Mar 15, 2012

Chị Thu Hồng nói

Đây là nhà báo Thu Hồng nói, liên quan đến tôi. Tôi rất cảm kích và cám ơn, tôi nhìn thấy thiện ý bên trong những lời của chị. Lời khuyên về giải pháp của chị tôi cũng sẽ cân nhắc, coi như là một lựa chọn nữa (thêm vào những lựa chọn mà tôi đã nghĩ đến).

Nhưng trong những gì nhà báo Thu Hồng nói cũng có chút nhầm lẫn (ngoài nhầm lẫn nho nhỏ khi viết "cour miễn phí": đúng phải là "cours miễn phí"). Theo như chị Thu Hồng viết thì như thể tôi đã "viết một bài trả lời Tiền vệ" liên quan đến loạt bài mới đây của Hà Thúc Lang. Chắc chị Thu Hồng muốn nói đến cái này. Cái "thư ngỏ" này hoàn toàn không liên quan, vì nó thuộc về một vụ khác, với nhân vật Vi Văn Tuyên. Và nó cũng không phải là thứ duy nhất, vì sau khi đã đáp lại những điểm Vi Văn Tuyên nêu ra (ở đây, đây, và đây), tôi mới viết thư đó (có thể tham khảo thêm cái này), chứ không phải nói khẩu thiệt vô bằng. Nó có "tầm bậy" hay không thì tôi không biết, tôi chỉ nói những gì mà tôi nhìn thấy.

Tôi cũng không "im lặng" như chị Thu Hồng nói. Tôi chưa nói gì không có nghĩa là tôi im lặng luôn. Trước hết là tôi hết sức biết ơn người tỉ mỉ chỉ ra những chỗ mà họ cho là tôi dịch sai. Những người chữ nghĩa biết điều gì là đáng quý trong các phê phán lẫn nhau. Nhưng tôi cũng cần thời gian để xem từng chỗ một. Lời cảm ơn tôi gửi trước, bàn luận sẽ để sắp tới đây. Tôi không bắt đầu việc này sớm hơn được vì cho đến hôm nay một công việc quan trọng của tôi mới hoàn thành: chiều nay đã diễn ra suôn sẻ buổi ra mắt bản dịch Lolita của dịch giả Dương Tường, tôi mới bỏ được một gánh nặng, với tư cách người biên tập cho cuốn sách. Bản dịch mang rất nhiều công sức và kỳ vọng của một người bạn đã xong, giờ tôi có thể quay sang việc khác.

Tôi luôn luôn ý thức được rằng chữ nghĩa là quý phẩm nhưng chữ nghĩa cũng là cạm bẫy, rằng hiểu cho đến cùng từ ngữ cũng khó như hiểu một con người. Cẩn thận đến đâu cũng là không thừa, và cẩn thận đến đâu cũng là không đủ.

Mar 13, 2012

Những nhà thơ trở lại

Cái mệnh đề “Việt Nam một cường quốc thơ” mới xuất hiện nhưng có vẻ đã được số đông ngầm thừa nhận trong sự hân hoan chung, tuy nhiên cái mệnh đề ấy có vẻ chông chênh, khó đứng vững nếu nhìn vào cách “cường quốc thơ” đối xử với một số nhà thơ của quá khứ, những phần khúc khuỷu, khó nhọc và khuất lấp của di sản thơ Việt Nam. Khi mà các nhà thơ như Vũ Hoàng Chương, Ngân Giang hay Nguyễn Bắc Sơn vẫn còn chìm trong sự hờ hững của giới thưởng ngoạn và giới nghiên cứu hiện nay, thì tình trạng cũng phi lý giống như giả sử Baudelaire, Bishop hay Ungaretti bị các quốc gia của họ bỏ quên trong góc thờ ơ vào thời hiện tại.

