als Handlung. Perspektiven einer systematischen Literaturwissenschaft[,] /(/1975/)/, Der Mythos von Paris. Zeichen und Bewusstsein der Stadt[,] /(/1993/)/, Zeit und Werk. Prousts À la Recherche du temps perdu und Dantes Commedia[,] /(/1998/)/.


Điều gì đã dẫn dắt một giảng viên đại học Đức tốt nghiệp từ Đại học Constance, trong những năm 1960 hay 1970, quan tâm đến cấu trúc luận, Tiểu thuyết Mới, Claude Simon, Tel Quel? Ông cho mối quan tâm của mình chỉ đơn thuần /nằm trong khuôn khổ/ [có tính chất] học thuật, trí thức, hay mối quan tâm ấy, cũng như với nhiều nhà nghiên cứu, còn có một tầm vóc chính trị nữa?

Điểm xuất phát của tôi là nhóm Poetik und Hermeneutik [Thi pháp và Thông diễn học] mà thầy tôi Hans-Robert Jauss chủ trì và truyền cảm hứng. Với tôi thông diễn học đã rất quan trọng vào thời điểm tôi học ở Heidelberg nơi tôi theo các lớp của Hans-Georg Gadamer. Nhưng tôi cũng có cảm giác là dạng thông diễn học được thực thi trong nhóm này quá khó sử dụng, quá kém chính xác. Và đúng thời điểm ấy, tôi khám phá rằng bên Pháp đang xảy ra những điều rất thú vị xuất phát từ ngôn ngữ học cấu trúc. Tôi đọc Claude Lévi-Strauss, ông đã hấp dẫn tôi, và tôi thấy dường như để mở rộng kích thước thông diễn học trong cách tiếp cận của Đức, nhất thiết phải quay sang hướng nước Pháp. Tôi đọc với rất nhiều quan tâm các tiểu thuyết gia mới và tôi theo sát những gì được xuất bản ở Paris trong lý thuyết tự sự, [Algirdas Julien] Greimas, [Gérard] Genette, mỗi /khoảnh khắc/ [lúc] lại có thêm một khải ngộ mới. Tôi cố không hoàn toàn trượt /vào/ [theo hướng] cấu trúc luận, mà là /dựng/ [bắc] một cây cầu, dùng lại những tư tưởng đó để tạo lập một dạng thông diễn học mở rộng cũng thu nhận cả phương pháp nữa. Cuốn sách nổi tiếng nhất của Gadamer mang tên Wahrheit und Methode [Sự thật và phương pháp], nhưng tôi có cảm giác ở ông có một sự lựa chọn: hoặc sự thật hoặc phương pháp. Tôi thì tôi muốn cả hai và phương pháp đã được cung cấp cho tôi từ các nhà cấu trúc luận người Pháp. Đó cũng là lý do khiến tôi từng rất yêu quý những công trình đầu tiên của [Jean] Ricardou, ở vào tính sáng sủa và sự /tỉnh táo/ [tiết chế] của chúng. Thông diễn học như được phát triển trong khuôn khổ chủ nghĩa lãng mạn Đức bởi bàn tay [Friedrich] Schlegel nhấn mạnh rất nhiều vào quan niệm về kiến tạo [construction] sau này đã bị Gadamer xóa bỏ hoàn toàn. Tôi tin là giữa tư tưởng lãng mạn về kiến tạo và tư tưởng về cấu trúc có một mối liên hệ cần thực hiện.

Như vậy mối quan tâm của ông đối với /phong trào/ [trào lưu] cấu trúc luận Pháp chủ yếu nằm ở mặt phương pháp luận, hoặc trí thức. Ông có để ý nhiều tới các cuộc tranh luận chính trị và ý hệ mà /phong trào/ [trào lưu] này từng rơi vào ở Pháp, chẳng hạn như đến cách tự định vị mình chống lại [Jean-Paul] Sartre của nó, hay nhìn chung hơn là đến những liên hệ xung đột của nó với chủ nghĩa Marx?

Tôi có thể trả lời rất rõ ràng là: không. Tôi từng rất hoài nghi đối với những gì liên quan đến chủ nghĩa Marx và tôi không hề thích ngành xã hội học văn học. Tuy nhiên, với Sartre thì cũng hơi khác một chút vì ông đã quyến rũ tôi khi tôi còn rất trẻ, với chủ nghĩa hiện sinh của ông thì nhiều hơn là sự dấn thân theo hướng cộng sản của ông. Và ngày hôm nay tôi vẫn phải nói rằng một cuộc sách như Văn chương là gì? với tôi rất có ý nghĩa. Ngược lại, tôi gặp nhiều khó khăn để /đọc/ [theo được] Sartre ở giai đoạn cuối của ông. Nhưng, từ một mặt khác, tôi thấy rằng nhóm Tel Quel đã thực sự bất công với Sartre lý thuyết gia, Sartre triết gia, người ngày nay tôi thấy vẫn là một tác giả hàng đầu.

Nhìn chung, với ông, cấu trúc luận và cái sau này người ta gọi là hậu cấu trúc luận, có hiệu ứng gì về mặt văn hóa và chính trị tại Đức không, hay chỉ đơn thuần nằm trong lĩnh vực học thuật mà thôi?

Đây chủ yếu là một vấn đề học thuật. Phải nói thêm rằng ở Đức có một dạng chủ nghĩa hoài nghi đối với lý thuyết văn học Pháp, cái bị người ta có xu hướng thay thế bằng các trào lưu phê bình xuất phát từ Mỹ: đầu tiên là giải cấu trúc của Paul de Man, và rồi tất nhiên là Cultural Studies [văn hóa học]. Nó đã trở thành một trào lưu học thuật thay thế cho xã hội học văn học kiểu cũ, trong khi giải cấu trúc, cái đã tàn phá [ngành] nghiên cứu Đức, giờ đây đã phải lui bước rồi. Tuy nhiên, luôn luôn có một sự hiện diện khá mạnh mẽ của Foucault khiến tôi thấy ngạc nhiên, nhưng tôi tin rằng toàn bộ chuyện này không có tầm quan trọng lớn lắm ở bên ngoài phê bình văn học của giới đại học. Trên báo chí, người ta viết kiểu phê bình /tinh tế/ [hay ho] theo lối Lessing. Đặc biệt đó là trường hợp của [Marcel] Reich-Ranicki, người có các tiêu chí xuất phát từ chủ nghĩa cổ điển. Nó vô cùng hợp thời và hoàn toàn tương hợp với một công chúng quan tâm đến văn chương ít hơn nhiều so với các sự kiện văn chương.

Ông giải thích thế nào về việc giải cấu trúc tới Đức theo ngả quành qua Mỹ (qua Yale và Paul de Man) chứ không phải từ [Jacques] Derrida?

Trước hết là vì người Đức không còn đọc tiếng Pháp nữa. Sau đó là vì mọi thứ tới với chúng tôi từ Stanford, Harvard hay Yale đều gần như là thiêng liêng, có uy tín rất lớn, tạo ra thẩm quyền. Có những quan hệ giữa Berlin và Yale đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự /truyền đại/ [truyền đạt] này. Paul de Man có một công lao lớn là đã giảm trừ Derrida thành một khái niệm khả dụng về giải cấu trúc, giảm trừ thành sự mỉa mai, các trò chơi chữ, những mù mờ v.v… Trong khi bản thân Derrida thì phong phú hơn thế vô cùng, nhưng chỉ là phong phú hơn với ai đó biết đọc tiếng Pháp hoặc ai đó có thể làm được gì đó từ những bản dịch tác phẩm của ông sang tiếng Đức, đôi khi là không thể hiểu nổi.

Có phải cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận ở Đức đều được coi là các trào lưu tư tưởng cho phép đối nghịch lại chủ nghĩa Marx không?

Thường thì các nhà cấu trúc luận và các nhà mác xít không thực sự đối nghịch với nhau. Cấu trúc luận chắc chắn không phải là một hệ hình được đưa ra phía trước để chống lại một số xu hướng ngả về mác xít ngày nay có thể coi như là không còn tồn tại nữa. Nhất là ở Đông Đức, người ta cũng từng có rất nhiều nỗ lực trong việc đạt tới những dung hòa giữa cấu trúc luận và chủ nghĩa Marx và qua đó mà mang lại cho chủ nghĩa Marx một đà phát triển mới.

Mối liên hệ giữa văn chương tiền phong và lý thuyết văn học là rất mạnh mẽ, rất hiển nhiên ở Pháp. Bên Đức có từng xảy ra điều gì đó tương tự như vậy không?

Tôi sẽ nói là không. Đó là hai thế giới khác nhau, thế giới học thuật của lý thuyết văn học và thế giới của sự viết ở Đức tách biệt nhau nhiều hơn nhiều so với ở Pháp. Rất hiếm người thực sự thử kết hợp suy tư lý thuyết với công việc viết. Bên Áo thì dễ tìm hơn. Peter Handke và rất nhiều người khác ở Áo thích thử nghiệm trong việc viết, trong khi tại Đức người ta ngả về một văn chương khá cổ điển, quay về với trải nghiệm lịch sử của nó: chủ nghĩa nazi, thời hậu chiến, sự chia tách giữa hai nước Đức. Những chủ đề này được xử lý bằng một cách tiến hành rất truyền thống, không thử liều lĩnh dấn thân vào lý thuyết, không mấy đoái hoài tới thử nghiệm.

