Mr Tin Văn Nguyễn Quốc Trụ mới thông báo với tôi là trang web của Mr không dùng được nữa. Theo miêu tả thì trang tanvien.net giờ không thấy nút "compose" để post bài đâu. Cũng phải nói thêm là theo miêu tả thì tôi hiểu Mr Tin Văn dùng Nestcape. Theo tôi hiện nay phải trên 80% người sử dụng Internet trên đời nghe "browser" Nestcape Navigator sẽ không biết đó là cái gì. Bánh lái con tàu đã hơi quá cũ.
Tôi cố gắng hướng dẫn Mr Tin Văn mở một trang mới, nhưng có được hay không thì phải đợi xem. Có thế nào thì cũng âu là số trời.
Showing posts with label nguyen-quoc-tru. Show all posts
Showing posts with label nguyen-quoc-tru. Show all posts
Sep 11, 2018
Jan 30, 2016
Sebald: Thành
W. S. Sebald, một nhà văn chịu ảnh hưởng lớn từ Robert Walser người nằm chết bên vệ đường trong tuyết trắng, viết những cuốn tiểu thuyết khủng khiếp, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong văn chương tiếng Đức hậu Kafka, nửa sau thế kỷ XX. Austerlitz, xuất bản năm 2001, dễ làm ta nhầm tưởng là tiểu thuyết lịch sử ngả sang quân sự viết về trận Austerlitz lừng danh. Nhưng "Austerlitz" của Sebald là tên một nhân vật, mà "tôi" (những "tôi" của Sebald bao giờ cũng vô cùng đáng nhớ) tình cờ gặp tại thành phố Anvers nước Bỉ (một "account" khác về Anvers tức Antwerp xem ở đây). Anvers nước Bỉ cũng từng để lại cho chính tôi những hình ảnh mạnh mẽ, về một thành phố có rất nhiều người Do Thái, rất nhiều mảng tường đen và rất nhiều cửa hiệu bán kim cương. Tuy không phải là như vậy (về trận Austerlitz) nhưng Sebald trong Austerlitz lại cũng nói nhiều đến quân sự, đến chiến tranh.
Jan 25, 2016
Văn chương miền Nam: giữa chừng
Văn chương miền Nam đứng khựng lại giữa chừng, giữa đà bay của một con chim tuyệt đẹp, một "cú bay thảng thốt tuyệt mỹ". Lần duy nhất, ta có cả một nền văn chương giống như hóa thạch trong hổ phách. Trước một hóa thạch hổ phách, người ta nên làm gì?
Nên hiểu về hóa thạch, và về hổ phách, tất nhiên. Nhất là sẽ chẳng tích sự gì khi bàn về chuyện nó "bất hạnh" hay không bất hạnh. Những chuyện như thế, tại sao lại phải bàn đến? Cực kỳ vô ích và mất thời gian.
Nên hiểu về hóa thạch, và về hổ phách, tất nhiên. Nhất là sẽ chẳng tích sự gì khi bàn về chuyện nó "bất hạnh" hay không bất hạnh. Những chuyện như thế, tại sao lại phải bàn đến? Cực kỳ vô ích và mất thời gian.
Jan 13, 2016
lại vẫn nhưng
băn khoăn, tôi rất băn khoăn, băn khoăn nhất khi đọc lại chính tôi, một công việc vô cùng khó nhọc, nghiệt ngã nhất trong sự nhìn lại (ví dụ như ở đây); hiểu mình là điều khó nhất, vậy thôi
tôi lại thấy thêm ở đây
ở đây
và ở đây
và nhất là bài viết dưới đây, mà hình như tôi đã không cho lên blog này, khi viết nó vào quãng giữa năm 2010; nó tuyệt đối quan trọng
tôi lại thấy thêm ở đây
ở đây
và ở đây
và nhất là bài viết dưới đây, mà hình như tôi đã không cho lên blog này, khi viết nó vào quãng giữa năm 2010; nó tuyệt đối quan trọng
Thành phố được suy tàn
Oct 7, 2012
Từ tổ tiên đến chúng ta
Sáu, bảy năm trời cho một bộ sách, giờ nhìn thấy nó được tạo hình hoàn chỉnh, thấy vui thì ít hơn là thấy oải. I nostri antenati (Tổ tiên của chúng ta) gồm Nam tước trên cây, Tử tước chẻ đôi và Hiệp sĩ không hiện hữu (thứ tự hơi lệch so với nguyên tác, ở đó Tử tước là tập trước của Nam tước). Quá trình hoàn thành bộ sách này trong tiếng Việt cũng đi cùng với một giai đoạn cực kỳ phức tạp của xuất bản và dịch thuật Việt Nam.