Thế nhưng, các nhà thơ quá khứ, bởi sức mạnh nội tại của mình, vẫn trở lại, và nếu Bùi Giáng trở lại dưới hình thức một dòng lũ ồ ạt ngôn từ (tập “Đười ươi chân kinh”), thì Quang Dũng (tập “Mắt người Sơn Tây”) và Phùng Cung (tập “Xem đêm”) trở lại gây chú ý bởi một khía cạnh hoàn toàn trái ngược: họ nổi bật vì kiệm lời đến đáng ngạc nhiên.

Cho đến nay, nhiều bài thơ của Quang Dũng đã được phổ nhạc, lẽ dĩ nhiên độc giả thơ ở Việt Nam biết đến ông không ít, Quang Dũng của “Mây đầu ô”, của “Em mãi là hai mươi tuổi/Ta mãi là mùa xanh xưa”… nhưng thật ít người nói được về tổng thể sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng là như thế nào. Quang Dũng có “Chiêu Quân” từ ngay năm ông 16 tuổi (năm 1937), một bài thơ đẹp lung linh: “Hồ xang hồ xang xự hồ xang/Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng”, thế nhưng sau khởi đầu vô cùng hứa hẹn, ông lại không làm nhiều thơ. Điều đặc biệt ở Quang Dũng là đã không làm nhiều thơ như các đồng nghiệp, rất nhiều bài làm rồi ông lại không công bố, dù rằng giờ đây khi đọc, ta có thể thấy những bài thơ mà tác giả “giấu đi” ấy không hề tồi. Tâm hồn thơ Quang Dũng bay bổng (“Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”) nhưng sự bay bổng ấy không làm giảm bớt đòi hỏi nghiệt ngã mà chính ông hướng vào bản thân mình. Điều ấy có lẽ đóng góp một phần quan trọng làm nên căn cốt một nhà thơ độc đáo bậc nhất thơ ca hiện đại Việt Nam, cái giọng thơ lúc nào cũng một mực hướng tới sự trong vắt của những tầng mây sạch.

Mar 12, 2012

Sách (LV) Thêm Malaparte

Hóa ra Malaparte đã có khá nhiều trong tiếng Việt. Đây là quyển thứ ba của Malaparte mà tôi tìm được (chú ý trên bìa ghi tên thành Malaparto), không ghi tên dịch giả mà ghi tên nhà xuất bản:



Còn đây là hai bản dịch cùng một cuốn sách. Hồi trước Mr Tin Văn còn dịch quyển nào nữa không?






Mar 10, 2012

vẫn lạnh


Điều gì làm cho cuộc sống ở Hà Nội đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn hơn, ngoài chuyện thời tiết giai đoạn này cứ ba ngày hửng nắng lại bốn ngày gió mùa Đông Bắc mưa dầm dề, ngoài chuyện xăng đột ngột tăng giá và nhiều tuyến phố trong trung tâm không thể đỗ xe được nữa?

Đó chính là chuyện không chuyên.

Người Hà Nội quen buôn bán lâu năm, khéo léo và tinh tế, nhiều bà chủ bán hàng để ý quản nhân viên tới mức chỉ cần nhân viên đưa đồ cho khách bằng một tay hay lỡ miệng nói câu nào không đủ kính ngữ là chấn chỉnh ngay, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Khu vực phố cổ vẫn còn rất nhiều quán ăn nhỏ bé gọn gàng, thậm chí chỉ một bàn xếp trên vỉa hè mà ngăn nắp sạch sẽ tuyệt đối, vợ làm đồ ăn chồng bưng bê phục vụ, thân tình mà không suồng sã, kín đáo mà không xa cách. Đó là cả một nghệ thuật, một sự chuyên nghiệp được rèn luyện qua nhiều đời. Sự chuyên nghiệp trong phục vụ người khác.

Nhưng chuyển sang hình thức kinh doanh lớn thì người Hà Nội chưa quen, những ưu điểm lâu đời bỗng biến đi đâu hết cả, gây ra sự bực bội kinh khủng cho người nơi khác đến, cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài, vốn dĩ chưa thể tìm ngay đến được những quán xá nền nếp, chỉn chu nhưng thường ngõ ngách chật chội, tồn tại từ bao đời nay.

