nhân quyển đại luận Sự nghèo nàn của thuyết sử luận của Karl Popper vừa in xong (đối tượng mà Popper chống là historicism), tôi chợt nhớ đến thái độ của Hồ Hữu Tường
"Rầy, mắng, chưởi tôi, thì tôi đành chịu. Nhưng đến khi đậy nắp quan tài cho tôi rồi, tôi vẫn không nhận rằng sử học là một khoa học. Đời tôi, tôi chưa hề có dịp "làm sử", song tôi lại có dịp tiếp cận những kẻ mà các sử gia thảy công nhận là "kẻ làm sử". Như trên bình diện quốc tế: Trotsky. Như trên bình diện dân tộc, những Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Đình Nhu,... đối với tôi có gì là xa lạ? Tôi biết những kẻ làm sử ấy bằng một lối, mà tôi rèn ra một danh từ mới để gọi, là "thực chứng pháp"... rồi tôi cũng nghe hay đọc lắm huyền thoại về họ, nghe và đọc cho đến đỗi hóa ngấy đi. Đó là một cái duyên cớ làm cho tôi không tin "sử liệu" do "nhân chứng" chép lại. Rồi luôn đà, tôi không tin nốt cái "biện chứng pháp".
Đỗ Bá Thế, tôi quên là mang bút hiệu gì, trong một hồi ký tiểu thuyết hóa, có nhắc một câu chuyện, tuy ngộ nghĩnh, song không đáng gọi là "giai thoại". Có gì đẹp đẽ cho nhà văn tài hoa, là Nhượng Tống đâu, mà gọi là "giai"? Nên chữa lại là "trào thoại", một câu chuyện kể lại để cười xòa, rồi quên đi, chớ đừng có ác ý chi cả. Lúc ấy Thâu và tôi ra Bắc, toan sang Tàu. Thâu tật nguyền, tay mặt sử dụng không được, phải dắt theo một chàng thanh niên để làm thơ ký riêng và để giúp đỡ: ấy là Thế. Ba chúng tôi tạm trọ nhà ông Văng [Lê Văn Văng], giám đốc nhà xuất bản Tân Việt; và nơi đây, gặp Nhượng Tống đến. Giữa ba điều, bốn chuyện, Thâu có trách các đảng phái quốc gia sao chỉ hoạt động ở địa phương, thêm chẳng tìm [sic] đồng minh nơi các tổ chức cách mạng khác. Nhượng Tống cãi lại hăng hái:
- Có chớ! Có chớ! Chúng tôi có phái người vào Nam mà liên lạc với Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường rồi!
- Có kết quả không?
- Kết quả mỹ mãn lắm. Thâu và Tường đều thỏa thuận bắt tay với chúng tôi cả!
Nhượng Tống có dè đâu "người điền chủ mang bịnh bán thân bất toại và tay buôn lậu" ra nghiên cứu thị trường lúa gạo ngoài Bắc lại là Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường đang nói chuyện với mình? Nếu Nhượng Tống bằng vào một bản "báo cáo của phái đoàn V.N.Q.D.Đ gởi vào Nam", thì Nhượng Tống đã bị đồng chí của mình bịp: và vài trăm năm sau, một sử gia nào chớp được bản báo cáo ấy, dùng làm sử liệu, thì thật là xa sự thật. Thực chứng một "trào thoại" buồn cười như thế, Thâu và tôi phải nén cười, chờ cho khổ chủ là Nhượng Tống bước ra khỏi nhà, thì cả nhà phá lên cười to. Càng cười ngắt nghẽo [sic] là chị chủ, cả mười phút sau, chị mới nói được:
- Thấy mặt anh năm lớn và anh năm nhỏ làm nghiêm, không đính chánh lại, tôi tức cười muốn chết! Phải chi anh Nhượng Tống rán ở lại thêm ít phút nữa, chắc là tôi nhịn cười hết nổi...
Đời tôi, tôi đã thực chứng hàng tá huyền thoại, tuy không quá buồn cười như chuyện "trào thoại" vừa kể, song cũng xa sự thật không kém. Lúc còn là sanh viên, tôi hay ngốn ngấu thứ văn chương rẻ tiền (vì có tiền đâu mà mua thứ quí?), có lượt tôi đọc được một câu khá hay: "À Saigon on se promène sous les ananas" [chủ thích dưới trang: "Ở Sài-gòn, người ta đi dạo dưới tàng cây thơm". Nhà văn ta, thấy quả thơm to hơn quả táo nhiều, tưởng tượng cây thơm phải to bằng mười lần cây táo ở Âu-châu.] Từ ấy, tôi sanh ra thương hại cho các "sử gia", trích dẫn sách nầy, sách kia, dẫn chứng những "sử liệu", để vặn cổ cái lịch sử đích thật, hầu chứng minh một cái thuyết lập dị nào đó.