Ở Đức trong những thập kỷ ấy liệu người ta có thể tìm thấy cùng sự ngây ngất như ở Pháp đối với tính tự trị của văn chương hay với một văn chương tự suy tư không?

Chúng tôi có một truyền thống văn chương suy tư dài, nhưng nó suy tư mà không thực sự có tính chất lý thuyết hay tự dẫn chiếu [autoréférentiel]. Chúng tôi có Musil, chúng tôi có truyền thống về /một cuốn/ tiểu thuyết ngả về phía tiểu luận, cái đó thì đúng, nhưng ở Đức công việc lý thuyết và công việc văn chương là hai lĩnh vực thường thì rất khác nhau. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng trong những năm 1960 hoặc 1970, ở Đức cũng như ở Pháp có rất nhiều quan tâm cho đủ mọi loại lý thuyết, nhân học, tâm lý học hoặc chính trị. Các sản phẩm lý thuyết này được xuất bản chủ yếu ở nhà xuất bản Suhrkamp, và do vậy /sau này/ ta cũng thấy ở đó những nhà văn trẻ thử [mạnh dạn] làm cái gì đó, muốn làm cái gì đó mới và có tính chất thử nghiệm. Chẳng hạn như là Peter Weiss, rất nổi tiếng hồi ấy, ông xuất bản ở Suhrkamp các truyện giàu tính thử nghiệm rất thú vị, chẳng hạn Abschied von den Eltern, Das Gepräch der drei Gehenden, v.v… Nhưng đó cũng chỉ là những biệt lệ và trong những gì liên quan tới tính tự trị của văn chương, chỉ có một nhóm nhỏ tại Đức có quan tâm thôi. Giọng điệu chung hồi ấy đã được định ra bởi nhóm Gruppe 47, một nhóm ngả về phía mác xít, quan tâm đến các vấn đề xã hội, hiện thực, không theo hướng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng rất hiện thực, với các nhà văn như Heinrich Böll hay Günter Grass, và rồi còn có các nhà phê bình như Reich-Ranicki, những người tạo nên một nhóm suy tư đúng đắn về mặt chính trị không mấy quan tâm tới tự bản thân văn chương.

Vậy là ở Đức có một đoạn tuyệt, có một sự từ bỏ truyền thống suy tư?

Hoàn toàn đúng. Theo một nghĩa nào đó truyền thống của Stefan George kết thúc cùng Đế chế thứ ba, nó dẫn tới một thứ thơ ca gần như là cơ hội chủ nghĩa, một dạng diễn tả nội tâm chẳng có mấy phong vị. Thế nên người ta có cảm giác rằng truyền thống nghệ thuật vị nghệ thuật, văn chương vị văn chương đã kết thúc cùng mọi thứ từng diễn ra trong thời Đế chế thứ ba. Sau đó người ta đã thử làm tổng kết. Phải bắt đầu lại, đó là một năm số không, nhưng là một năm số không nơi những thứ cấp bách là cuộc sống chính trị của chúng tôi, trách nhiệm chính trị của chúng tôi v.v…, những cái đó để lại rất ít chỗ cho một văn chương phi dấn thân.

Ông rút ra tổng kết gì về lý thuyết văn học, cả ở Pháp lẫn ở Đức?

Tôi tin rằng lý thuyết - không chỉ lý thuyết văn học mà cả lý thuyết triết học, nhân học - từng là một cuộc phiêu lưu lớn của châu Âu và nhất là của Pháp. Sự bùng nổ những tài năng và thiên tài ở Pháp này chỉ có thể so sánh với những khoảnh khắc vĩ đại của thế kỷ cổ điển. Đó là một điều hoàn toàn khác, nhưng sự mạnh mẽ và trí tuệ, chất lượng của văn chương ấy, tôi sẽ không ngần ngừ lấy một khắc mà coi là phi thường. Đó cũng là một di sản quý báu không được phép lơ là và tôi tin người ta có thể thực sự tự hào vì đã tham gia cuộc phiêu lưu phi thường ấy.

Ông có nghĩ ngày nay lý thuyết vẫn còn chỗ không, rằng nó có một tương lai?

Lý thuyết phải có chỗ, hôm nay cũng như ngày mai. Không có lý thuyết, chúng ta sẽ không có các công cụ cần thiết cho việc thực sự hiểu văn chương và nhất là cả văn chương quá khứ nữa. Nhưng cần có một lý thuyết văn học không chỉ là một lý thuyết, [mà còn] có thể được dùng như các công cụ. Phải có những dụng cụ, phải điều chỉnh chúng và tôi không thấy được bằng cách nào, chẳng hạn, người ta có thể viết một lịch sử văn học nghiêm túc mà không có một nền tảng lý thuyết.

Thêm: [(trích từ Vincent Kaufmann, La Faute à Mallarmé. L’aventure de la théorie littéraire [Lỗi của Mallarmé. Cuộc phiêu lưu của lý thuyết văn học], Seuil, 2011, tr. 302-307)]

--------------------

Karlheinz Stierle. Sinh năm 1936, giáo sư văn học Rô man và văn học nói chung ở Đại học Bochum (1969-1988) rồi Đại học Constance, thành viên nhóm nghiên cứu Poetik und Hermeneutik dưới sự chủ trì của Hans-Robert Jauss, giám đốc tạp chí Poetica từ 1987 đến 2000. Tác phẩm chính: Text als Handlung. Perspektiven einer systematischen Literaturwissenschaft (1975), Der Mythos von Paris. Zeichen und Bewusstsein der Stadt (1993), Zeit und Werk. Prousts À la Recherche du temps perdu und DantesCommedia (1998).


Điều gì đã dẫn dắt một giảng viên đại học Đức tốt nghiệp từ Đại học Constance, trong những năm 1960 hay 1970, quan tâm đến cấu trúc luận, Tiểu thuyết Mới, Claude Simon, Tel Quel? Ông cho mối quan tâm của mình chỉ đơn thuần nằm trong khuôn khổ học thuật, trí thức, hay mối quan tâm ấy, cũng như với nhiều nhà nghiên cứu, còn có một tầm vóc chính trị nữa?

Điểm xuất phát của tôi là nhóm Poetik und Hermeneutik [Thi pháp và Thông diễn học] mà thầy tôi Hans-Robert Jauss chủ trì và truyền cảm hứng. Với tôi thông diễn học đã rất quan trọng vào thời điểm tôi học ở Heidelberg nơi tôi theo các lớp của Hans-Georg Gadamer. Nhưng tôi cũng có cảm giác là dạng thông diễn học được thực thi trong nhóm này quá khó sử dụng, quá kém chính xác. Và đúng thời điểm ấy, tôi khám phá rằng bên Pháp đang xảy ra những điều rất thú vị xuất phát từ ngôn ngữ học cấu trúc. Tôi đọc Claude Lévi-Strauss, ông đã hấp dẫn tôi, và tôi thấy dường như để mở rộng kích thước thông diễn học trong cách tiếp cận của Đức, nhất thiết phải quay sang hướng nước Pháp. Tôi đọc với rất nhiều quan tâm các tiểu thuyết gia mới và tôi theo sát những gì được xuất bản ở Paris trong lý thuyết tự sự, Greimas, Genette, mỗi khoảnh khắc lại có thêm một khải ngộ mới. Tôi cố không hoàn toàn trượt vào cấu trúc luận, mà là dựng một cây cầu, dùng lại những tư tưởng đó để tạo lập một dạng thông diễn học mở rộng cũng thu nhận cả phương pháp nữa. Cuốn sách nổi tiếng nhất của Gadamer mang tên Wahrheit und Methode [Sự thật và phương pháp], nhưng tôi có cảm giác ở ông có một sự lựa chọn: hoặc sự thật hoặc phương pháp. Tôi thì tôi muốn cả hai và phương pháp đã được cung cấp cho tôi từ các nhà cấu trúc luận người Pháp. Đó cũng là lý do khiến tôi từng rất yêu quý những công trình đầu tiên của [Jean] Ricardou, ở vào tính sáng sủa và sự tỉnh táo của chúng. Thông diễn học như được phát triển trong khuôn khổ chủ nghĩa lãng mạn Đức bởi bàn tay [Friedrich] Schlegel nhấn mạnh rất nhiều vào quan niệm về kiến tạo [construction] sau này đã bị Gadamer xóa bỏ hoàn toàn. Tôi tin là giữa tư tưởng lãng mạn về kiến tạo và tư tưởng về cấu trúc có một mối liên hệ cần thực hiện.

Như vậy mối quan tâm của ông đối với phong trào cấu trúc luận Pháp chủ yếu nằm ở mặt phương pháp luận, hoặc trí thức. Ông có để ý nhiều tới các cuộc tranh luận chính trị và ý hệ mà phong trào này từng rơi vào ở Pháp, chẳng hạn như đến cách tự định vị mình chống lại [Jean-Paul] Sartre của nó, hay nhìn chung hơn là đến những liên hệ xung đột của nó với chủ nghĩa Marx?