Mar 9, 2012

nói như thật

Nguyễn Thanh Sơn viết bài "Bóng tối nào, và Chảy về đâu" liên quan đến tiểu thuyết Chảy qua bóng tối của Đỗ Phấn.

Câu đầu tiên của bài viết như thế này: "Đối với các nhà văn Hà Nội, vùng đất bãi ven sông Hồng có sức cám dỗ không khác gì những đại lộ ngoại vi đối với các nhà văn Paris". Nói như vậy tức là "những đại lộ ngoại vi" là đề tài ta hay thấy trong văn học Pháp, cụ thể là trong tác phẩm của các nhà văn Paris. Tôi nghĩ mãi mới nhớ ra được Les Boulevards de ceinture, cuốn tiểu thuyết thứ ba của Patrick Modiano, được Dương Tường dịch ra tiếng Việt thành Những đại lộ ngoại vi, in cách đây cỡ trên dưới chục năm. Moi móc đầu óc nữa thì nhớ ra được tên một quyển tiểu thuyết mới hơn, Le Boulevard périphérique (Đại lộ vành đai) của Henry Bauchau, nhận một giải thưởng văn chương nào đó cách đây vài năm.

Sách (LIV) Chữ ký

Có được sách từng ở trong tủ nhà Vương Hồng Sển là một niềm vinh hạnh. Ví dụ như thế này:


 

Cám ơn chuyên gia về Vương Hồng Sển :p

Còn sách ký tặng nhau giữa các nhân vật cũng là một mảng kỳ thú:




Mar 7, 2012

Mở rộng vấn đề thi thoại

Nhân vừa kiếm được cuốn sách Úc Viên thi thoại của Đông Hồ Lâm Kỳ/Tấn Phác, tôi nhớ đến việc đã bàn mấy lần về vấn đề "thi thoại" ở Việt Nam.

Vu Gia khi viết về Phan Khôi như tôi đã trích dẫn trong một bài viết nói rằng Chương Dân thi thoại là cuốn "thi thoại" đầu tiên của Việt Nam. Nhưng theo như Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng (à mà bác ấy đã xong tiến sĩ chưa nhỉ :p) trong bài viết này, thì trước đây Miên Thẩm có thể đã có Thương Sơn thi thoại. Nếu điều này đúng thì đương nhiên mọi khẳng định rằng Chương Dân thi thoại là cuốn thi thoại đầu tiên tại Việt Nam là sai. Tất nhiên, theo như trình bày của Nguyễn Thanh Tùng, văn bản Thương Sơn thi thoại nằm ở thư viện tư gia của Cao Xuân Dục (thư viện Long Cương), mãi sau này mới được tìm ra và nói đến.

Vấn đề tạm bỏ qua một bên, tôi chú ý đến Úc Viên thi thoại vì nghĩ trong sách thế nào cũng có ý nào đó về "thi thoại". Và quả nhiên là có. Cuốn sách in năm 1969 (NXB Mặc Lâm, Yễm Yễm thư xã làm tổng phát hành), sau khi Đông Hồ đã qua đời, nhưng đã được tác giả "tuyển chọn và đóng thành tập hai hôm trước ngày đi vào cõi vĩnh viễn", như trong sách có ghi. Sau "Tiểu sử tác giả" là "Tựa" của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, bạn thân của Đông Hồ, và đọc lời "Tựa" này theo tôi đã ngã ngũ tại sao nhiều người khẳng định Chương Dân thi thoại là cuốn thi thoại đầu tiên của Việt Nam.

Nguyễn Hiến Lê viết:

"Loại đó [tức thi thoại] rất ít người viết: đời Đường, đời Tống, mỗi đời dài mấy trăm năm mà trong văn học sử chỉ ghi lại độ dăm tập thi thoại. Ở nước ta từ trước tới nay chỉ có mỗi một tập của Chương Dân" (tr. XIII).