Đáng lẽ, cái "sử quan" kỳ quái nầy, tôi ôm ấp trong lòng, và đừng đem ra nói cho người khác nghe, nhứt là viết bằng mực đen trên giấy trắng. Làm như vậy thật mích lòng những sử gia xây dựng uy tín của mình trên tờ a, tờ b. Nhưng chẳng đừng được, tôi phải nói. Từ khi tôi viết bộ Phi Lạc, thì trong dân gian, người nầy truyền cho người kia là "Hồ Hữu Tường nói dóc tổ". Nói dóc, quả tôi có nói dóc, khi nào cần pha trò để cười xòa. Nhưng cũng có khi nói thiệt. Đàng nầy lại ngoại suy, cho bất cứ cái chi tôi nói thảy đều dóc; rồi vài trăm năm sau, một sử gia nào đó, căn cứ vào những tài liệu của "nhân chứng" là kẻ sống một thời với tôi, lại viết vào sử rằng "Hồ Hữu Tường là tay nói dóc tổ" thì có phải thiệt cho vong hồn tôi không? Con cháu tôi, đến ngày kỵ cơm của tôi, bởi xấu hổ vì có một ông vải nói dóc quá, nên không dám "hội lại mà kể công đức" của tôi; té ra bữa kỵ cơm của tôi bị bỏ đi, rồi mãi tôi thành con ma đói!"
(trích bài "Học thiệt", tạp chí Văn số 46, 15/11/1965, tr. 3-5)
-----------
Hồ Hữu Tường có kiểu đầu óc thật giống Phan Khôi, vô cùng ương ngạnh và về bản chất là nhất định không chịu đứng vào phe nào, để rồi cứ thế mất hút trong cái gọi là lịch sử của Việt Nam
thêm về Hồ Hữu Tường
Aug 30, 2012
Aug 26, 2012
của người khác
Cách đây không lâu, có một nghiên cứu đưa ra kết quả: người
sử dụng Facebook luôn luôn trưng ra trên “tường nhà” mình một hình ảnh về bản
thân vui tươi hơn, sung sướng hơn thực tế. Có nghĩa là con người ta (giờ đây
cách nói khái quát này tạm chấp nhận được vì lượng người dùng Facebook trên thế
giới đã lớn lắm rồi) thường xuyên bị thôi thúc bởi ham muốn tô điểm cuộc đời.
Để làm gì? Câu hỏi này đưa ta vào một lĩnh vực phức tạp và gay cấn của mối quan
hệ giữa mình và người khác.
Aug 24, 2012
Aug 22, 2012
hiện đại và hậu hiện đại
người Pháp luận giải về "hậu hiện đại" rất khác người Mỹ, mặc dù Lyotard có một vị trí lớn trong lịch sử tư duy hậu hiện đại; dưới đây là một đoạn cho thấy sự hoài nghi đối với hậu hiện đại từ một chuyên gia văn học người Pháp:
Khoảng cuối những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ này [tức “hậu
hiện đại”] nhập cư vào châu Âu, đáng chú ý nhất là trong tác phẩm của
Jean-François Lyotard, Hoàn cảnh hậu hiện
đại. Cùng lúc ấy, ở Mỹ, sức hút của các thực hành mang tên hậu hiện đại và
của các lý thuyết Pháp mang tên “hậu cấu trúc” - Lacan, Barthes, Derrida - bắt
đầu rõ rệt. Rồi trong những năm 80, khái niệm ấy được mở rộng hẳn ra ngoài sự
định danh của một phong cách mới mẻ; nó thực sự trở thành thứ cái gì cũng nhét
vào được. Theo Jürgen Habermas, người phê phán hậu hiện đại rất nghiêm khắc và
do vậy là người bảo vệ cho chủ nghĩa hiện đại, hiệu lệnh của tính hậu hiện đại,
với tư cách lời chối bỏ lý tính hiện đại bắt nguồn từ thời Khai sáng, được đồng
hóa với một thứ chủ nghĩa tân bảo thủ chính trị và xã hội. Nhưng làm thế nào mà
nhập chung cái nghĩa này với cách dùng từ từng xuất hiện trong kiến trúc, nhằm
trỏ tới một phản ứng trước chủ nghĩa chức năng?