Tôi có thể trả lời rất rõ ràng là: không. Tôi từng rất hoài nghi đối với những gì liên quan đến chủ nghĩa Marx và tôi không hề thích ngành xã hội học văn học. Tuy nhiên, với Sartre thì cũng hơi khác một chút vì ông đã quyến rũ tôi khi tôi còn rất trẻ, với chủ nghĩa hiện sinh của ông thì nhiều hơn là sự dấn thân theo hướng cộng sản của ông. Và ngày hôm nay tôi vẫn phải nói rằng một cuộc sách như Văn chương là gì? với tôi rất có ý nghĩa. Ngược lại, tôi gặp nhiều khó khăn để đọc Sartre ở giai đoạn cuối của ông. Nhưng, từ một mặt khác, tôi thấy rằng nhóm Tel Quel đã thực sự bất công với Sartre lý thuyết gia, Sartre triết gia, người ngày nay tôi thấy vẫn là một tác giả hàng đầu.

Nhìn chung, với ông, cấu trúc luận và cái sau này người ta gọi là hậu cấu trúc luận, có hiệu ứng gì về mặt văn hóa và chính trị tại Đức không, hay chỉ đơn thuần nằm trong lĩnh vực học thuật mà thôi?

Đây chủ yếu là một vấn đề học thuật. Phải nói thêm rằng ở Đức có một dạng chủ nghĩa hoài nghi đối với lý thuyết văn học Pháp, cái bị người ta có xu hướng thay thế bằng các trào lưu phê bình xuất phát từ Mỹ: đầu tiên là giải cấu trúc của Paul de Man, và rồi tất nhiên là Cultural Studies [Văn hóa học]. Nó đã trở thành một trào lưu học thuật thay thế cho xã hội học văn học kiểu cũ, trong khi giải cấu trúc, cái đã tàn phá nghiên cứu Đức, giờ đây đã phải lui bước rồi. Tuy nhiên, luôn luôn có một sự hiện diện khá mạnh mẽ của Foucault khiến tôi thấy ngạc nhiên, nhưng tôi tin rằng toàn bộ chuyện này không có tầm quan trọng lớn lắm ở bên ngoài phê bình văn học của giới đại học. Trên báo chí, người ta viết kiểu phê bình tinh tế theo lối Lessing. Đặc biệt đó là trường hợp của Reich-Ranicki, người có các tiêu chí xuất phát từ chủ nghĩa cổ điển. Nó vô cùng hợp thời và hoàn toàn tương hợp với một công chúng quan tâm đến văn chương ít hơn nhiều so với các sự kiện văn chương.

Ông giải thích thế nào về việc giải cấu trúc tới Đức theo ngả quành qua Mỹ (qua Yale và Paul de Man) chứ không phải từ Derrida?

Trước hết là vì người Đức không còn đọc tiếng Pháp nữa. Sau đó là vì mọi thứ tới với chúng tôi từ Stanford, Harvard hay Yale đều gần như là thiêng liêng, có uy tín rất lớn, tạo ra thẩm quyền. Có những quan hệ giữa Berlin và Yale đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự truyền đại này. Paul de Man có một công lao lớn là đã giảm trừ Derrida thành một khái niệm khả dụng về giải cấu trúc, giảm trừ thành sự mỉa mai, các trò chơi chữ, những mù mờ v.v… Trong khi bản thân Derrida thì phong phú hơn thế vô cùng, nhưng chỉ là phong phú hơn với ai đó biết đọc tiếng Pháp hoặc ai đó có thể làm được gì đó từ những bản dịch tác phẩm của ông sang tiếng Đức, đôi khi là không thể hiểu nổi.

Có phải cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận ở Đức đều được coi là các trào lưu tư tưởng cho phép đối nghịch lại chủ nghĩa Marx không?

Thường thì các nhà cấu trúc luận và các nhà mác xít không thực sự đối nghịch với nhau. Cấu trúc luận chắc chắn không phải là một hệ hình được đưa ra phía trước để chống lại một số xu hướng ngả về mác xít ngày nay có thể coi như là không còn tồn tại nữa. Nhất là ở Đông Đức, người ta cũng từng có rất nhiều nỗ lực trong việc đạt tới những dung hòa giữa cấu trúc luận và chủ nghĩa Marx và qua đó mà mang lại cho chủ nghĩa Marx một đà phát triển mới.

Mối liên hệ giữa văn chương tiền phong và lý thuyết văn học là rất mạnh mẽ, rất hiển nhiên ở Pháp. Bên Đức có từng xảy ra điều gì đó tương tự như vậy không?

Tôi sẽ nói là không. Đó là hai thế giới khác nhau, thế giới học thuật của lý thuyết văn học và thế giới của sự viết ở Đức tách biệt nhau nhiều hơn nhiều so với ở Pháp. Rất hiếm người thực sự thử kết hợp suy tư lý thuyết với công việc viết. Bên Áo thì dễ tìm hơn. Peter Handke và rất nhiều người khác ở Áo thích thử nghiệm trong việc viết, trong khi tại Đức người ta ngả về một văn chương khá cổ điển, quay về với trải nghiệm lịch sử của nó: chủ nghĩa nazi, thời hậu chiến, sự chia tách giữa hai nước Đức. Những chủ đề này được xử lý bằng một cách tiến hành rất truyền thống, không thử liều lĩnh dấn thân vào lý thuyết, không mấy đoái hoài tới thử nghiệm.

Ở Đức trong những thập kỷ ấy liệu người ta có thể tìm thấy cùng sự ngây ngất như ở Pháp đối với tính tự trị của văn chương hay với một văn chương tự suy tư không?

Chúng tôi có một truyền thống văn chương suy tư dài, nhưng nó suy tư mà không thực sự có tính chất lý thuyết hay tự dẫn chiếu [autoréférentiel]. Chúng tôi có Musil, chúng tôi có truyền thống về một cuốn tiểu thuyết ngả về phía tiểu luận, cái đó thì đúng, nhưng ở Đức công việc lý thuyết và công việc văn chương là hai lĩnh vực thường thì rất khác nhau. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng trong những năm 1960 hoặc 1970, ở Đức cũng như ở Pháp có rất nhiều quan tâm cho đủ mọi loại lý thuyết, nhân học, tâm lý học hoặc chính trị. Các sản phẩm lý thuyết này được xuất bản chủ yếu ở nhà xuất bản Suhrkamp, và do vậy sau này ta cũng thấy ở đó những nhà văn trẻ thử làm cái gì đó, muốn làm cái gì đó mới và có tính chất thử nghiệm. Chẳng hạn như là Peter Weiss, rất nổi tiếng hồi ấy, ông xuất bản ở Suhrkamp các truyện giàu tính thử nghiệm rất thú vị, chẳng hạn Abschied von den Eltern, Das Gepräch der drei Gehenden, v.v… Nhưng đó cũng chỉ là những biệt lệ và trong những gì liên quan tới tính tự trị của văn chương, chỉ có một nhóm nhỏ tại Đức có quan tâm thôi. Giọng điệu chung hồi ấy đã được định ra bởi nhóm Gruppe 47, một nhóm ngả về phía mác xít, quan tâm đến các vấn đề xã hội, hiện thực, không theo hướng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng rất hiện thực, với các nhà văn như Heinrich Böll hay Günter Grass, và rồi còn có các nhà phê bình như Reich-Ranicki, những người tạo nên một nhóm suy tư đúng đắn về mặt chính trị không mấy quan tâm tới tự bản thân văn chương.

Vậy là ở Đức có một đoạn tuyệt, có một sự từ bỏ truyền thống suy tư?

Hoàn toàn đúng. Theo một nghĩa nào đó truyền thống của Stefan George kết thúc cùng Đế chế thứ ba, nó dẫn tới một thứ thơ ca gần như là cơ hội chủ nghĩa, một dạng diễn tả nội tâm chẳng có mấy phong vị. Thế nên người ta có cảm giác rằng truyền thống nghệ thuật vị nghệ thuật, văn chương vị văn chương đã kết thúc cùng mọi thứ từng diễn ra trong thời Đế chế thứ ba. Sau đó người ta đã thử làm tổng kết. Phải bắt đầu lại, đó là một năm số không, nhưng là một năm số không nơi những thứ cấp bách là cuộc sống chính trị của chúng tôi, trách nhiệm chính trị của chúng tôi v.v…, những cái đó để lại rất ít chỗ cho một văn chương phi dấn thân.

Ông rút ra tổng kết gì về lý thuyết văn học, cả ở Pháp lẫn ở Đức?

Tôi tin rằng lý thuyết - không chỉ lý thuyết văn học mà cả lý thuyết triết học, nhân học - từng là một cuộc phiêu lưu lớn của châu Âu và nhất là của Pháp. Sự bùng nổ những tài năng và thiên tài ở Pháp này chỉ có thể so sánh với những khoảnh khắc vĩ đại của thế kỷ cổ điển. Đó là một điều hoàn toàn khác, nhưng sự mạnh mẽ và trí tuệ, chất lượng của văn chương ấy, tôi sẽ không ngần ngừ lấy một khắc mà coi là phi thường. Đó cũng là một di sản quý báu không được phép lơ là và tôi tin người ta có thể thực sự tự hào vì đã tham gia cuộc phiêu lưu phi thường ấy.