Tôi gặp anh Vũ Ngọc Thăng lần đầu vào năm 2006, tầm tháng Chín tháng Mười gì đó, tại Hà Nội. Trước đó đã có viết email trao đổi, hình như qua giới thiệu của Phạm Thị Hoài, nhưng gặp nhau cũng chẳng nói mấy chuyện; đi theo Italo Calvino hình như toàn những người không nói lắm. Anh Vũ Ngọc Thăng là một trong vài người đang sống ở Canada đóng góp cho dịch thuật tiếng Việt, thuần túy vì văn chương. Hai người nữa là Nguyễn Khánh Long (Vu khống và Lại chơi với lửa) và Nguyễn Quốc Trụ (Istanbul); hình như ba người không ai quen biết ai, và cả ba đều có những trang dịch thần sầu từ mấy tác giả cũng thần sầu, và cũng thuần túy văn chương.
Giữa chừng cuộc thực hiện I nostri antenati xảy ra rõ lắm chuyện, nhất là chuyện thường gặp nhất trong dịch thuật: chậm trễ. Chậm trễ trong thời đại này phải trả giá bằng không biết bao nhiêu lần xin gia hạn bản quyền, muối mặt với người đại diện tác quyền của Italo Calvino. Nhiều khi tưởng chừng như không sao mà hoàn thành cho nổi. Nhưng đã có Nam tước rồi thì nhất định phải có Tử tước, và nếu không có Hiệp sĩ thì cầm chắc những ý đồ to lớn của Calvino sẽ bị thất thoát đi phần nhiều. Hiệp sĩ giống như một ý niệm siêu hình mà nếu không có thì đừng hòng nắm bắt được các tập trước; những tập trước vẫn có thể tồn tại độc lập, nhưng khi ấy chúng sẽ chỉ giống như vài bài tập vui vẻ thông thường, vài ý tưởng lóe sáng thiên tài nhưng chẳng đi đến đâu. Mấy đoạn đầu chương của Hiệp sĩ đã giải thích tất cả: Calvino đã đặt ở đó nhiều hơn cả quan niệm của ông về tiểu thuyết.
Vì Italo Calvino đích thực là một nhà siêu hình học cô độc, cực kỳ hiếm hoi vào thời hiện đại. Người ta hay kể tên các nhà văn Ý danh tiếng gộp Calvino bên cạnh Umberto Eco, nhưng hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Umberto Eco là pop, tuy rằng trong pop cũng lắm thứ đáng ngưỡng mộ, nhưng Eco không có gì chung với một truyền thống Ý siêu hình trầm trọng trong văn chương, kể từ Dante, Boccaccio cho tới Leopardi rồi Sciascia, cộng thêm một Malaparte quái đản.
Lẽ ra nếu mọi chuyện thuận lợi, cách đây hai năm đã có một kỳ hội thảo dài chuyên vào Italo Calvino tại Hà Nội, trong đó có cả kế hoạch mời Pietro Citaci sang nói về Calvino. Nhưng cũng như mọi thứ thuần túy văn chương, ý tưởng thì nhiều, thực hiện được thì ít.
Italo Calvino kế tiếp sẽ là Le città invisibili. Nhưng phải nói rằng các tiểu luận phê bình của Calvino cũng là cả một dòng sông siêu hình thâm trầm kỳ lạ.
Tôi gặp anh Vũ Ngọc Thăng lần đầu vào năm 2006, tầm tháng Chín tháng Mười gì đó, tại Hà Nội. Trước đó đã có viết email trao đổi, hình như qua giới thiệu của Phạm Thị Hoài, nhưng gặp nhau cũng chẳng nói mấy chuyện; đi theo Italo Calvino hình như toàn những người không nói lắm. Anh Vũ Ngọc Thăng là một trong vài người đang sống ở Canada đóng góp cho dịch thuật tiếng Việt, thuần túy vì văn chương. Hai người nữa là Nguyễn Khánh Long (Vu khống và Lại chơi với lửa) và Nguyễn Quốc Trụ (Istanbul); hình như ba người không ai quen biết ai, và cả ba đều có những trang dịch thần sầu từ mấy tác giả cũng thần sầu, và cũng thuần túy văn chương.