Nhận định này, rất khó biết là của Nguyễn Hiến Lê, một cách độc lâp, hay Nguyễn Hiến Lê nói dựa theo lời khẳng định chắc nịch của Phan Khôi trước đây.

Đây là đoạn Nguyễn Hiến Lê ca ngợi Đông Hồ:

"Từ trước tôi vẫn lấy làm lạ: trong số các nhà văn thời Nam Phong, chỉ duy có  Đông Hồ là văn, thơ đều hay, nhất là văn có đủ giọng: đẹp đẽ như văn Lục Triều; có đoạn bình đạm, cổ kính như văn Đường Tống; có chỗ lại tự nhiên, thân mật như văn hiện đại, mà luôn luôn thanh nhã. Vậy thì còn ai đủ điều kiện hơn ông để viết thi thoại?" (tr. XV).

-----------

Hóa ra Đông Hồ còn có một biệt hiệu là Nhị liễu tiên sinh, gốc tích giống hệt Ngũ liễu tiên sinh Đào Tiềm, đại khái trước nhà trồng hai cây liễu nên gọi là Nhị liễu tiên sinh :p

Các bác Hán-Nôm cho hỏi chính xác thì "úc" trong "Úc Viên" nghĩa là gì? Bài đặt ở đầu tập của Mộng Tuyết thất tiểu muội chỉ nói cô gái tên là Út, muốn đặt tên vườn nhà là "Út Viên" nhưng nhà nho được hỏi ý kiến thấy chữ Hán không có "út" nên thuyết phục đổi thành "úc" vì ý nghĩa hay lắm, nhưng hay thế nào thì chả nói :(

-----------

À mà quên đấy, chính tôi còn có một chứng tích huy hoàng nữa của "thi thoại Việt Nam" mà quên béng mất: tập Thi thoại của Văn Hạc (tức Lê Văn Hòe) in năm 1942 tại Quốc Học thư xã trong "Tủ sách Nghệ thuật". Cái này bây giờ hay được gọi là "hàng tiền chiến" :p Tất nhiên quyển này in sau Chương Dân thi thoại, nhưng trong những gì tôi đọc về "thi thoại" thì sau này người ta hình như nghĩ đương nhiên trước 1945 chỉ có Chương Dân thi thoại và một cái hao hao là Thi tù tùng thoại (Huỳnh Thúc Kháng). Thậm chí có người còn nói trước 1945 chỉ cần có hai quyển kia, cùng Thi nhân Việt Nam là biết hết được thơ ca Việt Nam. Giá mà được như thế thật :p

Chú thích cuối sách: "Ngoài những "tắc" đã đăng trong báo "Công-Luận" (Saigon) và "Việt-Báo" từ năm 1935 tới 1939, trong cuốn này, có một "tắc" đã đăng "Báo mới", một "tắc" đã đăng trong "Trung Bắc Chủ Nhật" năm 1941 và nhiều "tắc" mới viết, chưa từng đăng báo nào."

-----------

Giờ mở rộng hẳn phạm vi nhé: đúng là có tìm có hơn:

- Trong bài này, Hàm Đan Trần Hoàng Hoàng cho rằng Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng chính là "thi thoại" đầu tiên của Việt Nam. Cùng ý kiến này là bài rất dài của Đào Văn Khởi. Giá kể đồ nho Trần Quang Đức cho ý kiến về vụ này thì hay quá :p

- Trần Thanh Đạm nói Trần Mai Châu cũng viết thi thoại.

- Nguyễn Hưng Quốc viết: "trong nửa đầu thế kỷ 20, truyền thống thi thoại vẫn còn khá phổ biến ở Việt Nam". Ái chà, đến Phan Khôi còn tự nhận mình là người đầu tiên viết thi thoại ở Việt Nam, thế thì cái "truyền thống thi thoại" (vẫn còn trong nửa đầu thế kỷ 20, tức là trước đó còn rõ nét hơn) ở đâu ra?

- Cá biệt còn có cả Bắc Ninh thi thoại :p