Ông có nghĩ ngày nay lý thuyết vẫn còn chỗ không, rằng nó có một tương lai?

Lý thuyết phải có chỗ, hôm nay cũng như ngày mai. Không có lý thuyết, chúng ta sẽ không có các công cụ cần thiết cho việc thực sự hiểu văn chương và nhất là cả văn chương quá khứ nữa. Nhưng cần có một lý thuyết văn học không chỉ là một lý thuyết, có thể được dùng như các công cụ. Phải có những dụng cụ, phải điều chỉnh chúng và tôi không thấy được bằng cách nào, chẳng hạn, người ta có thể viết một lịch sử văn học nghiêm túc mà không có một nền tảng lý thuyết.

Oct 28, 2011

cười như đười ươi xóc lọ

Cười không làm ai bị làm sao, có thể là mỏi miệng một chút, hoặc là mãnh liệt lắm thì làm người ta ngã, nhưng là… ngã từ trên ghế xuống đất, chứ không đến nỗi như những trò mơ mộng bay bổng lơ lửng tận trên mây trên trời rồi diều đứt dây ngã từ không trung xuống đất vỡ cả đầu. Thế mà nhiều lúc cái sự cười này cũng nhiêu khê lắm.

Vài tuần vừa qua, cả xã hội lên một trận cười lịch sử, nhất là trên các diễn đàn và trang cá nhân mà Internet cung cấp cho chúng ta. Trận cười này liên quan đến một cuốn sách có tranh tên là Sát thủ đầu mưng mủ. Người ta cười vì bản thân cuốn sách gây cười cho họ, người ta cười vì cuốn sách gợi hứng cho họ nghĩ ra những thành ngữ mới mẻ (có lẽ chỉ cần đi “hứng” những câu thành ngữ vừa được cộng đồng tạo ra trong mấy ngày vừa rồi là đã có thể làm thêm một Sát thủ đầu mưng mủ nữa), và người ta cười vì những câu chuyện xoay quanh cuốn sách.

Oct 27, 2011

[VCLN] Culler

1.

«... j’étais pratiquement le seul enseignant – avec Terry Eagleton – à m’intéresser à la théorie» (tr.226)

«... trên thực tế tôi là giảng viên duy nhất – cùng Terry Eagleton – quan tâm tới lý thuyết» (Cao Việt Dũng)

«Pratiquement» trong vị trí này mà dịch là «trên thực tế» sao được? «Pratiquement» ở đây có nghĩa là «gần như», người ta dùng tối ngày mà.

Theo tôi, câu trên nên được dịch như vầy:

«... tôi gần như là giảng viên duy nhất – cùng Terry Eagleton – quan tâm tới lý thuyết».

-----------

Những từ đưa đẩy trong khi nói (trả lời phỏng vấn) như từ “pratiquement” này, nhất là khi mệnh đề sau đã rõ nghĩa không nhầm được, thì tùy thuộc văn cảnh mà dịch.

2.

«... ma découverte du structuralisme et de la linguistique constituait une suite logique de mon intérêt académique pour la phénoménologie.» (tr.226)

«... việc tôi khám phá cấu trúc luận và ngôn ngữ học đã cấu thành một chuỗi logic trong mối quan tâm học thuật của tôi dành cho hiện tượng luận.» (Cao Việt Dũng)

Tôi sợ rằng ông Cao Việt Dũng trình độ tiếng Pháp hạn chế, đã vậy còn ít coi từ điển, hoặc nếu coi thì cũng chỉ dừng ở vài ba nghĩa đầu tiên, câu dịch ra tối nghĩa thế nào cũng thây kệ. «Une suite logique» (một tiếp nối tất yếu) mà dịch là «một chuỗi logic» thì có khi chỉ bằng học trò mới học tiếng Tây.

Theo tôi, câu trên nên được dịch như vầy:

«... việc tôi khám phá cấu trúc luận và ngôn ngữ học đã là một tiếp nối tất yếu cho mối quan tâm học thuật của tôi về hiện tượng luận

-----------

Có thể tôi nói không rõ ý bằng, nhưng “logique” là “logique”, sao phải là “tất yếu”?

3.

«Mais, d’autre part, dans ce contexte britannique très traditionnel, la théorie (...) prenait une signification politique » (tr.226)

«Nhưng, mặt khác, trong bối cảnh nước Anh rất truyền thống ấy, lý thuyết (...) mang một tác dụng biểu nghĩa chính trị » (Cao Việt Dũng)

Tôi thiệt không rõ lẽ chi, một từ cửa miệng như «signification» mà ông Cao Việt Dũng cũng không nắm được, rồi biến nó thành một hầm bà lằng «tác dụng biểu nghĩa»?

Theo tôi, câu trên nên được dịch như vầy:

«Nhưng, mặt khác, trong bối cảnh nước Anh rất truyền thống ấy, lý thuyết (...) mang một ý nghĩa chính trị ».

-----------

“Signification” không chỉ là “một từ cửa miệng”, nó còn là một trong những thuật ngữ rắc rối nhất của ngôn ngữ học và các ngành khoa học thoát thai và chịu ảnh hưởng từ đó.

4.

«Aucune poétique systématique n’a donc été développée aux Etats-Unis? – Non...» (tr.226)

«Như vậy là c hưa từng có một thi pháp có tính chất hệ thống nào từng được phát triển ở Mỹ? – Không... » (Cao Việt Dũng)

«La poétique» ở đây là «thi pháp học» mà hiểu là «thi pháp» thì trình độ văn hóa chung cũng quá hạn chế, đã vậy còn không động não thì mới đưa vào miệng Vincent Kaufmann và Jonathan Culler một nhận định không những ngớ ngẩn mà còn sai nghiêm trọng. Xin hỏi ông Cao Việt Dũng: Các thi sĩ lớn của Mỹ biến đâu hết để đến nỗi cả nước không phát triển nổi một thi pháp có tính hệ thống? Ông dịch như vậy mà không giựt mình sao?

-----------

Điều này tôi đã nói: ở cái thời phổ biến “thi pháp” như ngày nay, ở trong ngành nghiên cứu văn học, thì đặt ra vấn đề như Vi Văn Tuyên là không được.

5.

«... à travers les œuvres de ceux qui ont été identifiés comme poststructuralistes (Barthes, Foucault, Lacan, etc.)» (tr.227)

«... thông qua các tác phẩm của những người bị đồng hóa thành các nhà hậu cấu trúc luận (Barthes, Foucault, Lacan, v.v...)» (Cao Việt Dũng).

«ceux qui ont été identifiés comme» mà dịch là «những người bị đồng hóa thành» thì dường như ông Cao Việt Dũng không rành cả tiếng Tây lẫn tiếng Ta.

Theo tôi, câu trên nên dịch như vầy:

«... thông qua các tác phẩm của những người được coi là hậu cấu trúc luận (Barthes, Foucault, Lacan, v.v)»

-----------

Hàm ý câu này của Culler đầy ý mỉa mai, vì Culler đang nói đến một nghịch lý: ở Mỹ cấu trúc luận lại được tiếp nhận thông qua các nhà hậu cấu trúc luận là những người đến sau. “Những người được coi là” không lột tả được ý này, nếu muốn nói thế, người ta sẽ dùng một cách nói trung tính ở đây, và đó sẽ là “être considéré comme” chứ không phải “être identifié comme”. Những người ấy (Barthes, Foucault, Lacan vân vân và vân vân) cũng không tự nhận là “hậu cấu trúc luận”.

6.

«J’ai toujours été étonné par la façon dont la droite réactionnaire a mis en avant la déconstruction dans ses plaintes à propos du déclin de la civilisation occidentale...» (tr.227).

«Tôi vẫn luôn luôn ngạc nhiên trước cách thức cánh hữu phản động đã lôi giải cấu trúc ra trước trong những lời phàn nàn của họ về sự suy tàn của nền văn minh phương Tây... » (Cao Việt Dũng).

Ông Cao Việt Dũng dịch cụm từ « a mis en avant... » theo kiểu dịch từng từ một « lôi... ra trước », nên câu tiếng Việt rất khó hiểu. Hơn nữa, ông cứ thấy trong tiếng Tây người ta dùng danh từ («ses plaintes»), thì trong tiếng Việt ông cũng phải dùng danh từ («lời phàn nàn của họ»). Dịch như vậy là không thoát, không phải cách của người có chuyên môn, các cụ gọi là dịch «mot-à-mot».

Theo tôi, câu trên nên dịch như vầy:

«Tôi đã luôn ngạc nhiên trước việc cánh hữu phản động , khi phàn nàn về chuyện văn minh phương Tây suy tàn, lại đưa giải cấu trúc ra... »

-----------

Các cụ nào gọi là dịch “mot-à-mot”? Các cụ gọi là “dịch mot à mot”. Xem TLFi ghi điều này (ở mục từ “traduction”): [le type de trad.] La traduction littérale, ou mot à mot, est la solution idéale, celle où les structures des deux énoncés sont parallèles (MOUNIN ds Lar. Lang. fr., p. 6169, col. 1). Câu này của Mounin, một chuyên gia về dịch thuật, ông ấy gọi “dịch mot à mot” là “solution idéale” (giải pháp lý tưởng) đấy.