Giữa chừng cuộc thực hiện I nostri antenati xảy ra rõ lắm chuyện, nhất là chuyện thường gặp nhất trong dịch thuật: chậm trễ. Chậm trễ trong thời đại này phải trả giá bằng không biết bao nhiêu lần xin gia hạn bản quyền, muối mặt với người đại diện tác quyền của Italo Calvino. Nhiều khi tưởng chừng như không sao mà hoàn thành cho nổi. Nhưng đã có Nam tước rồi thì nhất định phải có Tử tước, và nếu không có Hiệp sĩ thì cầm chắc những ý đồ to lớn của Calvino sẽ bị thất thoát đi phần nhiều. Hiệp sĩ giống như một ý niệm siêu hình mà nếu không có thì đừng hòng nắm bắt được các tập trước; những tập trước vẫn có thể tồn tại độc lập, nhưng khi ấy chúng sẽ chỉ giống như vài bài tập vui vẻ thông thường, vài ý tưởng lóe sáng thiên tài nhưng chẳng đi đến đâu. Mấy đoạn đầu chương của Hiệp sĩ đã giải thích tất cả: Calvino đã đặt ở đó nhiều hơn cả quan niệm của ông về tiểu thuyết.
Vì Italo Calvino đích thực là một nhà siêu hình học cô độc, cực kỳ hiếm hoi vào thời hiện đại. Người ta hay kể tên các nhà văn Ý danh tiếng gộp Calvino bên cạnh Umberto Eco, nhưng hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Umberto Eco là pop, tuy rằng trong pop cũng lắm thứ đáng ngưỡng mộ, nhưng Eco không có gì chung với một truyền thống Ý siêu hình trầm trọng trong văn chương, kể từ Dante, Boccaccio cho tới Leopardi rồi Sciascia, cộng thêm một Malaparte quái đản.
Lẽ ra nếu mọi chuyện thuận lợi, cách đây hai năm đã có một kỳ hội thảo dài chuyên vào Italo Calvino tại Hà Nội, trong đó có cả kế hoạch mời Pietro Citaci sang nói về Calvino. Nhưng cũng như mọi thứ thuần túy văn chương, ý tưởng thì nhiều, thực hiện được thì ít.
Italo Calvino kế tiếp sẽ là Le città invisibili. Nhưng phải nói rằng các tiểu luận phê bình của Calvino cũng là cả một dòng sông siêu hình thâm trầm kỳ lạ.
Feb 2, 2012
Malaparte, Thượng đế etc.
Đây Malaparte:
Trên là Thượng đế đã chết trong thành phố, bản dịch Nguyễn Quốc Trụ, không còn bìa nhưng trông vẫn Vàng Son lắm :p
Dưới là Mặt trời mù, một tiểu thuyết khác của Malaparte, bên cạnh là nguyên bản tiếng Ý.