Ở “hậu hiện đại” có một nghịch lý lồ lộ, nó làm ra vẻ chấm
dứt hiện đại nhưng khi đoạn tuyệt với hiện đại thì nó lặp lại đúng cái thao tác
có tính chất hiện đại hiển nhiên nhất, thao tác ấy là đoạn tuyệt. Gianni
Vattimo đã miêu tả rất khéo léo nghịch lý này:
“Việc khẳng định rằng chúng ta đang ở vào một thời điểm nằm sau
tính hiện đại và cấp cho sự kiện này một ý nghĩa mang tính chất quyết định nào
đó, việc ấy đặt ra giả định rằng ta chấp nhận điều đặc trưng nhất của chính
quan điểm hiện đại, tức là ý niệm về lịch sử và những hệ lụy của nó: khái niệm
tiến bộ và khái niệm vượt trội.”
Hậu hiện đại, với việc bày ra một mâu thuẫn trong các
từ [cấu thành nên nó], liệu có phải là “avatar” mới nhất của tính hiện đại? Hay
nó đại diện cho một bước ngoặt đích thực, sự thoát khỏi hiện đại? Liệu có phải
nó chỉ là một điều mới mẻ so với hiện đại, như vẫn luôn luôn được hiểu như vậy
trong logic của sự đổi mới? Hay nó đã thành công được trong “sự xóa bỏ phạm trù
cái mới”? Nó có đặt dấu chấm hết cho học thuyết về tiến bộ và học thuyết về
phát triển không? Như vậy là đòi hỏi quá nhiều, và hậu hiện đại càng gây ra
nhiều hoài nghi ở Pháp hơn nữa bởi chúng ta đã không tạo ra nó, trong khi chúng
ta tự cho mình là cha đẻ của tính hiện đại và “tiền phong”, cũng như quyền con
người.
Aug 20, 2012
hai mươi tư khác
thành quả của hai năm vừa rồi (theo thứ tự từ xa đến gần, nhưng sắp xếp này chắc cũng không chính xác hoàn toàn vì nhiều cái giờ không còn nhớ)
hai mươi tư trước thì ở đây
Aug 19, 2012
Hồi ký Phạm Cao Củng
đến bài này là vừa tròn bốn năm, đủ 48 bài, trong bốn năm ấy chưa lần nào bị đổ trang :p
từ số tới bắt đầu đổi format
Phạm Cao Củng: một cuộc đời
Chỉ là một cuộc đời, nhưng một cuộc đời mới đáng nói làm sao. Chỉ riêng
việc Phạm Cao Củng năm nay tròn 100 tuổi đã khiến người đọc bị rơi ngay
vào một chấn động nhẹ trong cảm thức về thời gian: những đàn anh của
ông, như Phùng Bảo Thạch, như Lê Văn Siêu, những bạn bè của ông, như Lê
Tràng Kiều, rồi cả những “đàn em” của ông, như Đặng Thế Phong, như Hoàng
Quý, tất thảy đều tưởng như xa lắc xa lơ, sống ở một thời đã rất cách
quãng với chúng ta; không những thế nhiều người trong số họ đã kịp trở
thành mục từ trong từ điển hay đốm sáng trong kho tàng huyền thoại lịch
sử. Vậy mà trên bìa sau cuốn “Hồi ký Phạm Cao Củng” (Nhã Nam & NXB
Hội Nhà văn) ta đọc thấy dòng chữ ông mới viết cách đây chưa lâu:
“Florida, ngày 21 tháng 4, 2011. Cám ơn tất cả độc giả đã ái mộ thám tử
Kỳ Phát từ nhiều năm qua”.
Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.
Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.
Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.
Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.
Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.
Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.
Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.
Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.
Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.
Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.
Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.
Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.
Nhị Linh
Aug 16, 2012
chuyện của giang hồ
tôi chống Tàu một cách tự nhiên, chẳng biết chắc vì sao lại
chống, nhưng ghét thì chống, chẳng biết tại sao ghét, nhưng ghét là cứ ghét,
suy nghĩ kỹ thì chắc là vì cái hồi tôi sắp ra đời do chấn động của tình hình
căng thẳng của cuộc chiến tranh biên giới nên nhiều mệt mỏi, chi phối cả cuộc
đời sau này, cái đó gọi là ghét từ trong trứng ghét đi
thành thử tôi rất khoái những gì oánh thẳng vào các trung
khu oanh liệt của văn chương Tàu, thành thử tôi rất khoái Trường An loạn của Hàn Hàn, nó oánh thẳng vào vào truyện chưởng
Tàu, nó xơi tái, bẻ queo những điển phạm
của một cái thứ rất oách, lan truyền rất rộng rãi ngoài biên giới Tàu, nhất là
ở Việt Nam
chưởng cầu tiêu sái,
thì Hàn Hàn đẻ ra một cục thù lù dở hơi dở hám, chả thấy bay bổng gì cả, lại
còn nói luôn là làm quái gì có cái món khinh công, toàn là bịa ra hết cả thôi
Subscribe to:
Posts (Atom)