Câu này của tôi không có vấn đề, hoặc không có đủ vấn đề để bị nói, hoặc nữa câu của Vi Văn Tuyên không ưu việt gì hơn.

7.

«Je regrette cependant que la montée en puissance de la déconstruction ait conduit à l’abandon prématuré, aux Etats-Unis, de tout projet de poétique systématique...» (tr.228).

«Tuy nhiên tôi rất tiếc sự leo thang quyền lực của giải cấu trúc đã dẫn tới sự bỏ rơi quá sớm ở Mỹ mọi dự định về thi pháp hệ thống,...» (Cao Việt Dũng).

«La montée en puissance de la déconstruction» mà dịch thành «sự leo thang quyền lực của giải cấu trúc» thì có lẽ ông Cao Việt Dũng lộn giữa «pouvoir» và «puissance».

Thêm nữa, chữ «vì» ông tự thêm vô đây làm cho câu tiếng Việt của ông sai văn phạm.

Theo tôi, câu trên nên dịch như vầy:

«Tuy nhiên tôi tiếc là sự   phát triển mạnh của giải cấu trúc đã dẫn tới sự bỏ rơi quá sớm ở Mỹ mọi dự án thi pháp học hệ thống,...»

-----------

Tôi không nghĩ sửa như Vi Văn Tuyên là đúng.

"Vì" ở chỗ ấy trong một câu nói không có gì là sai văn phạm tiếng Việt cả.

8.

«Il y a aux Etats-Unis une prime accordée à la nouveauté et à la visibilité (...) il faut dire que les départements de philosophie américains ont plus ou moins abandonné le très riche héritage de la philosophie continentale . Les départements de littérature ont pu se réapproprier cet héritage via la déconstruction, revalorisant ainsi au passage leur statut . Lorsqu’on prétend que la littérature traite de questions fondamentales, cela ne gâche rien d’avoir Kant, Adorno, Benjamin ou Heidegger dans son portfolio» (tr.229)

«Ở Mỹ có sự hào hứng dành cho cái mới và cái khả thị (...). Mặt khác, cần phải nói rằng các khoa triết học ở Mỹ đã ít nhiều từ bỏ cái di sản hết sức phong phú của triết học lục địa . Các khoa văn học đã có thể tái tiếp nhận di sản này thông qua giải cấu trúc, bằng cách ấy mà đồng thời cũng tuyên dương cho vị thế của họ . Khi người ta coi văn chương xử lý những vấn đề nền tảng, thì điều đó không gây hại gì đến việc trong hồ sơ có tên Kant, Adorno, Benjamin hay Heidegger .» (Cao Việt Dũng)

Nói thật là đọc đi đọc lại câu tiếng Việt của ông Cao Việt Dũng mà tôi không tài nào hiểu nổi. Sao trúc trắc và tối om om vậy trời? «Visibilité» mà dịch là «cái khả thi» thì hết biết. Rồi «triết học lục địa» là cái chi? «cela ne gâche rien de...» mà dịch thành «điều đó không gây hại gì đến việc...» thì hoàn toàn trái nghĩa.

Theo tôi, đoạn này nên được dịch như vầy:

«Ở Mỹ có sự hào hứng dành cho cái mới và cái bề nổi (...). Mặt khác, cần phải nói rằng các khoa triết học ở Mỹ đã ít nhiều từ bỏ di sản hết sức phong phú của triết học Âu châu lục địa . Các khoa văn đã có thể tái tiếp nhận di sản này thông qua giải cấu trúc, qua đó nâng cao vị thế của mình . Khi người ta khoe là văn chương xử lý những vấn đề nền tảng, thì chẳng thiệt hại gì mà không trưng Kant, Adorno, Benjamin hay Heidegger trong cuốn portfolio tự quảng cáo  ».

-----------

Vi Văn Tuyên chép câu của tôi vẫn đúng “khả thị” (dùng để dịch “visibilité”) thế mà ở dưới khi bình luận lại thành “khả thi” rồi dùng đó làm luận cứ để phê phán tôi.

“Triết học lục địa” là cái gì thì chuyện ông Vi Văn Tuyên không biết không có liên quan đến tôi.

Chỗ “cela ne gâche rien…” thì tôi nhận là Vi Văn Tuyên có lý hơn tôi.

9.

«Pensez-vous qu’au regard du champ littéraire et culturel contemporain, les questions soulevées par la théorie il y a trois ou quatre décennies sont toujours pertinentes?» (tr.229)

«Ông có nghĩ rằng trong cái nhìn của trường văn học và văn hóa đương đại, những vấn đề do lý thuyết xới lên cách đây ba hay bốn thập kỷ vẫn còn giữ nguyên được tính chất xác đáng không?» (Cao Việt Dũng)

Ngày càng rõ là ông Cao Việt Dũng có vấn đề với Pháp văn quá xá. «Au regard de» mà dịch là «trong cái nhìn» thì e rằng phản nghĩa. Chắc ông lộn với «Aux yeux de»? Thêm nữa, ông Cao Việt Dũng giống như người mới học tiếng Tây vậy, ông dịch mà không dám thay đổi đến một dấu phảy trong bản gốc. Dịch máy móc kiểu này coi bộ hay dẫn tới những câu vô nghĩa.

Theo tôi, câu đó nên được dịch như vầy:

«Ông có nghĩ rằng những vấn đề do lý thuyết xới lên cách đây ba hay bốn thập kỷ vẫn còn xác đáng so với lĩnh vực văn học và văn hóa đương đại không?»

-----------

Vi Văn Tuyên đề xuất một cái gì đó xa lắc so với nghĩa câu.

10.

«Il est vrai que la théorie littéraire n’est plus perçue aujourd’hui comme une chose nouvelle qu’il faudrait absolument connaître, mais il y a toujours de nombreux travaux théoriques à un titre ou à un autre qui paraissent.» (tr.230)

«Quả đúng là hiện nay lý thuyết văn học không còn được hình dung như là một điều mới mẻ mà người ta nhất thiết phải biết nữa, nhưng vẫn luôn luôn có các công trình lý thuyết về một đầu sách nào đó được xuất bản.» (Cao Việt Dũng)

Trời đất, «à un titre ou à un autre» mà không biết thì dịch cái chi đây? Cứ thấy «titre» là vội hiểu thành «đầu sách» thì coi chừng không động não nữa rồi. «Đầu sách» chỉ là một nghĩa của «titre» thôi ông ơi! Mà dịch giả gì các từ lẻ tẻ thì có vẻ biên biết, nhưng đến các cụm từ hơi phức tạp một chút là bí liền?

Theo tôi, câu trên nên được dịch như vầy:

«Đúng là hiện nay lý thuyết văn học không còn được coi là một điều mới mẻ mà người ta nhất thiết phải biết, nhưng vẫn luôn có các công trình lý thuyết, với lý do này hay lý do khác , được xuất bản

-----------

Đúng là chỗ này tôi hiểu sai, nhưng tôi không hiểu Vi Văn Tuyên đề xuất cái gì.

11.

« Il serait inimaginable , pour des étudiants gradués aujourd’hui, par exemple, de décider d’être «contre» la théorie, de ne pas en prendre connaissance au moins fragmentairement.» (tr.230)

« Thật không thể hình dung nổi, đối với các sinh viên tốt nghiệp ngày nay, chẳng hạn, quyết định “chống lại” lý thuyết, không thèm tìm hiểu nó ít nhất là một mảnh nhỏ nào đó .» (Cao Việt Dũng)
Câu dịch này của ông Cao Việt Dũng có vẻ như là một câu... cụt. Ông Cao Việt Dũng đã không nhìn thấy cụm từ  «il serait inimaginable de...» cũng không hiểu ý nghĩa của conditionnel présent (serait). Thêm nữa, ông Cao Việt Dũng hiểu sai luôn từ «fragmentairement» (có nghĩa là «từng phần một», chớ không phải «một mảnh nhỏ nào đó»).

Theo tôi, câu này nên được dịch như vầy:

«Chẳng hạn, với các sinh viên có học vị ngày nay, ‘chống lại’ lý thuyết, không tìm hiểu nó ít nhất là từng phần một, có lẽ là một việc không thể tưởng tượng nổi».

-----------

Phân tích của Vi Văn Tuyên về “conditionnel présent” là không ổn.

“Fragmentairement” mà dịch “từng phần một” thì logic mà nói (không phải tất yếu), câu này có hàm ý người sinh viên tìm hiểu từng phần một cho tới khi đến được cái toàn thể. Tình hình mà được như vậy thì có gì để phàn nàn?

Tôi không hiểu “sinh viên có học vị” là cái gì. Tìm trên toàn bộ mạng Internet, ra được đúng một kết quả là câu của… Vi Văn Tuyên. Thế là Vi Văn Tuyên đã tạo được một cách nói mới trong tiếng Việt rồi đấy.