Nhân Mr. Tin Văn nhắc tới Dieu est né en exil (Thượng đế sinh ra nơi lưu đày) của Horia, nhớ ra tôi từng nói đến nó, search mãi thì ra cái này, viết ngày 29 tháng Năm 2007. Kỳ quặc là đoạn này được viết nhân nói đến Màn của Kundera :p
Tại sao Le Rideau là một cuốn sách không tốt? Là bởi vì so với Kundera nhà viết tiểu luận (Kundera l’essayiste: đề phòng các nhà văn viết tiểu luận nhé. Đặc biệt là giọng điệu áp đặt. Tất nhiên là họ có quyền. Quyền của tài năng, phủ nhận làm sao được. Các trường hợp thuộc dạng này: Nabokov, Calvino, Nguyễn Huy Thiệp) của trước đây Kundera của Le Rideau khác lắm rồi. Nó phản ánh rất chính xác cái vị thế mà một nhà văn không được vinh hạnh chết trẻ nhưng nổi danh từ rất trẻ phải lâm vào (cứ nghĩ Vũ Trọng Phụng 28 tuổi đã kịp làm cả việc rất khó là chết!): đến cuối đời ông ta trở thành một kiểu bù nhìn cho những vinh quang trước đó giật dây. Kundera về cơ bản là không có gì thay đổi trong suốt cả đời (đời này là cái đời tính từ sau khi chàng kịp trốn được thoát khỏi cái danh hiệu nhà thơ ca ngợi Stalin. Bọn phê bình Pháp đểu lắm: khi không chịu đựng nổi mấy cái nhân vật từ xa đến cứ tưởng là chễm chệ ở đó một thời gian ngắn thôi thì hóa ra là cứ đàng hoàng tiên chỉ suốt mãi, chúng nó sẽ chơi thôi. Mới gần đây là hồ sơ chơi gọn cả ba đồng chí Rumani: Cioran, Ioncesco và Eliade, tất tật đều dính dáng đến Đoàn thanh niên Quốc xã ngày xưa. Trong những gì liên quan đến Kundera cũng thế: một luận án tiến sĩ làm ở Thụy Sỹ của Martin Rizek xuất bản mấy năm trước đã lôi tuốt tuột những thứ bị chàng giấu kín tưởng mất tăm mất tích. Hehe, bây giờ mà lục ra được những bài thơ ngày xưa Phạm Thị Hoài viết trong công cuộc chịu sự đào tạo để trở thành Trần Đăng Khoa thứ hai nhể. Những người may mắn không rơi vào trường hợp đó đều là những người có thời gian sống không lâu ở chốn phồn hoa đô hội không thể nào không nhắc đến đó (reference: Hemingway: Paris est une fête. Quel con de fêtard!) Đó là những ai: Tourgueniev, Witord Gombrowicz (đồng chí này sau Ba Lan sống một thời gian dài ở Buenos Aires rồi cuối đời mới sang Paris. Bao giờ Paris cũng cần mấy gương mặt rợ di man mọi cho nó nổi bật. Vua Đồng Khánh như một con khỉ nhé, công chúa Brancovan từ xứ Lỗ Ma Ni nhé. Milosz nhà thơ may mà không sang ở hẳn đó, chứ còn ông anh của đồng chí, cũng nhà thơ – Oskar thì phải – đời có ra gì đâu. Chính Gombrowicz một thời là khuôn mặt Trung Âu nổi bật nhất của Paris, sau khi đã tàn lụi những Kournofski, Maiakovski vân vân và vân vân. Một dạng đại sứ thiện chí/văn hóa của khối các nước láng giềng nhưng xa xa. Khi Kundera lừa lừa chạy khỏi Tiệp mang tiếng sang Rennes dạy học rồi ở lại luôn thì người ta vẫn thích, vì có một người thay thế Gombrowicz. Nhưng thay thì thay cho nó nhanh nhanh chóng chóng, ngờ đâu chàng ở lại luôn một mạch kể từ năm 1981 cho đến giờ, nghĩa là 26 năm phéng nó rồi, thời gian đúng là như bóng câu, không những thế còn lăng nhăng cả lên mấy cái tạp chí như L’Atelier du roman, kết bè kéo cánh đủ mọi loại, và không những thế còn định vươn lên làm nhà văn lớn của tiếng Pháp. Thành ra ba quyển tiểu thuyết gần đây nhất, La Lenteur, L’Identité và L’Ignorance giới phê bình Pháp mang ra bổ cho một trận, quy cho cái tội dốt tiếng Pháp. Mà thật ra tiếng Pháp của Kundera đâu có tồi. Mặc dù nói thì kinh khủng, không thể hiểu đồng chí nói gì, giống kiểu mấy anh dân tộc Tà Lù trên miền núi nói người Kinh chúng ta hiểu làm sao cho nổi bây giờ. Nói đi cũng phải nói lại: mấy quyển đó Kundera khôn kinh, viết toàn câu đơn, mỗi câu như một mệnh đề, từ vựng quanh quẩn, nói chung là giống như trẻ con học sắp xong Abitur viết, nhưng có một cái trí tưởng tượng và lập luận của một ông già. Cũng chính vì hiện tượng kiểu đó một phần nên mới có sự di chuyển tích cực của ba nhân vật kiệt xuất nhất: James Joyce, Elias Canetti và Wladimir Nabokov). Vị thế của Kundera giống như là lưng dựa vào chân tường: nói đi nói lại những điều đã cũ để đỡ mang tiếng nhà văn nhớn mà không mở nổi miệng. Lại còn phải tích cực theo dõi tình hình tendency xem cái gì trendy thì theo ngay. Mà theo không phải lối nghiên cứu tích cực tìm tòi ý tưởng mới mẻ lần tìm về tận nguồn mà cứ búa bổ nói như phán bảo, như rút từ một quyển từ điển bách khoa toàn thư tầm vũ trụ ra. Thời gian ngay trước khi Le Rideau ra đời ở Pháp đang có phong trào theo lối sách của Pascale Casanova, La République mondiale des Lettres, các khoa văn học so sánh Sorbonne đang tìm đến một tầm khái quát hóa cao độ, văn chương thế giới etc. Thế nên có Weltliteratur. Goethe lại được phục sinh. Phía sau bức tường của các nghiên cứu hàn lâm người ta bắt đầu sờ đến các vấn đề như là bắt đầu và kết thúc của văn bản, của tác phẩm, và của văn chương. Thế nên Rimbaud ngóc đầu dậy. Thế là chàng cũng… Vấn đề là những cái kia mấy ai biết, còn Kundera đã viết thì nhiều người đọc. Một mẻ lưới chàng lười của chúng ta quơ được không biết bao nhiêu cá. Kundera là một người đầy chiến lược. Phải theo dõi từng bước cuộc đời của đồng chí mới có thể thấy được. Dĩ nhiên là Kundera đầy tài năng, đầy năng lực, và đầy sự tò mò trí thức. Nhưng nhiều cái chàng có được là nhờ tính toán chính xác. Kundera đang ở chỗ đó: một nhà văn già trở nên bảo thủ và hay nói lại những gì đã nói, nhưng vẫn cố gắng tạo ra một thứ mà anh giai ác khẩu Frédéric Badré (chính ra tôi rất quý đồng chí này) gọi là “chủ nghĩa phản chính thống thời thượng” (trong bản dịch tiếng Việt dịch ra một cách hết sức nhố nhăng là “chủ nghĩa theo thời phái sinh” hốc hốc). Một trong những quyển gần đây nhất tôi có xem qua, Les Revenances de l’histoire của Hamel (mấy đồng chí chuyên nghiệp chú ý: đây là quyển sách chứng minh một cách hết sức chặt chẽ rằng các thứ lý thuyết rất hot cho đến tận bây giờ, và sẽ còn hot ở Việt Nam trong thời gian tới, cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta bẽ bàng nhận ra là mình lại chậm chân mất rồi, đã xong rồi, và cũng đã kịp sai rồi. Tất nhiên sai đúng cần phải hiểu đừng chân phương quá. Các thứ tiểu tự sự bây giờ không còn ở trung tâm nữa, nó quay trở về chỗ vốn có của nó: bên lề. Và tiếp tục rình rình đến lúc nào đó sự buồn chán của người ta lên đến cao độ thì lại nhảy vào. Nhìn chung mọi thứ sẽ cứ như thế thôi. Cái giỏi của người theo dõi là biết được lúc nào là lúc nào. Yes. Còn không thì đến giờ vẫn cứ xưng tụng Bakhtine là thánh nhân. Tôi chả có gì nghi ngờ sự hâm mộ thực sự một số người đặt vào một số chỗ, và ý nghĩa dài lâu của một số học thuyết, nhưng hâm mộ thì cũng phải biết được thực sự là chúng nó đang ở đâu) nói đến một ý thế này: người nào cũng ra sức phát ra những diễn ngôn theo kiểu tôi ở ngoài lề tôi hẻo lánh lắm… Vấn đề này cần suy nghĩ thêm, giờ chỉ làm reference thế thôi.