Bản sửa 13/12/2011

Jonathan Culler. Sinh năm 1944, giáo sư ngành /ngôn ngữ Anh/ [Anh ngữ] và văn học so sánh tại Đại học Cornell (Mỹ). Các tác phẩm quan trọng: Structuralist Poetics: Structuralism, Linguistics, and the Study of Literature[,] /(/1975/)/, The Pursuit of Signs: Semiotics, Literature, Deconstruction[,] /(/1981/)/, On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism [,] /(/1982/)/, The Literary in Theory: Cultural Memory in the Present [,] /(/2006/)/.


Tôi muốn bắt đầu bằng những năm cấu trúc luận của ông. Ông phát hiện cấu trúc luận trong những năm 1960, ở Anh. Với ông đó có phải là một điều liên quan đến chính trị không? Giờ đây ông sẽ /giải thích/ [định nghĩa] thế nào /cho/ [về] mối quan tâm của ông với cấu trúc luận hồi ấy?

/Dĩ nhiên/ [Chắc chắn] là nó từng có liên quan đến chính trị, trong chừng mực phân tích cấu trúc chỉ ra đặc trưng về quy ước, về văn hóa của mọi thứ /được coi/ [hiển hiện] như là tự nhiên. Ở một bình diện khác, cấu trúc luận còn /giống/ [từng hiện ra] như một lực cách mạng trong bối cảnh hệ thống giáo dục Pháp hồi đó. Từ 1966 đến 1969, tôi là sinh viên ở Oxford, nhưng tôi sống ở Nhà Pháp và do vậy có rất nhiều liên hệ với các nhà nghiên cứu và giảng viên người Pháp. Hiển nhiên là với họ cấu trúc luận cùng lý thuyết nói chung có rất nhiều liên quan đến chính trị, đặc biệt chúng đại diện cho một sự đoạn tuyệt với giới học thuật đã được thiết lập. Mọi thứ đều chỉ ra rằng giới này sẽ bị rúng động bởi sự đột phá của các ngành khoa học nhân văn - không chỉ có [Roland] Barthes và cuộc tranh luận của ông với [Raymond] Picard, mà còn có ảnh hưởng của [Louis] Althusser hay [Michel] Foucault khi đó vẫn còn /kết nối/ [gắn bó] với cấu trúc luận của thời ấy.

Cấu trúc luận cũng có một kích thước chính trị với bản thân tôi vì nó cho phép hướng tới một chuyển hóa trong nghiên cứu văn học ở Anh và Mỹ. Hồi /đó/ [ấy] Oxford vô cùng bảo thủ, và khi được bổ nhiệm tại đó vào năm 1974, trên thực tế tôi là giảng viên duy nhất - cùng Terry Eagleton - quan tâm tới lý thuyết. Tôi đã /lập ra/ [mở] một xêmina về lý thuyết văn học, đó là một cuộc phiêu lưu rất nhiều kích thích, khi ấy chúng tôi nghĩ mình sẽ tạo ra những cấu trúc hàn lâm hoàn toàn mới.

Xét cho đến cùng, câu trả lời của tôi gồm hai vế. Một mặt, việc tôi khám phá cấu trúc luận và ngôn ngữ học đã cấu thành một /chuỗi/ [bước] logic /trong/ [từ] mối quan tâm học thuật của tôi dành cho hiện tượng luận. Nhưng, mặt khác, trong bối cảnh nước Anh rất truyền thống ấy, lý thuyết - thường xuyên được /gọi/ [định danh]french nonsense [sự vớ vẩn của người Pháp] ở Anh - mang một tác dụng biểu nghĩa chính trị.

Rồi ông quay về Mỹ. Liệu có phải là với ông cấu trúc luận vẫn giữ nguyên chức năng ở một bối cảnh dù sao thì cũng rất khác biệt như thế?

Quả thực là rất khác. Một trong những điều làm tôi thấy kinh ngạc là sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ theo cách nào đó đã bị ngắt mạch bởi sự xuất hiện của cái mà người ta gọi là hậu cấu trúc luận, rồi người Mỹ chuyển sang đó rất nhanh chóng, cứ như là để thanh toán cấu trúc luận vậy. Với tôi, sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ có cái gì đó đáng thất vọng, đặc biệt nếu ta coi nó, ở mức độ văn chương, như một dự án có tính chất hệ thống dành để tiến tới một thi pháp.

Như vậy là chưa từng có một thi pháp có tính chất hệ thống nào từng được phát triển ở Mỹ?

Không [có đâu], nếu như ông nghĩ tới các công trình của Gérard Genette hoặc của [Tzvetan]Phê bình Mới, /một số lượng nhất định tham số/ [một số lượng tham số nhất định] được đưa vào Pháp qua cấu trúc luận, nhất là sự tập trung lên tự thân văn bản văn học chứ không phải bối cảnh lịch sử hay tiểu sử. Cuộc tranh cãi Barthes-Picard hẳn sẽ không thể xảy ra ở Mỹ vì Picard hẳn sẽ không có được cả thẩm quyền lẫn vị thế mà ông có ở Pháp. Nguyên nhân khác là Phê bình Mới đã làm lan rộng ý tưởng theo đó nhiệm vụ thứ nhất của phê bình văn học là diễn giải các văn bản. Vậy nên, khi tôi nói tới Barthes, Genette, Todorov, [Algirdas Julien] Greimas…, người ta luôn luôn hỏi tôi những lý thuyết ấy cho phép đọc tốt hơn hay hiểu tốt hơn các tác phẩm đơn lẻ như thế nào. Trong bối cảnh ấy, một dự án về thi pháp hệ thống rất khó được hiện thực hóa. Quả thực sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ được thực hiện theo lối hậu nghiệm, thông qua các tác phẩm của những người bị đồng hóa thành các nhà hậu cấu trúc luận (Barthes, Foucault, Lacan, v.v…) Todorov thời kỳ đầu, không hề có gì tương đương vậy đâu. Genette, Todorov và những người khác đã được dịch, nhưng không tạo được cảm hứng cho các công trình tương tự ở Mỹ. Có nhiều nguyên nhân cho điều này. Một trong số đó là nghiên cứu văn học Mỹ đã thu nhận vào mình, nhờ

Ta hãy chuyển sang vấn đề giải cấu trúc, mà ông đã theo rất sát, mà tuy nhiên lại không thuộc vào “nhóm đầu tiên” (tức là nhóm của Paul de Man). Đâu là những điểm quan trọng của nó? Cả ở đây nữa, ông có hình dung giải cấu trúc như là điều có liên quan tới ý hệ và chính trị không?

Rất rõ ràng, ở Mỹ cũng như ở Pháp, giải cấu trúc từng được hình dung như là sở hữu một kích thước chính trị, nó tấn công vào các cấu trúc và các tôn ti định ra nền văn hóa phương Tây. Cần phải xem ở Mỹ khái niệm giải cấu trúc này đã trở thành một địa điểm quy tụ mọi thứ như thế nào. Tôi vẫn luôn luôn ngạc nhiên trước cách thức cánh hữu phản động đã lôi giải cấu trúc ra trước trong những lời phàn nàn của họ về sự suy tàn của nền văn minh phương Tây, trong khi các đối thủ đích thực của cánh hữu này lẽ ra phải là Cultural Studies [văn hóa học]. Còn ở bên phe giải cấu trúc, người ta tiếp tục đọc Platon, Rousseau, Kant, và tất cả các tác giả lớn, thay vì nghiên cứu truyền hình hay văn hóa đại chúng.

Cuộc gặp của tôi với giải cấu trúc thì có ít tính chất chính trị hơn nhiều. Tôi đã khám phá giải cấu trúc thông qua mối quan tâm tới cấu trúc luận của tôi, khi đọc Về văn phạm học [De la grammatologie] của [Jacques] Derrida, và đặc biệt hơn là các tiểu luận của ông về [Ferdinand de][Claude] Lévi-Strauss. Những lần đọc đó đã mở ra các triển vọng có tính chất phê phán mới mẻ cho các nghiên cứu của tôi về cấu trúc luận, nhất là với vấn đề siêu ngôn ngữ [métalangage] hoặc vấn đề tính khoa học của cách tiếp cận cấu trúc luận. Tuy nhiên tôi rất tiếc vì sự /leo thang quyền lực/ [thăng tiến] của giải cấu trúc đã dẫn tới sự bỏ rơi quá sớm ở Mỹ mọi dự định về thi pháp hệ thống, mọi dự định về “ngữ pháp văn bản”. Saussure và

Liệu ông có đi đến tận chỗ nói rằng giải cấu trúc đã tự ấn định ở Mỹ chống lại lý thuyết không?

Không phải là chống lại lý thuyết, mà ở một mức độ nào đó là chống lại các dự định lý thuyết có hệ thống, cái đó thì đúng. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, giải cấu trúc quả thực đã khuyến khích các /hoạt động/ [thực hành] thông diễn học nhiều hơn là việc đặt ra một thi pháp, cái mà tôi luôn luôn đấu tranh bảo vệ nguyên lý.

Ông đánh giá thế nào về tính triệt để của các vấn đề chính trị hay ý hệ được cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận giương ra phía trước?