Tại sao Le Rideau là không tốt (sẽ còn quay trở lại sâu hơn để đi vào văn bản một cách chính danh. Bây giờ lười đứng lên lấy sách trên giá quá. Thật ra là không rõ nó nằm ở đâu nữa. Sách này tôi đọc vài ngày sau khi in. Sau này còn nhìn thấy một quyển có chữ ký tặng của đồng chí Kundera. Ghét nhất là cái thói huyền thoại hóa vô thức thể hiện qua lối gọi tên: Kun, Che…)
Giờ thì chỉ tạm thời thế này thôi. Thêm bonus một cái cuối cùng: trước đây người ta quý Kundera còn ở chỗ đồng chí khai quật mấy Broch, Musil (Kafka thì khỏi kể, trong những năm 50, trước khi Kundera kịp nhớn để thoát khỏi cái bóng của Stalin, Alexandre Vialatte đã có những bản dịch kinh điển, và sau đó Marthe Robert, rồi Roland Barthes đã kịp chiêu tuyết nặng đô cho Kafka rồi). Tôi còn bị lừa, đâm đầu đọc Les Somnambules của Broch, chán suýt ngất. Chính ra cái hay chắc phải là La Mort de Virgile. Đến đây lại là chiều ngược lại của sự dịch chuyển các nhân vật kiệt xuất của Đông và Trung Âu sang Tây Âu (nhớ lại chi tiết “xuất khẩu các nhà thơ trữ tình” từ Tiệp ra nước ngoài nhé): các đồng chí ở các chốn hẻo lánh (có ai biết quê của Cioran, Sibiu, là nằm ở đâu không?) rất hay quan tâm đến các ông lớn ở các chốn trung tâm: ngoài Broch viết La Mort de Virgile như vừa nói còn có Horia, một Lỗ Ma Ni nhân, viết Le dieu est né en exile về đời Horace (đồng chí đại thi sĩ này bị hoàng đế nào đày đi ấy nhỉ, Claude à?) Hoặc gần đây là Hồ Anh Thái với cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi (sẽ có entry riêng về cái vụ vui vẻ này).
-----------
Tôi vẫn muốn có quyển này, vẫn chờ được tặng hehe.
Bonus:
Apr 27, 2010
Chú ý, kiệt tác
Tôi thấy chán ốm cả người khi đọc Tên tôi là Đỏ, nhưng Istanbul quả đúng là một kiệt tác khỏi cần bàn cãi, cuốn sách, như mọi kiệt tác văn chương, duyệt lại quá khứ bằng một cái nhìn hiện tại không giống với bất kỳ cái nhìn nào đã từng có. Với Orhan Pamuk, nước Thổ đã có thiên tài văn chương của họ. Cũng giống như nhiều thiên tài văn chương khác, nhất là ở các nước nhỏ, địa vị của Pamuk luôn chênh vênh trên một lằn ranh giữa ngưỡng mộ và khinh thị, ghen tị, nhất là khi tư tưởng chính trị của Pamuk là tư tưởng chống đối, nhất là chống mọi biểu hiện Hồi giáo cực đoan.
Với một người có đầu óc tự do, sống ở một nước Hồi giáo thật không dễ. Một nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ lại càng không làm cho mọi việc dễ dàng hơn. Chương "Chinh phục hay Suy tàn? Constantinople trở thành Thổ Nhĩ Kỳ" gợi lại quá khứ hỗn hợp Byzance và Ottoman, cùng một lời chỉ trích mạnh mẽ hướng vào nhà nước hồi các sự kiện bạo loạn những năm 1950: "Sau này, như người ta được biết, những kẻ tổ chức cuộc nổi loạn - cơn kinh hoàng kéo dài hai ngày, biến thành phố thành một địa ngục, hơn tất cả những cơn ác mộng Đông phương, khủng khiếp nhất, tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra - đã được sự hỗ trợ của nhà nước, và nhà nước đã làm lễ chúc phúc cho chúng, trước khi chúng ra quân, trong cuộc cướp phá khủng khiếp này" (tr. 259).
Với một người có đầu óc tự do, sống ở một nước Hồi giáo thật không dễ. Một nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ lại càng không làm cho mọi việc dễ dàng hơn. Chương "Chinh phục hay Suy tàn? Constantinople trở thành Thổ Nhĩ Kỳ" gợi lại quá khứ hỗn hợp Byzance và Ottoman, cùng một lời chỉ trích mạnh mẽ hướng vào nhà nước hồi các sự kiện bạo loạn những năm 1950: "Sau này, như người ta được biết, những kẻ tổ chức cuộc nổi loạn - cơn kinh hoàng kéo dài hai ngày, biến thành phố thành một địa ngục, hơn tất cả những cơn ác mộng Đông phương, khủng khiếp nhất, tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra - đã được sự hỗ trợ của nhà nước, và nhà nước đã làm lễ chúc phúc cho chúng, trước khi chúng ra quân, trong cuộc cướp phá khủng khiếp này" (tr. 259).
Subscribe to:
Posts (Atom)