Chắc chắn là có điều gì đó triệt để trong giải cấu trúc đối với các tôn ti ý niệm chính đã cấu trúc nên văn hóa phương Tây. Tiềm năng chính trị của nó có thể nhận thấy được trong sự phát triển của nữ quyền luận, và ngày càng nhiều hơn cả trong Gay and Lesbian Studies [Nghiên cứu đồng tính nam và nữ] - một tác phẩm như tác phẩm của Judith Butler mượn rất nhiều thứ từ Derrida và Foucault. Nhưng trên một bình diện chung hơn, tác động của giải cấu trúc có nhiều tính chất triết học hơn và chỉ có tính chất chính trị theo cách gián tiếp. Trong những gì liên quan tới cấu trúc luận thì khó đo đếm hơn. Một trong những lĩnh vực nó tạo được tác động là lĩnh vực của Cultural Studies - tôi tin là như vậy, ngay cả khi đây là một luận điểm gần như chỉ có một mình tôi bảo vệ. Những người làm việc trong lĩnh vực này thường xuyên tự thấy mình như là các kẻ thù của “lý thuyết cao cấp” [high theory], lý thuyết Pháp, nhưng các nhà cấu trúc [luận] đã thực sự đóng góp rất nhiều trong việc đặt lại vấn đề về những phân biệt truyền thống giữa văn hóa “cao” và văn hóa “thấp”. Umberto Eco đã viết về James Bond và dĩ nhiên có cả Những huyền thoại của Barthes nữa.

Ông giải thích thế nào về thành công, dù sao thì cũng khá choáng váng, của giải cấu trúc tại các trường đại học Mỹ?

Đó là một điều thật đáng kinh ngạc, nhất là nếu so với sự thiếu thành công của cấu trúc luận. Tôi thấy ở đây hai nguyên nhân. Một mặt, hệ thống đại học Mỹ “có tính chất doanh nghiệp” cao độ, trong khi hệ thống đại học Anh, chẳng hạn vậy, có thể coi là người canh giữ cho một truyền thống nhiều hơn. Ở Mỹ có sự hào hứng dành cho cái mới và cái khả thị - tồn tại một dạng star system [hệ thống ngôi sao] về học thuật, với các hội thảo /vân vân/ [v.v…], cái chắc chắn là đã tạo thuận lợi cho những người ủng hộ giải cấu trúc, cũng như cho những người ủng hộ những cái mới khác. Mặt khác, cần phải nói rằng các khoa triết học ở Mỹ đã ít nhiều từ bỏ cái di sản hết sức phong phú của triết học lục địa. Các khoa văn học đã có thể tái tiếp nhận di sản này thông qua giải cấu trúc, bằng cách ấy mà đồng thời cũng tuyên dương cho vị thế của họ. Khi người ta coi văn chương xử lý những vấn đề nền tảng, thì /điều đó không gây hại gì đến/ việc trong hồ sơ có tên Kant, Adorno, Benjamin hay Heidegger [là không có gì gây hại]. Những nguyên nhân này theo tôi cũng giải thích cho thành công rất hạn chế của giải cấu trúc tại Pháp. Sorbonne không được cấu trúc như một doanh nghiệp hướng tới tính khả thị của các nhà nghiên cứu hay các giáo sư, và triết học không cần tới giải cấu trúc để sở hữu được một tính chất khả thị nào đó.

Ông có nghĩ rằng /trong cái nhìn của/ [liên quan đến] trường văn học và văn hóa đương đại, những vấn đề do lý thuyết xới lên cách đây ba hay bốn thập kỷ vẫn còn giữ nguyên được tính chất xác đáng không? Và nhìn chung hơn: lý thuyết văn học có tương lai nào không?

Quả đúng là hiện nay lý thuyết văn học không còn được hình dung như là một điều mới mẻ mà người ta nhất thiết phải biết nữa, nhưng vẫn luôn luôn có các công trình lý thuyết về /một đầu sách nào đó/ [một vấn đề nào đó] được xuất bản. Những gì thú vị hơn cả trong nghiên cứu văn học ngày nay không thể tách rời khỏi lý thuyết. Mối quan tâm ngày càng mạnh đối với văn chương hậu thuộc địa đã đóng góp vào việc làm nảy sinh những vấn đề lý thuyết mới: chẳng hạn vấn đề vị thế một nền văn chương quốc gia trong đối sánh với văn chương di dân hoặc văn chương sản sinh ra tại các thuộc địa cũ. Chùm vấn đề mới này cũng dẫn tới nhiều thảo luận về việc một nền văn chương “thế giới” sẽ phải như thế nào. Nhìn chung, lĩnh vực nghiên cứu hậu thuộc địa, mang dấu ấn lý thuyết rất mạnh mẽ, luôn luôn sống động. Thật không thể hình dung nổi, đối với các sinh viên tốt nghiệp ngày nay, chẳng hạn, quyết định “chống lại” lý thuyết, không thèm tìm hiểu nó ít nhất là một mảnh nhỏ nào đó.

Thêm: [(trích từ Vincent Kaufmann, La Faute à Mallarmé. L’aventure de la théorie littéraire [Lỗi của Mallarmé. Cuộc phiêu lưu của lý thuyết văn học], Seuil, 2011, tr. 225-230)]

---------------------

Jonathan Culler. Sinh năm 1944, giáo sư ngành ngôn ngữ Anh và văn học so sánh tại Đại học Cornell (Mỹ). Các tác phẩm quan trọng: Structuralist Poetics: Structuralism, Linguistics, and the Study of Literature (1975), The Pursuit of Signs: Semiotics, Literature, Deconstruction (1981), On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism (1982), The Literary in Theory: Cultural Memory in the Present (2006).


Tôi muốn bắt đầu bằng những năm cấu trúc luận của ông. Ông phát hiện cấu trúc luận trong những năm 1960, ở Anh. Với ông đó có phải là một điều liên quan đến chính trị không? Giờ đây ông sẽ giải thích thế nào cho mối quan tâm của ông với cấu trúc luận hồi ấy?

Dĩ nhiên là nó từng có liên quan đến chính trị, trong chừng mực phân tích cấu trúc chỉ ra đặc trưng về quy ước, về văn hóa của mọi thứ được coi như là tự nhiên. Ở một bình diện khác, cấu trúc luận còn giống như một lực cách mạng trong bối cảnh hệ thống giáo dục Pháp hồi đó. Từ 1966 đến 1969, tôi là sinh viên ở Oxford, nhưng tôi sống ở Nhà Pháp và do vậy có rất nhiều liên hệ với các nhà nghiên cứu và giảng viên người Pháp. Hiển nhiên là với họ cấu trúc luận cùng lý thuyết nói chung có rất nhiều liên quan đến chính trị, đặc biệt chúng đại diện cho một sự đoạn tuyệt với giới học thuật đã được thiết lập. Mọi thứ đều chỉ ra rằng giới này sẽ bị rúng động bởi sự đột phá của các ngành khoa học nhân văn - không chỉ có Barthes và cuộc tranh luận của ông với Picard, mà còn có ảnh hưởng của Althusser hay Foucault khi đó vẫn còn kết nối với cấu trúc luận của thời ấy.

Cấu trúc luận cũng có một kích thước chính trị với bản thân tôi vì nó cho phép hướng tới một chuyển hóa trong nghiên cứu văn học ở Anh và Mỹ. Hồi đó Oxford vô cùng bảo thủ, và khi được bổ nhiệm tại đó vào năm 1974, trên thực tế tôi là giảng viên duy nhất - cùng Terry Eagleton - quan tâm tới lý thuyết. Tôi đã lập ra một xêmina về lý thuyết văn học, đó là một cuộc phiêu lưu rất nhiều kích thích, khi ấy chúng tôi nghĩ mình sẽ tạo ra những cấu trúc hàn lâm hoàn toàn mới.

Xét cho đến cùng, câu trả lời của tôi gồm hai vế. Một mặt, việc tôi khám phá cấu trúc luận và ngôn ngữ học đã cấu thành một chuỗi logic trong mối quan tâm học thuật của tôi dành cho hiện tượng luận. Nhưng, mặt khác, trong bối cảnh nước Anh rất truyền thống ấy, lý thuyết - thường xuyên được gọi là french nonsense [sự vớ vẩn của người Pháp] ở Anh - mang một tác dụng biểu nghĩa chính trị.

Rồi ông quay về Mỹ. Liệu có phải là với ông cấu trúc luận vẫn giữ nguyên chức năng ở một bối cảnh dù sao thì cũng rất khác biệt như thế?

Quả thực là rất khác. Một trong những điều làm tôi thấy kinh ngạc là sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ theo cách nào đó đã bị ngắt mạch bởi sự xuất hiện của cái mà người ta gọi là hậu cấu trúc luận, rồi người Mỹ chuyển sang đó rất nhanh chóng, cứ như là để thanh toán cấu trúc luận vậy. Với tôi, sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ có cái gì đó đáng thất vọng, đặc biệt nếu ta coi nó, ở mức độ văn chương, như một dự án có tính chất hệ thống dành để tiến tới một thi pháp.

Như vậy là chưa từng có một thi pháp có tính chất hệ thống nào từng được phát triển ở Mỹ?

Không, nếu như ông nghĩ tới các công trình của Gérard Genette hoặc của Todorov thời kỳ đầu, không hề có gì tương đương vậy đâu. Genette, Todorov và những người khác đã được dịch, nhưng không tạo được cảm hứng cho các công trình tương tự ở Mỹ. Có nhiều nguyên nhân cho điều này. Một trong số đó là nghiên cứu văn học Mỹ đã thu nhận vào mình, nhờ Phê bình Mới, một số lượng nhất định tham số được đưa vào Pháp qua cấu trúc luận, nhất là sự tập trung lên tự thân văn bản văn học chứ không phải bối cảnh lịch sử hay tiểu sử. Cuộc tranh cãi Barthes-Picard hẳn sẽ không thể xảy ra ở Mỹ vì Picard hẳn sẽ không có được cả thẩm quyền lẫn vị thế mà ông có ở Pháp. Nguyên nhân khác là Phê bình Mới đã làm lan rộng ý tưởng theo đó nhiệm vụ thứ nhất của phê bình văn học là diễn giải các văn bản. Vậy nên, khi tôi nói tới Barthes, Genette, Todorov, Greimas…, người ta luôn luôn hỏi tôi những lý thuyết ấy cho phép đọc tốt hơn hay hiểu tốt hơn các tác phẩm đơn lẻ như thế nào. Trong bối cảnh ấy, một dự án về thi pháp hệ thống rất khó được hiện thực hóa. Quả thực sự tiếp nhận cấu trúc luận ở Mỹ được thực hiện theo lối hậu nghiệm, thông qua các tác phẩm của những người bị đồng hóa thành các nhà hậu cấu trúc luận (Barthes, Foucault, Lacan, v.v…)

Ta hãy chuyển sang vấn đề giải cấu trúc, mà ông đã theo rất sát, mà tuy nhiên lại không thuộc vào “nhóm đầu tiên” (tức là nhóm của Paul de Man). Đâu là những điểm quan trọng của nó? Cả ở đây nữa, ông có hình dung giải cấu trúc như là điều có liên quan tới ý hệ và chính trị không?

Rất rõ ràng, ở Mỹ cũng như ở Pháp, giải cấu trúc từng được hình dung như là sở hữu một kích thước chính trị, nó tấn công vào các cấu trúc và các tôn ti định ra nền văn hóa phương Tây. Cần phải xem ở Mỹ khái niệm giải cấu trúc này đã trở thành một địa điểm quy tụ mọi thứ như thế nào. Tôi vẫn luôn luôn ngạc nhiên trước cách thức cánh hữu phản động đã lôi giải cấu trúc ra trước trong những lời phàn nàn của họ về sự suy tàn của nền văn minh phương Tây, trong khi các đối thủ đích thực của cánh hữu này lẽ ra phải là Cultural Studies [Văn hóa học]. Còn ở bên phe giải cấu trúc, người ta tiếp tục đọc Platon, Rousseau, Kant, và tất cả các tác giả lớn, thay vì nghiên cứu truyền hình hay văn hóa đại chúng.

Cuộc gặp của tôi với giải cấu trúc thì có ít tính chất chính trị hơn nhiều. Tôi đã khám phá giải cấu trúc thông qua mối quan tâm tới cấu trúc luận của tôi, khi đọc Về văn phạm học của Derrida, và đặc biệt hơn là các tiểu luận của ông về Saussure và Lévi-Strauss. Những lần đọc đó đã mở ra các triển vọng có tính chất phê phán mới mẻ cho các nghiên cứu của tôi về cấu trúc luận, nhất là với vấn đề siêu ngôn ngữ [métalangage] hoặc vấn đề tính khoa học của cách tiếp cận cấu trúc luận. Tuy nhiên tôi rất tiếc vì sự leo thang quyền lực của giải cấu trúc đã dẫn tới sự bỏ rơi quá sớm ở Mỹ mọi dự định về thi pháp hệ thống, mọi dự định về “ngữ pháp văn bản”.

Liệu ông có đi đến tận chỗ nói rằng giải cấu trúc đã tự ấn định ở Mỹ chống lại lý thuyết không?

Không phải là chống lại lý thuyết, mà ở một mức độ nào đó là chống lại các dự định lý thuyết có hệ thống, cái đó thì đúng. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, giải cấu trúc quả thực đã khuyến khích các hoạt động thông diễn học nhiều hơn là việc đặt ra một thi pháp, cái mà tôi luôn luôn đấu tranh bảo vệ nguyên lý.

Ông đánh giá thế nào về tính triệt để của các vấn đề chính trị hay ý hệ được cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận giương ra phía trước?

Chắc chắn là có điều gì đó triệt để trong giải cấu trúc đối với các tôn ti ý niệm chính đã cấu trúc nên văn hóa phương Tây. Tiềm năng chính trị của nó có thể nhận thấy được trong sự phát triển của nữ quyền luận, và ngày càng nhiều hơn cả trong Gay and Lesbian Studies [Nghiên cứu đồng tính nam và nữ] - một tác phẩm như tác phẩm của Judith Butler mượn rất nhiều thứ từ Derrida và Foucault. Nhưng trên một bình diện chung hơn, tác động của giải cấu trúc có nhiều tính chất triết học hơn và chỉ có tính chất chính trị theo cách gián tiếp. Trong những gì liên quan tới cấu trúc luận thì khó đo đếm hơn. Một trong những lĩnh vực nó tạo được tác động là lĩnh vực của Cultural Studies - tôi tin là như vậy, ngay cả khi đây là một luận điểm gần như chỉ có một mình tôi bảo vệ. Những người làm việc trong lĩnh vực này thường xuyên tự thấy mình như là các kẻ thù của “lý thuyết cao cấp”, lý thuyết Pháp, nhưng các nhà cấu trúc đã thực sự đóng góp rất nhiều trong việc đặt lại vấn đề về những phân biệt truyền thống giữa văn hóa “cao” và văn hóa “thấp”. Umberto Eco đã viết về James Bond và dĩ nhiên có cả Những huyền thoại của Barthes nữa.

Ông giải thích thế nào về thành công, dù sao thì cũng khá choáng váng, của giải cấu trúc tại các trường đại học Mỹ?

Đó là một điều thật đáng kinh ngạc, nhất là nếu so với sự thiếu thành công của cấu trúc luận. Tôi thấy ở đây hai nguyên nhân. Một mặt, hệ thống đại học Mỹ “có tính chất doanh nghiệp” cao độ, trong khi hệ thống đại học Anh, chẳng hạn vậy, có thể coi là người canh giữ cho một truyền thống nhiều hơn. Ở Mỹ có sự hào hứng dành cho cái mới và cái khả thị - tồn tại một dạng star system [hệ thống ngôi sao] về học thuật, với các hội thảo vân vân, cái chắc chắn là đã tạo thuận lợi cho những người ủng hộ giải cấu trúc, cũng như cho những người ủng hộ những cái mới khác. Mặt khác, cần phải nói rằng các khoa triết học ở Mỹ đã ít nhiều từ bỏ cái di sản hết sức phong phú của triết học lục địa. Các khoa văn học đã có thể tái tiếp nhận di sản này thông qua giải cấu trúc, bằng cách ấy mà đồng thời cũng tuyên dương cho vị thế của họ. Khi người ta coi văn chương xử lý những vấn đề nền tảng, thì điều đó không gây hại gì đến việc trong hồ sơ có tên Kant, Adorno, Benjamin hay Heidegger. Những nguyên nhân này theo tôi cũng giải thích cho thành công rất hạn chế của giải cấu trúc tại Pháp. Sorbonne không được cấu trúc như một doanh nghiệp hướng tới tính khả thị của các nhà nghiên cứu hay các giáo sư, và triết học không cần tới giải cấu trúc để sở hữu được một tính chất khả thị nào đó.

Ông có nghĩ rằng trong cái nhìn của trường văn học và văn hóa đương đại, những vấn đề do lý thuyết xới lên cách đây ba hay bốn thập kỷ vẫn còn giữ nguyên được tính chất xác đáng không? Và nhìn chung hơn: lý thuyết văn học có tương lai nào không?

Quả đúng là hiện nay lý thuyết văn học không còn được hình dung như là một điều mới mẻ mà người ta nhất thiết phải biết nữa, nhưng vẫn luôn luôn có các công trình lý thuyết về một đầu sách nào đó được xuất bản. Những gì thú vị hơn cả trong nghiên cứu văn học ngày nay không thể tách rời khỏi lý thuyết. Mối quan tâm ngày càng mạnh đối với văn chương hậu thuộc địa đã đóng góp vào việc làm nảy sinh những vấn đề lý thuyết mới: chẳng hạn vấn đề vị thế một nền văn chương quốc gia trong đối sánh với văn chương di dân hoặc văn chương sản sinh ra tại các thuộc địa cũ. Chùm vấn đề mới này cũng dẫn tới nhiều thảo luận về việc một nền văn chương “thế giới” sẽ phải như thế nào. Nhìn chung, lĩnh vực nghiên cứu hậu thuộc địa, mang dấu ấn lý thuyết rất mạnh mẽ, luôn luôn sống động. Thật không thể hình dung nổi, đối với các sinh viên tốt nghiệp ngày nay, chẳng hạn, quyết định “chống lại” lý thuyết, không thèm tìm hiểu nó ít nhất là một mảnh nhỏ nào đó.